Điểm mới của Nghị định 45 và 46/2007/NĐ-CP về bảo hiểm
9:5' 22/5/2007
Gia nhập WTO, cùng với việc triển khai các cam kết của mình, Việt Nam đang tích cực hoàn thiện hệ thống pháp luật trong nhiều lĩnh vực, trong đó có ngành bảo hiểm.

Với các nguyên tắc: tạo môi trường pháp lý, kinh doanh bình đẳng, đổi mới phương thức quản lý, đơn giản hoá thủ tục hành chính, đảm bảo sự phù hợp với hệ thống các văn bản pháp luật hiện hành có liên quan, cụ thể hóa các cam kết hội nhập quốc tế, đồng thời đảm bảo nguyên tắc cụ thể hoá các quy định trong LKDBH, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bên mua bảo hiểm và người thứ ba, tăng cường sự kiểm soát các giao dịch bảo hiểm của Nhà nước bằng pháp luật, sau nhiều lần lấy ý kiến công khai, chỉnh sửa và hoàn thiện, ngày 27/3/2007, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã chính thức ký ban hành Nghị định 45và 46/2007/NĐ-CP thay thế Nghị định 42/2001/NĐ-CP ngày 01/8/2001 quy định chi tiết một số điều của LKDBH và Nghị định 43/2001/NĐ-CP ngày 01/8/2001 quy định chế độ tài chính đối với doanh nghiệp bảo hiểm và doanh nghiệp môi giới bảo hiểm.

Nghị định 45/2007/NĐ- CP

Bỏ toàn bộ quy định về chính sách của Nhà nước với chương trình bảo hiểm phục vụ mục tiêu phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, và chính sách của Nhà nước với doanh nghiệp nhà nước tại Điều 2, 3 nghị định 42 và thay bằng quy định về chính sách phát triển thị trường bảo hiểm. Sở dĩ có sự thay đổi này vì thực tế cho thấy quy định này của Nghị định 42 chỉ mang tính hình thức mà không được áp dụng trong thực tiễn. Mặt khác, theo giải trình của Ban soạn thảo nghị định mới, việc tổ chức, sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà nước theo tinh thần chiến lược phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam từ năm 2003 đến 2010 thì quy định riêng về chính sách của Nhà nước đối với các doanh nghiệp nhà nước là không còn phù hợp, thể hiện sự cạnh tranh không lành mạnh, vô hình chung tạo sự quy định không bình đẳng giữa các doanh nghiệp trên cùng thị trường và trái với các nguyên tắc của WTO.

Bổ sung quy định loại hình sản phẩm bảo hiểm liên kết đầu tư thuộc các nghiệp vụ quy định tại Điều 7 LKDBH. Quy định này rất cần thiết đặc biệt khi mà thị trường chứng khoán đang diễn ra khá mạnh mẽ và trở thành nhu cầu không thể thiếu của nền kinh tế như hiện nay. Mặt khác, bản thân các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ cũng đang chuẩn bị triển khai nghiệp vụ bảo hiểm này.

Bỏ quy định tại Điều 7 và Điều 43 Nghị định 42 về lệ phí cấp giấy phép thành lập và họat động của doanh nghiệp bảo hiểm vì theo quy định của Pháp lệnh phí và lệ phí thì những vấn đề này được quy định trong một nghị định riêng của Chính phủ. Do vậy, việc bỏ quy định này là hoàn toàn phù hợp tránh việc quy định chồng chéo về pháp luật.

Bổ sung quy định về điều kiện cấp giấy phép thành lập và hoạt động doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm theo các nhóm điều kiện quy định tại Điều 63 LKDBH đồng thời quy định thêm các tiêu chuẩn đối với các tổ chức, cá nhân tham gia góp vốn thành lập doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm (xem Điều 6, Nghị định 45) nhằm đảm bảo nguyên tắc công khai, minh bạch, thận trọng, ưu tiên chủ đầu tư có năng lực tài chính và có cam kết hoạt động lâu dài tại thị trường bảo hiểm Việt Nam.

Bổ sung quy định về hồ sơ, thủ tục cấp giấy phép và hoạt động cho doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm tại Điều 7. Nếu như Nghị định 42 không đề cập đến vấn đề này mà chỉ áp dụng Điều 64 LKDBH thì Nghị định 45 đã đề cập rất chi tiết và cụ thể, theo đó, hồ sơ xin cấp Giấy phép thành lập và hoạt động không chỉ thực hiện theo Điều 64 LKDBH mà còn theo quy định tại Luật doanh nghiệp và các văn bản hướng dẫn thi hành.

Nghị định 45 có sửa đổi căn bản quy định về tổ chức hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm đồng thời bổ sung quy định về tổ chức hoạt động của doanh nghiệp môi giới bảo hiểm. Cụ thể nếu như Điều 10 Nghị định 42 quy định hình thức tổ chức hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm theo từng loại hình Tổng Công ty nhà nước, doanh nghiệp nhà nước khác, công ty cổ phần bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm có vốn đầu tư nước ngoài thì tại Điều 10 Nghị định 45 đã quy định gộp chung việc tổ chức hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm bao gồm:

1. Trụ sở chính;

2. Chi nhánh, sở giao dịch, hội sở, công ty thành viên hạch toán phụ thuộc (được gọi là chi nhánh) trực thuộc doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm;

3. Văn phòng đại diện;

4. Địa điểm kinh doanh, phòng giao dịch.

Việc quy định thống nhất trong tổ chức hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm tại nghị định mới đảm bảo được tính công bằng đối với tất cả các loại hình doanh nghiệp, phù hợp với thực tế hoạt động hiện nay của các doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm cũng như xu hướng phát triển trong thời gian tới.

Nghị định 42 chỉ dừng lại ở việc quy định rất thông thoáng là mọi doanh nghiệp bảo hiểm có quyền mở chi nhánh thì Nghị định 43 đã bổ sung quy định về điều kiện mở chi nhánh, văn phòng đại diện, theo đó, doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm phải đáp ứng các điều kiện sau:

1. Vốn điều lệ thực có phải đảm bảo theo quy định của Bộ Tài chính;

2. Bộ máy quản trị, điều hành và hệ thống kiểm tra, kiểm soát nội bộ hoạt động có hiệu quả;

3. Không vi phạm nghiêm trọng các quy định của pháp luật trong 3 năm liên tục ngay trước năm nộp hồ sơ. Doanh nghiệp bảo hiểm không vi phạm quy định về khả năng thanh toán;

4. Có Quy chế tổ chức và hoạt động của Chi nhánh, Văn phòng đại diện;

5. Người điều hành chi nhánh, văn phòng đại diện có kinh nghiệm và kiến thức chuyên môn về hoạt động kinh doanh bảo hiểm và thông thuộc các đối tượng bị cấm theo quy định của pháp luật.

6. Có hồ sơ xin mở Chi nhánh, Văn phòng đại diện theo quy định.

Sửa đổi và bổ sung quy định cụ thể về người quản trị, điều hành doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm tại Điều 13. Việc quy định mới này mở rộng hơn so với Nghị định 42 (chỉ quy định đối với Chủ tịch Hội đồng quản trị và Tổng giám đốc) và chặt chẽ, cụ thể hơn bởi đã lượng hóa được một số tiêu chuẩn về những người giữ chức vụ quan trọng này.

Bổ sung yêu cầu về kiểm tra, kiểm toán nội bộ để đảm bảo việc tự giám sát về hoạt động tài chính, hoạt động nghiệp vụ của doanh nghiệp bảo hiểm tại Điều 15 nghị định 45. Cụ thể:

1. Doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm phải xây dựng, triển khai và giám sát việc thực hiện các quy chế phân công trách nhiệm trong nội bộ doanh nghiệp; quy trình nghiên cứu phát triển sản phẩm, khai thác, thẩm định, bồi thường, tái bảo hiểm và các quy trình nghiệp vụ khác theo quy định của pháp luật.

2. Doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm phải lập hệ thống kiểm tra, kiểm soát nội bộ bảo đảm doanh nghiệp bảo hiểm hoạt động an toàn và đúng pháp luật.

3. Doanh nghiệp bảo hiểm phải thường xuyên kiểm tra việc chấp hành đúng pháp luật, các quy trình nghiệp vụ và quy định nội bộ; trực tiếp kiểm tra, kiểm soát các hoạt động nghiệp vụ trên tất cả các lĩnh vực tại trụ sở chính, chi nhánh, văn phòng đại diện và các địa điểm kinh doanh nhằm đánh giá chính xác kết quả hoạt động kinh doanh và thực trạng tài chính của doanh nghiệp.

4. Kết quả kiểm tra, kiểm soát nội bộ phải được lập thành văn bản và lưu giữ tại doanh nghiệp.

Đưa quy định về chuyên gia tính toán được chỉ định tại thông tư 98/2004/TT-BTC vào nghị định mới (xem Điều 14 Nghị định 45) đồng thời bổ sung quy định về kiểm tra, kiểm toán nội bộ để đảm bảo việc tự giám sát về tài chính, hoạt động nghiệp vụ của doanh nghiệp bảo hiểm (xem Điều 15 Nghị định 45).

Bổ sung quy định về chia tách, hợp nhất, sáp nhập, mua, bán doanh nghiệp, chuyển nhượng phần vốn góp đối với doanh nghiệp bảo hiểm và doanh nghiệp môi giới bảo hiểm tại Điều 16 Nghị định 45 (Nghị định 42 không quy định). Điều luật này quy định việc chia tách, hợp nhất sáp nhập, mua, bán doanh nghiệp, chuyển nhượng từ 10% số vốn điều lệ trở lên của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm phải bảo đảm các điều kiện: doanh nghiệp hoạt động ổn định; không làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bên mua bảo hiểm, người lao động và Nhà nước; tuân thủ các quy định của pháp luật có liên quan; có sự chấp thuận bằng văn bản của Bộ Tài chính.

Xuất phát từ tầm quan trọng của việc kiểm soát hoạt động khai thác bảo hiểm mà Nghị định 45 đã dành hẳn mục 3 gồm 6 điều quy định về vấn đề này trong khi Nghị định 42 chỉ quy định chung chung. Đặc biệt điểm khác biệt rõ nhất giữa nghị định mới và nghị định cũ là ở chỗ nghị định mới bổ sung quy định rất cụ thể về điều kiện đối với các quy tắc, điều khoản biểu phí do doanh nghiệp bảo hiểm tự xây dựng phải đảm bảo các yếu tố sau:

1. Tuân thủ pháp luật; phù hợp với thông lệ, chuẩn mực đạo đức, văn hóa và phong tuc, tập quán của Việt Nam.

2. Ngôn ngữ sử dụng trong quy tắc, điều khoản bảo hiểm phải chính xác, cách diễn đạt đơn giản, dễ hiểu. Đối với thuật ngữ chuyên môn cần xác định rõ nội dung, thì phải định nghĩa rõ trong quy tắc, điều khoản bảo hiểm;

3. Thể hiện rõ ràng, minh bạch quyền lợi có thể được bảo hiểm, đối tượng bảo hiểm, phạm vi và các rủi ro được bảo hiểm, quyền lợi và nghĩa vụ của bên mua bảo hiểm và người được bảo hiểm, trách nhiệm của doanh nghiêp bảo hiểm, điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm, phương thức trả tiền bảo hiểm, các quy định về giải quyết tranh chấp;

4. Phí bảo hiểm phải được xây dựng dựa trên số liệu thống kê, đảm bảo khả năng thanh toán của doanh nghiệp bảo hiểm và phải tương ứng với điều kiện và trách nhiệm bảo hiểm.

Việc bổ sung quy định này là hoàn toàn hợp lý đảm bảo tính minh bạch, rõ ràng, bảo vệ quyền lợi chính đáng của bên mua bảo hiểm bao gồm cả người được bảo hiểm và người thụ hưởng. Điều này xuất phát từ đặc điểm hợp đồng bảo hiểm là hợp đồng gia nhập, theo đó bên mua bảo hiểm không được thỏa thuận về điều khoản bảo hiểm mẫu do doanh nghiệp bảo hiểm đưa ra, khi bên mua bảo hiểm chấp nhận mua bảo hiểm là họ đương nhiên phải chấp nhận những nội dung của điều khoản bảo hiểm mẫu đó.

Bỏ quy định tái bảo hiểm bắt buộc, nhượng tái bảo hiểm tại Điều 22 và Điều 23 Nghị định 42 vì theo cam kết tại Hiệp định thương mại Việt - Mỹ, sau 5 năm kể từ ngày Hiệp định này có hiệu lực, Việt Nam phải bỏ quy định về tái bảo hiểm bắt buộc từ ngày 10/12/2006.

Bỏ Điều 34, 35 và 36 Nghị định 42 quy định về các loại hình doanh nghiệm môi giới bảo hiểm, cấp giấy phép thành lập và hoạt động, nguyên tắc hoạt động môi giới bảo hiểm do nghị định mới đã quy định chung những nội dung này tại chương II (Doanh nghiệp bảo hiểm và doanh nghiệp môi giới bảo hiểm).

Tạo sự bình đẳng giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài bằng việc bãi bỏ quy định tỷ lệ góp vốn trong doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm liên doanh tại Điều 38 nghị định 42.

Nghị định 46/2007/NĐ –CP

Nghị định mới đã sửa đổi quy định về tăng vốn pháp định và quy định thống nhất vốn góp bằng đồng Việt Nam tại Điều 4 (Vốn pháp định) theo đó mức vốn pháp định của doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ là 300 tỷ đồng, bảo hiểm nhân thọ là 600 tỷ đồng, môi giới bảo hiểm là 4 tỷ đồng. Theo giải trình của Ban soạn thảo thì mức vốn pháp định quy định tại Nghị định 43 là tương đối thấp, sau khi đã bù đắp các chi phí thành lập và mua sắm tài sản có định, phần còn lại khó bảo đảm được an toàn tài chính theo cam kết với bên mua bảo hiểm và không có nguồn để đầu tư theo chiều sâu. Mặt khác, mức vốn pháp định thấp chưa đảm bảo vai trò là bộ lọc trong quá trình cấp phép để lựa chọn được các nhà đầu tư có năng lực tài chính tốt, thực sự muốn kinh doanh bảo hiểm lâu dài. Việc tăng mức vốn pháp định nhằm đảm bảo sự ổn định của thị trường, tăng cường năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam, từng bước làm cho các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam có khả năng cạnh tranh quốc tế. Điều này phù hợp với xu hướng hội nhập quốc tế.

Chỉnh sửa mức ký quỹ quy định tại Điều 6 từ 5% vốn pháp định (Nghị định 43) thành 2% vốn pháp định.

Sửa đổi quy định về nguồn vốn đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm tại điều 11 gồm: nguồn vốn chủ sở hữu, nguồn vốn nhàn rỗi từ dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm, các nguồn hợp pháp khác theo quy định của pháp luật.

Chỉnh sửa quy định về biên khả năng thanh toán tối thiểu (xem Điều 16) theo đó biên khả năng thanh toán tối thiểu trong bảo hiểm phi nhân thọ thay vì bằng 20% tổng phí bảo hiểm thực giữ tại thời điểm xác định biên khả năng thanh toán (nghị định 43) thì nay quy định là số lớn hơn của một trong hai kết quả tính toán sau: a) 25% tổng phí bảo hiểm thực giữ tại thời điểm tính biên khả năng thanh toán; b) 12,5% của tổng phí bảo hiểm gốc và phí nhận tái bảo hiểm tại thời điểm tính biên khả năng thanh toán. Đối với doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm nhân thọ, sửa quy định về thời hạn hợp đồng 10 năm (từ 10 năm trở xuống và trên 10 năm) xuống 05 năm (từ 05 năm trở xuống và trên 05 năm) để làm điểm mốc tính biên khả năng thanh toán tối thiểu.

Sửa đổi quy định về biên khả năng thanh toán của doanh nghiệp bảo hiểm (xem Điều 16). Nếu như quy định tại Nghị định 43 giả thiết tất cả các tài sản của doanh nghiệp bảo hiểm có tính thanh khoản 100%, mức độ rủi ro bằng không và doanh nghiệp bảo hiểm đã trích lập dự phòng đầy đủ đồng thời chưa lọai trừ được các khoản chi phí thành lập doanh nghiệp thì Nghị định 45 quy định biên khả năng thanh toán của doanh nghiệp là phần chênh lệch giữa giá trị tài sản và các khoản nợ phải trả của doanh nghiệp tại thời điểm tính biên khả năng thanh toán. Rõ ràng, sự sửa đổi của nghị định mới là phù hợp hơn.

Sửa đổi quy định khôi phục khả năng thanh toán tại Khoản 1 Điều 19 theo đó khuyến khích doanh nghiệp chủ động trong việc tự khôi phục khả năng thanh toán.

Bỏ quy định về các khoản chi phí bị loại trừ tại Điều 21 Nghị định 43 và sửa đổi quy định về chi phí của doanh nghiệp bảo hiểm (xem điều 21 Nghị định 46) cho phù hợp với quy định của pháp luật thuế hiện hành.

Bãi bỏ quy định “doanh nghiệp bảo hiểm và doanh nghiệp môi giới bảo hiểm có vốn đầu tư nước ngoài trong thời hạn 180 ngày kể từ ngày kêt thúc năm tài chính, phải gửi báo cáo tài chính hàng năm của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm nước ngoài cho Bộ Tài chính” tại Khoản 3 Điều 32 Nghị định 43.

Bổ sung quy định về kiểm toán nội bộ tại Điều 35 theo đó “doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm phải tổ chức kiểm toán nội bộ đối với các hoạt động tài chính của doanh nghiệp” và bổ sung quy định về quản trị tài chính doanh nghiệp tại Điều 36.

Sửa đổi quy định về công khai tài chính (xem Điều 37) nhằm tăng cường tính lành mạnh, minh bạch của công tác kế toán, quản lý giám sát hoạt động tài chính của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm.

Bên cạnh những đổi mới, có tính tiến bộ không thể không thừa nhận nói trên, Nghị định mới vẫn còn một số điểm chưa phù hợp đòi hỏi cần khắc phục và hoàn thiện trong thời gian tới như sau:

Việc quy định “Nghị định này không áp dụng đối với bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm tiền gửi và các loại bảo hiểm khác do Nhà nước thực hiện không mang tính kinh doanh” tại Khoản 3 Điều 1(Phạm vi áp dụng) của Nghị định mới là chưa đầy đủ và không phù hợp với thực tiễn bởi lẽ nếu theo quy định này thì bảo hiểm hàng hải (một loại hình bảo hiểm thương mại) cũng chịu sự điều chỉnh của LKDBH trong khi thực tế bảo hiểm hàng hải chịu sự điều chỉnh của Luật hàng hải chứ không phải LKDBH.

Một số quy định quan trọng của LKDBH cần được cụ thể hóa nhưng nghị định vẫn chưa đề cập tới như: quy định về sửa đổi, bổ sung hợp đồng bảo hiểm (Điều 25 LKDBH), về việc chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm đặc biệt là hợp đồng bảo hiểm nhân thọ (Điều 26 LKDBH), giải thích thuật ngữ “giá trị hoàn lại”, “chi phí hợp lý”.

Chưa có quy định về biên khả năng thanh toán tối thiểu của doanh nghiệp tái bảo hiểm.

Đưa ra khái niệm về dự phòng toán học (xem Điểm a Khoản 2 Điều 9 nghị định 46) chưa thật sự chính xác vì khái niệm “số tiền bảo hiểm” chưa phản ánh chính xác trách nhiệm bảo hiểm đã cam kết của doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ theo hợp đồng bảo hiểm. Trong một số sản phẩm bảo hiểm đang triển khai trên thị trường hiện nay, trách nhiệm của doanh nghiệp bảo hiểm không phải là toàn bộ số tiền bảo hiểm mà là một phần hoặc một tỷ lệ nhất định của số tiền bảo hiểm.

Do đó nên sửa khái niệm dự phòng toán học “là khoản chênh lệch giữa giá trị hiện tại của các quyền lợi bảo hiểm đã cam kết theo hợp đồng bảo hiểm và giá trị hiện tại của phí bảo hiểm sẽ thu trong tương lai”.

Việc giữ nguyên Điều 12 Nghị định 43 (Nguồn vốn nhàn rỗi từ dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm) là chưa hợp lý. Cụ thể việc đưa ra khái niệm “nguồn vốn nhàn rỗi từ dự phòng nghiệp vụ” có phần khiên cưỡng. Theo Khoản 1 Điều 13 Nghị định 46 “nguồn vốn nhàn rỗi từ dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm là tổng dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm trừ các khoản tiền mà doanh nghiệp bảo hiểm dùng để bồi thường bảo hiểm thường xuyên trong kỳ đối với bảo hiểm phi nhân thọ, trả tiền bảo hiểm thường xuyên trong kỳ đối với bảo hiểm nhân thọ”. Và, “ khoản tiền dùng để bồi thường bảo hiểm thường xuyên trong kỳ đối với bảo hiểm phi nhân thọ không thấp hơn 25% tổng dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm và được gửi tại các tổ chức tín dụng hoạt động tại Việt Nam” (Khoản 2, Điều 13) còn “khoản tiền dùng để trả tiền bảo hiểm thường xuyên trong kỳ đối với bảo hiểm nhân thọ không thấp hơn 5% tổng dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm và được gửi tại các tổ chức tín dụng hoạt động tại Việt Nam (Khoản 3, Điều 13).

Ở đây chúng ta thấy khoản tiền dùng để bồi thường bảo hiểm thường xuyên trong kỳ đối với bảo hiểm phi nhân thọ, khoản tiền dùng để trả tiền bảo hiểm thường xuyên trong kỳ đối với bảo hiểm nhân thọ và được gửi tại các tổ chức tín dụng hoạt động tại Việt Nam thực chất cũng là khoản tiền đang được đầu tư và do vậy cũng đang “nhàn rỗi”. Bên cạnh đó, việc quy định “không thấp hơn 25% tổng dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm” đối với bảo hiểm phi nhân thọ và “không thấp hơn 5% tổng dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm” đối với bảo hiểm nhân thọ vô hình chung đã hạn chế sự lựa chọn của doanh nghiệp bảo hiểm trong việc đầu tư (và dó đó dẫn tới giảm hiệu quả đầu tư) và có thể không phản ánh đúng trách nhiệm trả tiền bảo hiểm/bồi thường thường xuyên của doanh nghiệp bảo hiểm. Điều này có thể thấy rõ trong các sản phẩm bảo hiểm phi nhân thọ có số đơn bảo hiểm nhỏ, xác suất tổn thất nhỏ nhưng mức trách nhiệm lớn (như bảo hiểm tàu biển, máy bay…) và trong các sản phẩm bảo hiểm nhân thọ mang tính đầu tư là chủ yếu.

Việc xác định biên khả năng thanh toán tối thiểu chỉ dựa trên phí bảo hiểm và phí tái bảo hiểm trong bảo hiểm phi nhân thọ, dự phòng nghiệp vụ và số tiền chịu rủi ro đối với bảo hiểm nhân thọ (Điều 16, Nghị định 46) có thể chưa phản ánh hết cấu biên khả năng thanh toán và trách nhiệm của doanh nghiệp bảo hiểm. Chẳng hạn, với bảo hiểm nhân thọ việc xác định biên khả năng thanh toán chỉ căn cứ vào thời hạn mà không căn cứ vào loại hình sản phẩm là việc làm mang tính đánh đồng, làm mất ý nghĩa của công cụ cảnh báo này (biên khả năng thanh toán tối thiểu). Hơn nữa, việc phân chia thành 2 thời hạn 5 năm trở xuống và trên 5 năm lại một lần nữa làm cho kết quả tính toán biên khả năng thanh toán thêm thiếu thuyết phục và xác đáng.
Theo Phí Thị Quỳnh Nga, www.cpv.org.vn
Các tin tiếp
Các tin trước
TIÊU ĐIỂM
Xem nhiều nhất