Mô hình tổ chức tài phán hiến pháp của một số nước trên thế giới
10:31' 19/1/2009
Xuất phát từ yêu cầu khách quan của hoạt động quản lý Nhà nước và việc giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực hành chính, hầu hết các nước trên thế giới và khu vực đều coi trọng nghiên cứu và xây dựng hệ thống tài phán hành chính. từ truyền thống pháp lý, trình độ dân trí, tình hình kinh tế-xã hội, mỗi nước có một giải pháp khác nhau về việc tổ chức tài phán hành chính, nhưng về cơ bản, có mấy loại hình sau:

Xuất phát từ yêu cầu khách quan của hoạt động quản lý Nhà nước và việc giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực hành chính, hầu hết các nước trên thế giới và khu vực đều coi trọng nghiên cứu và xây dựng hệ thống tài phán hành chính. từ truyền thống pháp lý, trình độ dân trí, tình hình kinh tế-xã hội, mỗi nước có một giải pháp khác nhau về việc tổ chức tài phán hành chính, nhưng về cơ bản, có mấy loại hình sau:
1- Tổ chức theo chế độ lưỡng hệ tài phán (tài phán tư pháp và tài phán hành chính), hai hệ thống tài phán độc lập với nhau. Tài phán tư pháp xét xử những việc về hình sự, dân sự…. được điều chỉnh bằng luật tư. Tài phán hành chính xét xử những khiếu kiện hành chính được điều chỉnh bằng luật công. Ở những nước theo cách tổ chức này, Toà án hành chính chia làm hai loại:
a) Cơ quan tài phán hành chính cấp cao có hai chức năng: tư vấn pháp lý và xét xử hành chính, đó là hội động Nhà nước (Le Conseil d’Etat). loại này điển hình là Pháp, Thổ Nhỹ Kỳ, Hy Lạp, Ai Cập, Bỉ, Thái Lan…
b) Tổ chức tài phán hành chính chỉ thực hiện chức năng xét xử hành chính. Loại này có các nước như Cộng hoà liên bang Đức, Thuỵ Điển, Phần Lan, Áo, Bồ Đào Nha, Côxtarica…
2- Tổ chức theo chế độ nhất hệ tài phán (Angglo – Sacxon), mô hình này chia làm hai loại:
a) Toà án tư pháp có thẩm quyền giải quyết các khiếu kiện hành chính, loại này điển hình là các nước: Anh, Aixơlen, Nauy, Sip, Irắc, Itxraen…
b) Toà án hành chính là phân Toà trong Toà án tư pháp (giải pháp hỗn hợp-mixte). Loại này có các nước như: Trung Quốc, Inđônêxia, Bênanh, Công gô…

Hệ thống tài phán hành chính cộng hoà pháp
Hệ thống tài phán hành chính cộng hoà Pháp độc lập với hệ thống tài phán tư pháp, độc lập với chính phủ và độc lập với quyền lực chính trị.
1. Về tổ chức: hệ thống tài phán hành chính Cộng hoà Pháp bao gồm Hội đồng Nhà nước và các Toà án hành chính phúc thẩm, sơ thẩm.
a, Hội đồng Nhà nước
Hội đồng Nhà nước được thành lập từ năm 1997. Hiện nay có hai chức năng: tư vấn pháp lý và tài phán hành chính. Hội đồng có 5 ban hành chính và 1 ban hành tố tụng. Các ban hành chính thực hiện chức năng tư vấn pháp lý, Ban tố tụng thực hiện chức năng tài phán hành chính, với tư cách Toà án hành chính tối cao.
Ban tố tụng gồm 50 – 60 người, có 1 Trưởng ban, các cố vấn Nhà nước, các uỷ viên thỉnh cầu, các uỷ viên dự thính. Ban tố tụng chia làm 10 Tiểu ban, trong đó có 7 tiểu ban xét xử các tranh chấp trong lĩnh vực: xây dựng, giáo dục…; 3 Tiểu ban xét xử các tranh chấp trong lĩnh vực thuế.
b) Các Toà án hành chính phúc thẩm
Hiện nay, Pháp có 5 Toà án hành chính phúc thẩm, 30 Toà án hành chính sơ thẩm. Ngoài ra còn có các Toà án hành chính chuyên biệt (Thẩm kế viện, Toà kỷ luật của các thầy thuốc). Các Toà án này chịu sự giám đốc của Hội đồng Nhà nước.
2- Về thẩm quyền
Toà  án hành chính Pháp có thẩm quyền giải quyết các khiếu nại hành chính liên quan đến luật công. Toà án hành chính giải quyết các loại khiếu nại sau:
a, Khiếu nại đòi huỷ bỏ quyết định huỷ bỏ hành chính
khiếu nại loại này chỉ được Toà án chấp nhận khi nó có các điều kiện sau:
- Người khiếu nại đòi huỷ bỏ một văn bản pháp lý đơn phương do cơ quan hành chính đưa ra.
- Khiếu nại chỉ có thể thực hiện trong một thời gian nhất định kể từ khi quyết định hành chính được công bố.
- Đơn khiếu nại phải nói lên được yêu cầu của mình, nêu dõ lý do để cho rằng quyết định hành chính đó là bất hợp pháp.
- Đối với khiếu lại loại này, phán quyết của Toà án có thể bác bỏ đơn khiếu nại, hoặc huỷ bỏ một phần hay Toàn bộ quyết định hành chính bị khiếu nại.
b) Khiếu nại đòi bồi thường
Đây là loại khiếu nại mà người khiếu nại, khi chứng minh quyền lợi của mình bị xâm hại, thì không chỉ yêu cầu huỷ bỏ quyết định hành chính mà còn dòi bồi thường thiệt hại. về nguyên tắc, trách nhiệm của cơ quan hành chính chỉ bị truy cứu khi bị phạm lỗi.
3- Trình tự, thủ tục tố tụng
 Tố tụng hành chính tuân thủ các nghuyên tắc sau:
- Thủ tục tố tụng trước Toà án hành chính là thủ tục viết.
- Chỉ các bên liên quan trong vụ kiện được biết các tài liệu trong tố tụng.
- Tố tụng được tiến hành bởi thẩm phán.
- Nguyên tắc tố tụng là tranh luận.
Việc khiếu nại không làm đình hoãn việc thi hành quyết định hành chính. Trừ trường hợp người khiếu nại yêu cầu tạm dừng việc thi hành quyết định đó có thể gây ra những thiệt hại khó khôi phục được .
Trình tự tố tụng ở Hội đồng Nhà nước tiến hành qua 2 giai đoạn:
a) Giai đoạn thẩm cứu
Các lục sự nhận đơn, thụ lý hồ sơ gửi đến phòng phân tích đơn. Phòng phân tích đơn sẽ chuyển hồ sơ cho tiểu ban phụ trách lĩnh vực này. Nhân được hồ sơ, bộ phận thư kí của tiểu ban thông báo cho bên khiểu nại giải trình. Nhưng văn bản giải trình của cơ quan bị khiếu nại được thông báo cho người khiếu nại. Sau khi báo cáo, trình bày hết lý lẽ, lập luận của mình, trưởng tiểu ban sẽ giao hồ sơ cho một báo cáo viên, báo cáo viên này sẽ đưa ra một giải pháp Toàn bộ và một báo cáo viên khác giải thích những khía cạnh của vụ việc. Hai văn bản này được giao lại cho bộ phận thư ký. bộ phận này chuyển cho trưởn Tiểu ban. Trưởng Tiểu ban đóng vai trò dự thẩm hoặc là cử hai thành viên của Tiểu ban đóng vai trò dự thẩm. Dự thẩm nghiên cứu kỹ lưỡng giải pháp của báo cáo viên và đưa ra thảo luận tại Hội nghị Toàn thể tiểu ban. Tại hội nghị, báo cao viên đọc báo cáo đã soạn thảo trong đó nêu rõ lý lẽ của các bên, ý kiến của báo cáo viên, đọc dự thảo quyết định giải quyết của mình. Sau đó, dự thẩm viên phát biểu ý kiến, Tiểu ban thảo luận. nếu không có sự thống nhất báo cáo viên và dự thẩm viên, thì Tiểu ban bỏ phiếu thông qua dự thảo quyết định. Trong phiên họp của Tiểu ban còn có 1 – 2 uỷ viên chính phủ tham gia. Họ có thể phát biểu ý kiến, nhưng không bỏ phiếu.
Uỷ viên chính phủ là một chức trách công việc được các uỷ viên thỉnh cầu, cố vấn Nhà nước hay uỷ viên dự thính thay phiên đảm nhiệm trong một thời gian nhất định.
b) Giai đoạn giải quyết
Sau khi hồ sơ vụ việc đã được các báo cáo viên, dự thẩm viên, Tiểu ban nghiên cứu, Uỷ viên Chính phủ độc lập chuẩn bị một dự thảo kết luận, kết luận này được đọc lại tại phiên xét sử công khai.
Tại phiên Toà, Chủ toạ khai mạc, báo cáo viên trình bày sự việc, nêu cầu của các bên đối với Hội đồng Nhà nước. Uỷ viên Chính phủ phát biểu, sau đó Toà tiến hành họp bí mật; tiểu ban bỏ phiếu quyết định theo đa số, 15 ngày sau, phán quyết được công bố.
Nhìn chung, trình tự, thủ tục ở các cấp giống nhau nhưng thông thường, việc giải quyết các vụ việc ở Toà án hành chính cấp dưới đơn giản hơn.
Bản án của Toà án hành chính có thể bị kháng án ( trừ những bản án xét xử sơ thẩm đồng thời trung thẩm), thời gian kháng án là hai tháng. Trường hợp khẩn cấp theo quy định của pháp luật là 15 ngày.
Toà án hành chính tối cao (hội đồng Nhà nước) có thể ra quyết định phạt tiền đối với những đối tượng không thi hành phán quyết của Toà án.
4- Quy chế hội đồng thành viên hội đồng Nhà nước và các Toà án hành chính (thẩm phán)
a) Các thành viên hội đồng Nhà nước do sác lệnh của tổng thống bổ nhiệm
Các chức nghiệp trong hội đồng Nhà nước bao gồm: phó chủ tịch, các trưởng ban, các cố vấn Nhà nước, các uỷ viên thỉnh cầu, các uỷ viên dự thính.
- Các uỷ viên dự thính bao gồm: các chuyên viên bạc 1 và 2, chọn từ các sinh viên tốt nghiệp loai giỏi trường hành chính quốc gia, sau 18 tháng thực tập được bổ nhiệm chuyên viên bậc 1.
- Các uỷ viên thỉnh cầu: ¾ là các thành viên hội đồng Nhà nước đã giữ chức vụ uỷ viên dự thính từ 3 đến 5 năm còn lại ¼ là do chính phủ chọn.
- Các cố vấn Nhà nước: 2/3 là các uỷ viên thỉnh cầu đã giữ chức vụ này 13 – 14 năm; và 1/3 là do chính phủ chọn.
- Các trưởng ban do chính phủ bổ nhiệm trong số các cố vấn Nhà nước
- Phó chủ tịch thực tế là người đứng đầu hội đồng Nhà nước, vì chủ tịch hội đồng Nhà nước là thủ tướng chính phủ chỉ mang tính chất lễ nghi.
b) Hội đồng tối cao các thẩm phán hành chính: là cơ quan quản lý các thẩm phán có nhiệm vụ tiến cử việc thăng thưởng kỷ luật các thẩm phán, quản lý kinh phí hoạt động của các Toà án địa phương.
hoạt động của hội đồng tối cao các thẩm phán góp phần để Toà án hành chính độc lập với các cơ quan hành chính ở địa phương và ở các cấp. Hội đồng tối cao các thẩm phán bao gồm: đại diện hội đồng Nhà nước, đại diện bộ tư pháp, đại diện các thẩm phán.

Toà án hành chính cộng hoà liên bang Đức

Ở Cộng hoà liên bang Đức, Toà án hành chính được xây dựng thành hệ thống độc lập với Toà án tư pháp cũng như các Toà án khác.
1- Về tổ chức: Toà án hành chính được tổ chức theo 3 cấp xét xử:
- Toà án hành chính sơ thẩm: thành lập theo địa dư quận, huyện.
- Toà án hành chính phúc thẩm: thành lập theo địa dư tỉnh.
- Toà án hành chính tối cao: thuộc liên bang.
2-  Về thẩm quyền:
Toà án hành chính giải quyết các khiếu nại thuộc thẩm quyền của cơ quan tài phán hành chính, bao gồm tất cả những tranh chấp về luật công mà không có đặc điểm liên quan đến hiến pháp và không được đạo luật của liên bang giao cho các Toà án khác.
Trường hợp tranh chấp thẩm quyền giữa các Toà án thì Toà án chung giải quyết để xác định thẩm quyền.
3-  Trình tự thủ tục tố tụng:
Khi công dân tiến hành việc khiếu nại, trước tiên họ khiếu nại với cơ quan hành chính đã ra quyết định hoặc đã có hành vi xâm hại đến quyền, lợi ích của mình. Nếu cho rằng cơ quan hành chính đó giải quyết không thoả đáng, công dân tiếp tục khiếu nại lên cơ quan hành chính cao hơn một cấp. Trường hợp không đồng ý với quyết định giải quyết, thì công dân được khiếu nại lên cơ quan hành chính phúc thẩm. Phán quyết của Toà án phúc thẩm có thể bị kháng án lên Toà án hành chính tối cao. Nếu công dân không đồng ý với phán quyết của Toà án tối cao có thể khiếu nại lên Toà án hiến pháp, Toà án này có thể xét xử chung thẩm tất cả các vụ kiện đã được giải quyết ở các Toà án. Về thủ tục, khi nhận được khiếu nại, Toà án thông báo cho bên bị khiếu nại đến Toà để cung cấp tài liệu liên quan, giải trình về vụ việc của mình.
Trong quá trình tố tụng, các đương sự có quyền tranh tụng, có quyền nhờ luật sư giúp đỡ. Việc tranh tụng bằng lời thường tiến hành ở cấp sơ thẩm, còn cấp phúc thẩm và Toà án tối cao, việc xem xét chủ yếu trên văn bản. Trước khi ra phán quyết, Toà án tiến hành các bước điều tra, xem xét, thu thập chứng cứ, tổ chức tranh tụng, khi phán quyết phải yêu cầu hai bên đương sự có mặt.
Toà án xét xử có sự tham gia có mặt của Hội thẩm. Hội động xét xử của Tòa án sơ thẩm có 3 Thẩm phán và 2 Hội thẩm. Hội đồng xét xử của Toà án phúc thẩm có 3 Thẩm phán, một số trường hợp them 2 Hội thẩm. hội đồng xét xử của Toà án tối cao có 5 Thẩm phán, không có Hội thẩm.
4. Về Thẩm phán:
Cộng hoà Liên bang Đức có chung một đội ngũ Thẩm phán, trong đó các Thẩm phán chuyên về tư pháp và các Thẩm phán chuyên về hành chính. Họ được đào tạo gần như nhau và có 2 tiêu chuẩn: đã tốt nghiệp Đại học Luật và có quá trình thực tập để bồi dưỡng nghiệp vụ (6 tháng thực tập luật Dân sự, 6 tháng thực tập luật Hình sự, 6 tháng thực tập luật hành chính, 6 tháng thực tập ở các toà án khác), kết thúc quá trình thực tập là một kỳ thi quốc gia.
Việc bổ nhiệm các Thẩm phán Toà án hành chính phúc thẩm và Toà án hành chính tối cao do một Ban tuyển chọn Thẩm phán tiến hành, trình Tổng thống bổ nhiệm. Ban tuyển chọn Thẩm phán bao gồm: Bộ trưởng Tư pháp liên bang, 16 Bộ trưởng Tư pháp bang và 17 nghị sĩ Quốc hội do Tổng thống chỉ định.

Toà án hành chính Thụy Điển

Toà án hành chính Thuỵ Điển được thiết lập rất sớm ở vương quốc Thụy Điển. năm 1909, Toà án hành chính tối cao được thành lập, đến nay Thuỵ Điển có hệ thống toà án hành chính hoàn chỉnh, độc lập với các Toà án khác.
1- Về tổ chức:
Hệ thống Toà án hành chính bao gồm:
- Toà án hành chính tối cao
- Toà án hành chính khu vực
- Toà án hành chính tỉnh
2- Thẩm quyền:
Toà án hành chính giải quyết các khiếu nại hành chính của công dân được điều chỉnh bằng luật công.
Ở Thuỵ Điển, các cơ quan như Hội đồng Bộ trưởng, Bộ và Tổng cục Trung ương, các Hội động Thị chính địa phương cũng giải quyết các khiếu nại hành chính.
- Thẩm quyền của toà án hành chính tối cao:
+ Xem xét những đơn kháng án chống lại các quyết định giải quyết của Toà Phúc thẩm.
+ Những đơn kháng án chống lại các quyết định đã giải quyết của các cấp cơ quan.
- Thẩm quyền của Toà án hành chính Phúc thẩm
+ Xét xử những vụ việc kháng án chống lại quyết định đã giải quyết của toà Sơ thẩm.
+ Những tranh chấp giữa 2 cơ quan, những vụ việc cơ quan hành chính đã giải quyết nhưng đương sự còn khiếu nại.
+ Xét xử sơ thẩm những khiếu nại quyết định hành chính của toà cấp tỉnh, thành phố thuộc thẩm quyền của Toà án sơ thẩm.
+ Xét xử sơ thẩm tranh chấp giữa công dân với chính quyền địa phương, cả những quyết định hành chính của cơ quan trung ương đóng tại địa phương. Toà án xem xét tính hợp pháp và hợp hiến của các quyết định hành chính.
3- Thủ tục tố tụng:
Toà án hành chính giải quyết các khiếu nại hành chính, về cơ bản, giống trình tự, thủ tục tố tụng dân sự. Thành phần Hội đồng xét xử bao gồm: Thẩm phán và Hội thẩm phán nhân dân, hoặc các Thẩm phán hợp thành, thành viên hội đồng xét xử và những người liên quan khác tuân theo nguyên tắc hội trạng cáo trạng, các đương sự có quyền tranh tụng trước toà, có quyền dùng tiếng nói và chữ viết của mình, có quyền nhờ luật sư bào chữa… Toà án xét xử công khai.
Trình tự giải quyết 1 khiếu nại: công dân không đồng ý với quyết định hành chính trước hết khiếu nại với cơ quan hành chính. Các cơ quan hành chính này có trách nhiệm xem xét, giải quyết. Trường hợp không đồng ý với quyết định đã giải quyết của cơ quan hành chính, công dân có quyền khiếu nại với toà án hành chính sơ thẩm, hoặc với cơ quan quản lý hành chính cấp trên. Cơ quan hành chính đã giải quyết, có trách nhiệm chuyển toàn bộ hồ sơ vụ việc cho cơ quan hành chính cấp trên hoặc toà án hành chính sơ thẩm quyền giải quyết.
4- Thẩm phán:
Thẩm phán hành chính do Chính phủ bổ nhiệm, cụ thể Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm Thẩm phán toà án hành chính tối cao theo đề nghị của Bộ trưởng Tư pháp và sau khi lấy ý kiến của phiên họp toàn thể Chính phủ.
Thẩm phán toà án hành chính cấp dưới được Thủ tướng uỷ nhiệm cho Bộ trưởng Tư pháp quyết định trên cơ sở đề nghị của bộ Tư pháp và Chánh án toà án hành chính tối cao.
Thẩm phán toà án hành chính phải đạt những tiêu chuẩn chặt chẽ, khắt khe, cao hơn tiêu chuẩn của thẩm phán thường. Thẩm phán phải học qua trường Luật, có 2 năm tập sự tại toà án sơ thẩm hoặc toà án phúc thẩm, có 9 tháng làm việc tại toà án phúc thẩm, được 2 thẩm phán kèm cặp, sau thời gian làm việc từ 10-15 năm mới được bổ nhiệm làm thẩm phán.

Toà án hành chính Trung Quốc
1- Về tổ chức:
Toà án hành chính Trung quốc không tổ chức thành hệ thống độc lập mà được thành lập thành phân toà của Toà án các cấp bao gồm: toà án hành chính cơ sở, toà án hành chính tỉnh, toà án hành chính tối cao.
2- Về thẩm quyền:
      a) Thẩm quyền theo việc:
- Toà án hành chính có thẩmquyền các việc do công dân, pháp nhân hoặc tổ chức khác khởi kiện khi không đồng ý với những hành vi hành chính cụ thể sau:
+ Không đồng ý với việc xử phạt hành chính như: bắt giữ, xử phạt,thu giấy chứng nhận cho phép kinh doanh., giấy chứng nhận nghề nghiệp, buộc ngừng sản xuất, tịch thu tài sản.
+ Không đồng ý biện pháp cưỡng chế hành chính như: áp giải, quản thúc,hạn chế tự do thân thể hoặc được quyền niêm phong tài sản.
+ Cho rằng quyền tự do kinh doanh bị các cơ quan hành chính xâm phạm.
+ Cho rằng đã phù hợp với các điều kiện pháp luật quy định trong việc đề nghị các cơ quan hành chính cấp giấy phép hoặc giấy chứng nhận, nhưng các cơ quan hành chính từ chối.
+ Đề nghị các cơ quan hành chính thực hiện chức trách do pháp luật quy định về việc bảo vệ quyền con người, quyền tài sản, nhưng các cơ quan hành chính không thực hiện hoặc không trả lời .
+ Cho rằng các cơ quan hành chính không trợ cấp tiền theo quy định của pháp luật .
+ Cho rằng cơ quan hành chính vi phạm pháp luật về thi hành nghĩa vụ
+ Cho rằng cơ quan hành chính vi phạm quyền tài sản, các quyền cá nhân khác. Ngoài ra, pháp luật có thể quy định những loại việc khác thuộc thẩm quyền của toà án hành chính.
- Những việc toà án hành chính không giải quyết :
+ Những hành vi mang tính quốc gia , quốc phòng ,ngoại giao,
+ Những văn bản pháp qui qui định hành vi hành chính hoặc những quyết định ban hành có phạm vi hiệu lực rộng lớn mang tính chất bắt buộc chung do cơ quan hành chính qui định.
+ Việc bổ nhiệm, miễn nhiệm của cơ quan hành chính đối với cán bộ, nhân viên trong cơ quan hành chính.
+ Những hành vi hành chính cụ thể do cơ quan hànhh chính quyết định lần cuối cùng do pháp luật qui định.
b) Thẩm quyền lãnh thổ:
Toà án có thẩm quyền giải quyết các khiếu nại hành chính là toà nơi bị đơn cư trú. Trường hợp đối tượng khiếu nại là bất đọng sản thì Toà án nơi có bất động sản có thẩm quyền giải quyết.
3- Về tố tụng hành chính:
Nhìn chung, Toà án hành chính Trung Quốc áp dụng thủ tục tố tụng dân sự: Toà án xét xử theo nguyên tắc tập thể, quyết định theo đa số, Hội đồng xét xử với những người liên quan khác trong quá trình tố tụng phải tuân theo nguyên tắc hồi tỵ, cáo tỵ. Các đương sự có quyền bào chữa, có quyền dùng tiếng nói và chữ viết của mình.
Toà án hành chính xét xử và có quyền đưa ra các phán quyết sau:
- Giữ nguyên quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính cụ thể (hành vi hành chính bị kiện).
- Bỏ đi từng phần hoặc toàn bộ quyết định hành chính, hành vi hành chính cụ thể.
Toà án hành chính Trung Quốc được áp dụng các biện pháp sau:
+ Phạt tiền, buộc bồi thường và báo cho ngân hàng rút tiền từ tài khoản của cơ quan hành chính.
+ Nếu quá thời gian qui định mà cơ quan hành chính không thi hành, mỗi ngày quá hạn xử phạt từ 50 – 100 nhân dân tệ.
+ Đưa kiến nghị tư pháp cho cơ quan hành chính quản lý cấp trên hoặc cơ quan có thẩm quyền giám sát, cơ quan quản lý nhân sự. cơ quan này, khi nhận được kiến nghị, phải căn cứ vào những qui định của pháp luật để xử lý và phải báo cáo việc xử lý do Toà án có thẩm quyền biết.
+ Trường hợp do việc không thi hành quyết định hoặc bản ấn của Toà án dẫn đến phạm tội thì có quyền truy cứu trách nhiệm hình sự đối với thủ trưởng cơ quan quản lý trực tiếp và nhân viên có trách nhiệm trực tiếp thi hành.

Hệ thống tài phán hành chính vương quốc Thái Lan
Năm 1979, Thái Lan ban hành đạo luật về Hội đồng Nhà nước. Theo qui định của đạo luật này, hệ thống tài phán hành chính của Thái Lan được tổ chức và hoạt động như sau:
1- Về tổ chức: Hệ thống tài phán hành chính bao gồm:
- Hội đồng Nhà nước
- hội đồng tố tụng hành chính vùng
a) Hội đồng Nhà nước:
Hội đông Nhà nước Thái Lan có 2 chức năng là tư vấn pháp lý và xét xử khiếu kiện hành chính. Đứng đầu Hội đồng Nhà nước là Thủ tướng Chính phủ, các thành viên là những cố vấn pháp lý.
Hội đồng Nhà nước bao gồm: Hội đồng tố tụng hành chính, Hội đồng tư vấn pháp lý, Văn phòng Hội đồng Nhà nước. Hội đồng tố tụng hành chính là cơ quan chức năng giải quyết các khiếu kiện hành chính của công dân, được phân ra thành các ban chức năng. Các ban này có chức năng giải quyết từng loại khiếu nại theo qui định. mỗi ban chức năng có các cố vấn xét xử hành chính. Trong hội đồng xét xử hành chính còn có một số Uỷ viên Chính phủ, các Uỷ viên này có nhiệm vụ nghiên cứu xem xét và đưa ra các ý kiến về các vụ việc khiếu nại đã được thụ lý trước Ban tố tụng hành chính khi xem xét, giải quyết.
b) Hội đồng tố tụng hành chính vùng là cơ quan xét xử các khiếu nại hành chính ở vùng đó
2- Về thủ tục tố tụng: Hội đồng Nhà nước Thái Lan có chức năng giải quyết khiếu nại hành chính của công dân nhưng chưa được tổ chức như một Toà án độc lập để xét xử hành chính như Cộng hoà Pháp nên về trình tự, thủ tục còn rất đơn giản và về cơ bản, có nhiều điểm going trình tự, thủ tục tố tụng dân sự.
Trình tự giải quyết một khiếu nại được qui định như sau:
Khi nhận được một khiếu nại hành chính, các cố vấn xét xử hành chính nghiên cứu và thảo nghị nhân danh Hội đồng tố tụng hành chính. Quyết định giải quyết khiếu nại phải được đa số ý kiến trong Hội đồng quyết định. Trong quá trình xem xét, một Uỷ viên Chính phủ trình bày tóm tắt sự việc, phát biểu ý kiến và đưa ra các căn cứ pháp lý về việc giải quyết vụ việc. Sau khi xem xét, Hội đồng tố tụng hành chính đưa ra kiến nghị với Thủ tướng Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ sẽ đưa ra các mệnh lệnh sau:
- Trường hợp nhân viên Nhà nước sao nhãng việc thi hành chức trách của mình hoặc thi hành chậm trễ, thì ra lệnh cho người đứng đầu cơ quan nhà nước có trách nhiệm yêu cầu câp dưới thi hành ngay chức trách của mình trong thời gian nhất định.
- Trường hợp nhân viên nhà nước lạm quyền hoặc vi phạm pháp luật hoặc phạm lỗi về hình thức hay lỗi về thủ tục, khi hình thức và thủ tục này được coi là bắt buộc, hoặc đã hành động một cách thiếu nghiêm chỉnh hoặc không có lý do chính đáng thì ra lệnh huỷ bỏ văn bản bị khiếu nại hoặc ra lệnh cho cơ quan có thẩm quyền huỷ bỏ văn bản bị khiếu nại.
- Trường hợp khẩn cấp thì đưa ra một văn bản mới thay thế văn bản đó hoặc sửa đổi một văn bản của nhân viên nhà nước.
3- Về thẩm quyền:
Hội đồng tố tụng hành chính xem xét các khiếu nại hành chính của công dân được điều chỉnh bằng luật công. hội đồng tố tụng hành chính chỉ xem xét các khiếu nại khi nó có một trong các điều kiện sau:
- Những người khiếu nại rõ rang chịu hoặc sẽ chịu một sự thiệt thòi hoặc thiệt hại.
- Thiệt thòi hoặc thiệt hại đó do một nhân viên nhà nước gây ra vì:
+ Sao nhãng chức trách
+ Thi hành chức trách chậm trễ
+ Vượt quá quyền hạn
+ Đã phạm một lỗi về hình thức, hoặc lỗi về thủ tục trong trường hợp hình thức hoặc thủ tục này là một thể thức quan trọng
+ Đã hành động một cách không đúng đắn
Hội đồng tố tụng hành chính không giải quyết các khiếu nại liên quan đến các việc sau:
- Một hành vi có tính chất chính trị mà Chính phủ phải chịu trách nhiệm trước Quốc hội.
- Một vấn đề mà Hội động Bộ trưởng hoặc Thủ tướng Chính phủ có quyết định dứt khoát.
- Một việc còn đang trong quá trình giải quyết trước Toà án đã có bản án hoặc có quyết định cuối cùng.
- Một vụ việc mà người khiếu nại không tiến hành đầy đủ các thủ tục, trình tự mà luật qui định bắt buộc phải tiến hành trước khi đưa ra Hội đồng tố tụng hành chính.
- Một vụ việc mà Hội đồng tố tụng hành chính có quyết định cuối cùng, trừ trường hợp phát hiện tình tiết mới.
- Một vụ việc mà người khiếu nại đã rút đơn kiện
- Một vụ viếc đã tuyên bố là mất quyền khiếu nại
4- Tiêu chuẩn, nhiệm kỳ của cố vấn xét xử hành chính:
Các cố vấn xét xử hành chính phải có kiến thức pháp luật, kiến thức về khoa học chính trị, khoa học kinh tế, khoa học xã hội, khoa học hành chính và có thâm niên công tác trong một số ngành nhất định như: giảng viên về luật ở các trường Đại học luật, Thẩm phán cao cấp, cố vấn cao cấp giải quyết khiếu nại hành chính …, cố vấn xét xử hành chính do nhà vua bổ nhiệm có nhiệm kỳ là 3 năm.

Dự luật về toà án hành chính Maroc
Marốc là một trong những nước đang xúc tiến việc thiết lập các Toà án hành chính. Ngày 27/6/1990, Bộ Tư pháp duyệt qua dự luật về Toà án hành chính. Dự luật này qui định:
1- Về tổ chức:
 Hệ thống toà án hành chính tổ chức theo 2 cấp xét xử:
- Toà án hành chính sơ thẩm (thành lập theo địa dư vùng): Mỗi Toà án hành chính vùng có một Chủ tịch và nhiều Thẩm phán, 1 đại diện của nhà vua, 1 công tố viên, 1 lục sư. Mỗi Toà án hành chính vùng có thể được chia thành nhiều bộ phận tuỳ thuộc tính chất loại việc được giải quyết.
- Toà án hành chính phúc thẩm: là phân toà nằm trong Toà án tối cao có trách nhiệm xử phúc thẩm và chung thẩm các kháng án đối với các phán quyết của Toà án sơ thẩm.
2- Về thẩm quyền:
Toà án hành chính có thẩm quyền xét xử các khiếu nại đối với quyết định của cơ quan quản lý hành chính, các tranh chấp liên quan đến khế ước hành chính, các hoạt động nhằm bồi thường thiệt hại do hành vi của cơ quan công quyền gây ra. Về nguyên tắc chung, Toà án hành chính giải quyết tất cả các khiếu nại hành chính.
Toà án hành chính của Toà án tối cao xét xử sơ thẩm đồng thời chung thẩm các việc:
- Khiếu nại đòi huỷ bỏ văn bản pháp qui hoặc huỷ bỏ văn bản của Thủ tướng.
- Khiếu nại quyết định của một cơ quan hành chính mà phạm vi áp dụng vượt quá thẩm quyền của một Toà án hành chính sơ thẩm.
- Các tranh chấp liên quan đến các nhân viên, công chức do nhà vua chỉ định hoặc do sắc lệnh bổ nhiệm.
Theo dự luật này, thẩm quyền xét xử các vụ việc của Toà án hành chính chia thành mấy loại sau:
- Khiếu nại đòi huỷ bỏ văn bản hành chính lạm quyền
- Khiếu nại về bầu cử
- Khiếu nại liên quan đến việc trưng thu, trưng dụng vì mục đích chung
- Các khiếu nại liên quan đến lĩnh vực thuế
- Các khiếu nại liên quan đến các khoản trợ cấp
Ngoài ra, Toà án hành chính còn xem xét tính hợp pháp của các văn bản hành chính khi Toà án tư pháp trưng cầu ý kiến trong một vụ tố tụng dân sự.
3- Trình tự, thủ tục tố tụng:
Các qui định của Bộ luật tố tụng dân sự được áp dụng với hoạt động của Toà án hành chính Marốc.
4- Về thẩm phán:
Việc tuyển chọn, đào tạo, bổ nhiệm cũng như quyền và nghĩa vụ của Thẩm phán Toà án hành chính theo qui định chung tại Điều lệ các quan toà ban hành ngày 11/11/1974.
Toà án hành chính Italia
1- Về tổ chức:
Toà án hành chính Italia được tổ chức thành một hệ thống thuộc Chính phủ. Hiện nay, hệ thống Toà án hành chính ở Italia được tổ chức theo hai cấp:
- Hội đồng Nhà nước (thành lập năm 1960) là cơ quan xét xử cao nhất các khiếu nại hành chính. hội đồng Nhà nước còn có chức năng tư vấn pháp lý cho Chính phủ.
- Các toà án hành chính sơ thẩm ( thành lập năm 1971), được tổ chức theo địa dư tỉnh, có chức năng xét xử sơ thẩm các khiếu nại hành chính.
2- Về thẩm quyền:
Toà án hành chính có thẩm quyền phán quyết các quyết định của cơ quan hành chính bị khiếu nại. Nghĩa là, Toà án hành chính chỉ xem xét quyết định đó là hợp pháp hay bất hợp pháp, có lạm quyền hay không, còn việc bồi thường thiệt hại thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án tư pháp.
3- Về trình tự, thủ tục tố tụng:
Khi công dân đến khiếu nại một quyết định hành chính, thì trước hết đưa khiếu nại đến cơ quan hành chính đã ra quyết định đó. Nếu không đồng ý với cách giải quyết của cơ quan này thì được quyền:
- Khiếu nại lên cơ quan hành chính cấp cao hơn
- Kiện đến Toà án hành chính sơ thẩm
- Kiện đến Hội động Nhà nước (nếu vụ việc đó thuộc thẩm quyền của Hội đồng Nhà nước theo qui định của pháp luật.
Trong quá trình giải quyết, Toà án hành chính yêu cầu các bên đương sự thu thập và cung cấp chứng cứ, tài liệu có liên quan xem xét và tuyên án. Các bên đương sự không được tranh tụng trước toà. từ năm 1990, pháp luật Italia có qui định cho các bên được tiếp cận quá trình giải quyết của Toà án hành chính.
4- Đào tạo và bổ nhiệm Thẩm phán:
Tiêu chuẩn của Thẩm phán Toà án hành chính là phải tốt nghiệp Đại học luật với số điểm cao. Sau khi được Ban tuyển chọn Thẩm phán kiểm tra thì được vào làm việc tại Toà án. Qua 5 năm công tác, Ban tuyển chọn Thẩm phán tổ chức thi lần thứ nhất để chọn những người xuất sắc nhất bổ nhiệm Trợ lý Thẩm phán. 5 năm sau tổ chức thi lần 2 để đề nghị Bộ Tư pháp bổ nhiệm Thẩm phán. Ban tuyển chọn Thẩm phán do Hội đồng Thẩm phán cấp cao bầu ra. Hội động Thẩm phán cấp cao do Tổng thống làm chủ tịch, có chức năng xem xét việc thăng thưởng, kỷ luật, thuyên chuyển công tác của các Thẩm phán Toà án hành chính.

Nguồn: www.giri.ac.vn

 

Các tin trước
TIÊU ĐIỂM
Xem nhiều nhất