Văn hoá pháp lý Việt Nam trong xu thế toàn cầu hoá
14:27' 13/4/2007
Nền văn hoá Việt Nam là thành quả của hàng ngàn năm lao động sáng tạo, đấu tranh kiên cường dựng nước và giữ nước của cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Đó cũng là kết quả của quá trình giao lưu, chọn lọc, tiếp thu và phát triển những giá trị, tinh hoa văn hoá của nhân loại. Hài hoà hoá văn hoá trên cơ sở giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc trong xu thế toàn cầu hoá hiện nay là một nhiệm vụ thiết yếu của Đảng, nhà nước và nhân dân ta. Nghị quyết Hội nghị trung ương 5, khoá VIII đã nêu lên yêu cầu: “Các nhân tố văn hoá phải gắn kết chặt chẽ với đời sống và hoạt động xã hội trên mọi phương diện chính trị, kinh tế, xã hội, pháp luật, kỷ cương... biến thành nguồn nội sinh quan trọng nhất của sự phát triển”. Trong kho tàng văn hoá Việt Nam, văn hoá pháp lý là một lĩnh vực cơ bản, cần phải được nhận thức toàn diện về phạm vi, sự định hình và phát triển.

1. Nhận thức về văn hoá pháp lý

Văn hoá là một phạm trù rất rộng, liên quan đến nhiều lĩnh vực hoạt động của con người trong lao động sản xuất và sáng tạo các giá trị tinh thần. Có con người là có các hoạt động và văn hoá xuất hiện cùng lúc với các hoạt động thực tiễn này từ buổi bình minh của xã hội loài người.

Nếu như các loại hình văn hoá khác xuất hiện từ giai đoạn khởi thủy của xã hội loài người, thì văn hoá pháp lý hình thành muộn hơn, khi pháp luật được coi là công cụ thiết yếu để quản lý xã hội. Nói tới văn hoá pháp lý là nói tới con người, nói tới việc phát huy năng lực của con người trong các hoạt động pháp lý. Cơ sở của mọi hoạt động văn hoá pháp lý là khát vọng của con người hướng tới các giá trị pháp lý được xác định chuẩn bởi pháp luật. Các hoạt động đó về bản chất là hướng tới các giá trị tích cực và mang tính sáng tạo, phổ biến nên văn hoá pháp lý, về nội dung, cần được hiểu với nghĩa là luôn luôn hàm chứa các giá trị hữu ích, tích cực. Mọi hoạt động nếu xuất phát từ nhu cầu không chính đáng của con người đương nhiên sẽ không hàm chứa các giá trị văn hoá và văn hoá pháp lý. Đó là mặt trái của các giá trị văn hoá đích thực. Vì lẽ đó, khái niệm văn hoá pháp lý luôn chứa đựng tính chất nhân văn và mang đặc điểm dân tộc sâu sắc.

Cũng như mọi loại hình văn hoá khác, thông thường người ta chia văn hoá pháp lý thành hai lĩnh vực là: văn hoá vật chất và văn hoá tinh thần. Sự phân chia này là cần thiết để có được cách nhìn toàn diện đối với các sản phẩm văn hoá pháp lý. Tuy nhiên, sự phân chia đó cũng chỉ là tương đối. Cái gọi là văn hoá vật chất thực ra là vật thể hoá các giá trị tinh thần mà thôi.

Mặc dù văn hoá pháp lý có tính phổ biến, tương đồng và gắn liền với bản sắc dân tộc, nhưng văn hoá pháp lý trong xã hội có giai cấp luôn mang tính giai cấp. Văn hoá pháp lý còn có tính kế thừa bởi nó được lưu truyền qua nhiều thế hệ, luôn thể hiện và vươn tới các giá trị đích thực của quá trình điều chỉnh pháp luật. Do đó, không nên tuyệt đối hoá tính giai cấp của văn hoá pháp lý, nhất là trong điều kiện đổi mới, hội nhập đa phương hoá và đa dạng hoá quan hệ như hiện nay. Nếu như văn hoá chỉ được xuất hiện trên cơ sở ý thức, nhận thức của con người thì văn hoá pháp lý chỉ có thể hình thành trên nền tảng ý thức pháp luật, nhận thức về các giá trị của pháp luật. Nếu như văn hoá được nhận diện qua ứng xử của con người, cộng đồng xã hội trong các quan hệ thực tế thì văn hoá pháp lý được thể hiện trong đời sống pháp lý, thông qua quá trình thực hiện pháp luật bằng hành vi pháp lý của các loại chủ thể pháp luật. Văn hoá pháp lý cũng như văn hoá nói chung luôn có tính đan xen, kế thừa và phủ định trên cả hai bình diện tích cực và tiêu cực.

Tóm lại, văn hoá pháp lý là tổng thể các hoạt động hàm chứa các giá trị pháp luật được hình thành trên cơ sở tri thức pháp luật, lòng tin, tình cảm đối với pháp luật và hành vi pháp lý thực tiễn

2. Có hay không một truyền thống văn hoá pháp lý Việt Nam?

Khi xem xét vấn đề văn hoá pháp lý Việt Nam, từ trước tới nay thường có hai loại ý kiến trái ngược nhau. Loại ý kiến thứ nhất cho rằng: không có bất kỳ quốc gia nào trong sự tồn tại và phát triển lại không hình thành một nền văn hoá có tính tổng thể và đặc thù, bao gồm các loại hình văn hoá khác nhau trong đó có văn hoá pháp lý. Điều này có nghĩa là, việc nhận diện một nền văn hoá pháp lý Việt Nam có tính độc lập với những bản sắc riêng là hoàn toàn có cơ sở lý luận và thực tiễn. Loại ý kiến thứ hai lại cho rằng: xét về mặt lịch sử, Việt Nam chưa hình thành một nền văn hoá pháp lý đặc thù, riêng biệt. Lý do vì Việt Nam là một quốc gia ở phương Đông, một thời gian dài trong lịch sử đã coi trọng đức trị mà không coi trọng pháp trị. Hơn nữa, Việt Nam chịu ảnh hưởng từ các nền văn hoá của các quốc gia đã từng thống trị trong lịch sử như Trung Quốc, Pháp, Nhật và Mỹ.

Theo chúng tôi, mặc dù là quốc gia ở phương Đông coi trọng đạo đức trong điều chỉnh quan hệ xã hội, nhưng Việt Nam cũng không hoàn toàn dùng đức trị. ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu lịch sử cho rằng, người Việt bắt đầu tiếp xúc với pháp luật khi chủ quyền đất nước nằm trong tay phong kiến phương Bắc và pháp luật đó là công cụ của phong kiến phương Bắc dùng để nô dịch, đồng hoá người Việt. Do đó, ngay từ buổi đầu, nhân dân ta đã có ý thức chống đối lại những quy định pháp luật mang tính áp đặt này bởi nó, xét về mặt bản chất là phi văn hoá. Văn hoá nói chung phải được gắn liền với chủ quyền dân tộc và tôn trọng những giá trị căn bản thuộc về con người, thì ở thời kỳ này, đòi hỏi trước hết của người Việt là phải đấu tranh để có được môi trường văn hoá đích thực. Đến thời Lý, Trần, pháp luật Việt được hình thành và ngày càng được chú trọng ở một số triều đại như Lê, Nguyễn. Nhiều bộ luật thành văn đã được hình thành và có giá trị, mặc dù về nội dung, pháp luật đó coi trọng tục lệ, kết hợp với đạo đức và tập quán. Như vậy, có thể khẳng định là: nền văn hóa pháp lý Việt Nam đã được hình thành trong lịch sử. Mặc dù nó còn sơ khai, lẫn lộn giữa luật pháp với đạo đức trong tiêu chuẩn đánh giá hành vi và lối ứng xử chung của cộng đồng. Tuy nhiên, về mặt lịch sử, lối sống tuân theo pháp luật ở Việt Nam chưa trở thành truyền thống và mang tính phổ biến trong mọi giai đoạn phát triển. Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, nhà nước Việt Nam kiểu mới đã củng cố nền văn hoá pháp lý bằng một thế giới quan mác-xít mang tính chọn lọc, kế thừa và phát huy truyền thống quí báu lâu đời của dân tộc. Đó là lòng yêu nước, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân - gia đình - làng xã - tổ quốc; lòng nhân ái; khoan dung, trọng nghĩa tình, đạo lý; sáng tạo trong lao động; sự tinh tế trong ứng xử... Chính các yếu tố này đã hun đúc, kết tinh một nền văn hoá mang bản sắc đặc thù Việt Nam, tạo nên một sức sống lâu bền và hiện vẫn là nhân tố tích cực đóng góp vào diện mạo của nền văn hoá nước nhà trong thời kỳ đổi mới. Tuy nhiên, Việt Nam từng chịu sự đô hộ của chế độ thực dân cả kiểu cũ và mới, nên ảnh hưởng bởi các giá trị văn hoá pháp lý khác là không thể tránh khỏi. Sự đan xen này có cả mặt tích cực và mặt tiêu cực.

3. Thực trạng và nguyên nhân thấp kém của nền văn hoá pháp lý Việt Nam

Thực trạng

Trong xu thế hội nhập và phát triển thì việc hài hoà hoá các giá trị của nền văn hoá pháp lý Việt Nam với văn hoá chung của các quốc gia, dân tộc khác trên các lĩnh vực là vấn đề tất yếu. Việc nhận diện về thực trạng thấp kém của nền văn hoá pháp lý nước ta hiện nay là thiết thực và cần thiết. Đó là:

Thứ nhất, mặt bằng dân trí nói chung và dân trí pháp lý nói riêng còn rất thấp

Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, trên 90% dân số nước ta mù chữ. Ngày nay, tất cả các tỉnh thành trong cả nước đã cơ bản xoá mù và phổ cập tiểu học, trung học cơ sở. Điều này cho thấy tình hình dân trí đã được cải thiện đáng kể. Tuy nhiên, với nền tảng như vậy, vẫn còn nhiều khó khăn để có thể nâng cao dân trí pháp lý và văn hoá pháp lý đối với nhân dân. Do tính đặc thù của giáo dục, đào tạo pháp luật khó có thể phổ cập được cho mọi đối tượng xã hội nên mặt bằng dân trí pháp lý được cải thiện chậm hơn và không đồng đều giữa các đối tượng xã hội, vùng, miền ở nước ta. Hiện nay, chúng ta có nhiều cơ sở đào tạo luật với nhiều hệ và hình thức đào tạo khác nhau, nhưng không có nghĩa là mọi người đều được học luật và bảo đảm pháp luật đến được với mọi người dân ở mọi lúc, mọi nơi.

Thứ hai, ý thức tôn trọng pháp luật và tính chủ động sử dụng pháp luật còn hạn chế

ý thức tôn trọng pháp luật và tính chủ động sử dụng pháp luật với tính cách là yếu tố của văn hoá pháp lý có vai trò cực kỳ quan trọng đối với cơ chế hành vi của các chủ thể. Mặc dù vậy, đây lại là một điểm yếu lớn nhất được nhận thấy trong thực tiễn pháp lý ở nước ta hiện nay. ý thức tôn trọng pháp luật của một số cơ quan nhà nước và công chức nhà nước chưa cao. Nhiều hiện tượng vi phạm pháp luật không phải do kém hiểu biết mà nguyên nhân chính là coi thường pháp luật. Chẳng hạn, có địa phương vì quyền lợi của mình mà đặt ra những quy định mang tính cát cứ gây cản trở cho việc thực thi pháp luật, trong khi chúng ta chưa có cơ chế kiểm soát hữu hiệu đối với mọi hoạt động của các cơ quan công quyền. Mặt khác, do quan niệm của một bộ phận nhân dân chưa nhận thức được đầy đủ và đúng đắn tính tối thượng của pháp luật trong điều chỉnh các quan hệ xã hội, nên ít sử dụng quyền pháp luật hoặc chưa tự giác thi hành nghĩa vụ pháp luật.

Thứ ba, ảnh hưởng của các phong tục, tập quán lạc hậu và lối sống cũ còn nặng nề

Việt Nam là một quốc gia ở phương Đông - nơi thường coi trọng các giá trị của đạo đức, tập quán trong điều chỉnh hành vi và quản lý xã hội. Do vậy, sự phát triển ưu trội của quan hệ đạo đức so với các quan hệ chính trị, pháp luật là một thực tế. Đa phần dân cư nước ta làm nghề nông, sống khép kín bởi cộng đồng làng xã. Mặt trái của tính quần cư cho thấy, đó là sự cục bộ địa phương, chủ nghĩa gia đình, dòng tộc... tạo nên sức ỳ lớn theo tính hướng nội, ít chủ động giao lưu bên ngoài, không nhạy bén đón bắt những cơ hội đổi thay của thời đại và một số nhân tố nổi trội bị san lấp hoặc coi thường. Đặc biệt một số phong tục, tập quán cũ, lạc hậu vẫn được duy trì trong cộng đồng, gây cản trở lớn đối với quá trình toàn cầu hoá trên các lĩnh vực.

Thứ tư, ảnh hưởng của cơ chế quản lý cũ còn lớn

Việc đổi mới với thời gian còn ngắn chưa đủ để chúng ta xoá hẳn được tư duy của cơ chế kế hoạch hoá tập trung, quan liêu, bao cấp và tích luỹ được các kinh nghiệm trong xây dựng pháp luật, ứng xử pháp luật và nhận thức các giá trị của pháp luật, kinh tế thị trường và xu thế toàn cầu hoá. Điều khó khăn là chúng ta chưa có được một nhận thức tổng thể và cụ thể cho quá trình đổi mới và phát triển nên có khi còn do dự, chần chừ, thiếu dứt khoát trong khi toàn cầu hoá diễn ra với tốc độ nhanh chóng.

Nguyên nhân của sự yếu kém

Thứ nhất, hệ thống pháp luật còn trong thời kỳ đổi mới nên chưa hoàn thiện và ổn định về các chuẩn mực và cách tác động

Văn hoá pháp lý là yếu tố nền tảng để ban hành quy phạm pháp luật và hoàn thiện hệ thống pháp luật. Ngược lại, hệ thống pháp luật là một trong các tiêu chí đánh giá văn hoá pháp lý, là cơ sở để củng cố và bảo vệ các giá trị văn hoá pháp lý. Sau 20 năm đổi mới, hoạt động xây dựng pháp luật nước ta từng bước phát triển để tạo lập cơ sở pháp lý cho điều chỉnh các quan hệ xã hội. Tuy nhiên, hệ thống pháp luật hiện vẫn còn thiếu tính toàn diện, đồng bộ. Khung pháp luật thiếu toàn diện, một số lĩnh vực quan trọng về kinh tế thị trường, an sinh xã hội, quốc phòng và an ninh quốc gia chưa có văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh cụ thể. Chất lượng văn bản quy phạm pháp luật chưa cao, nhiều quy định pháp luật không rõ ràng, thiếu ổn định, công tác hệ thống hoá pháp luật không được tiến hành thường xuyên, gây khó khăn cho việc tiếp cận, nhận thức và thực hiện pháp luật.

Thứ hai, chế độ trách nhiệm cá nhân chưa được đề cao trong các hoạt động pháp lý thực tiễn

Trách nhiệm cá nhân trong các hoạt động pháp lý nói chung là một yếu tố cơ bản phản ánh đặc tính văn hoá pháp lý của con người. Vì nhiều lý do mà tính chịu trách nhiệm cá nhân trong các hoạt động pháp lý, xã hội thực tế chưa cao. Chẳng hạn, do chủ nghĩa bình quân tập thể của cơ chế cũ để lại, do sự cản trở của yếu tố cộng đồng, tập quán...Dù do nguyên nhân gì đem lại, điều đó cũng thể hiện tính không tích cực, thụ động ảnh hưởng lớn đến quá trình sử dụng pháp luật, thực hiện quyền và nghĩa vụ pháp lý trong các quan hệ pháp luật. Xét cho cùng, nó không đồng thuận với những thuộc tính của văn hoá pháp lý.

Thứ ba, môi trường pháp chế chưa nghiêm

Văn hoá pháp lý đòi hỏi pháp luật được tôn trọng, cơ chế thực hiện pháp luật và bảo vệ pháp luật phải chặt chẽ và hiệu quả. Tuy nhiên, ở nước ta do nhiều nguyên nhân đem lại mà tính pháp chế trong các hoạt động pháp lý chưa cao. Hiện tượng vượt rào pháp luật vẫn xảy ra, tình trạng coi thường các quyết định áp dụng pháp luật vẫn còn, bản án và các quyết định của nhà nước đã phát sinh hiệu lực những vẫn không được thi hành nghiêm chỉnh...Tình hình này không những làm giảm hiệu lực các văn bản áp dụng pháp luật mà còn gây mất niềm tin của nhân dân, làm giảm nhiệt tình đầu tư của các nhà doanh nghiệp trong và ngoài nước. Và, văn hóa pháp lý bị mất đi các giá trị cần thiết (như: sự công bằng, bình đẳng và hợp pháp) trong tiến trình vận động.

Thứ tư, các hoạt động giáo dục, tuyên truyền và phổ biến pháp luật chưa đáp ứng nhu cầu đặt ra

Giáo dục, tuyên truyền, phổ biến pháp luật có tầm quan trọng đặc biệt đối với việc nâng cao trình độ văn hoá pháp lý và năng lực pháp lý thực tiễn của công dân. Hiện nay ở nước ta, chính sách của Nhà nước về phát triển thông tin và phổ biến, giáo dục pháp luật chưa đồng bộ và nhất quán. Thông tin pháp luật kém cập nhật, cát cứ, chưa tập trung. Các văn bản quy phạm pháp luật chưa được đăng tải đầy đủ trên công báo và các phương tiện thông tin đại chúng. Việc tuyên truyền phổ biến pháp luật còn mang nặng tính hình thức nên pháp luật ít đến với người dân và khó đi vào thực tiễn. Mặc dù giáo dục pháp luật đã được đưa vào giảng dạy ở các trường phổ thông nhưng còn hạn chế về nội dung, thiếu sự sinh động trong cấu trúc chương trình và phương pháp giảng dạy.

Thứ năm, công tác hỗ trợ pháp lý mới bước đầu được hình thành, hoạt động còn hạn chế

Hỗ trợ pháp lý là một lĩnh vực hoạt động mới xuất hiện ở nước ta trong thời gian gần đây. Trong điều kiện công tác giáo dục, tuyên truyền có những khó khăn đặc thù thì các hoạt động trợ giúp pháp lý càng thiết thực vì nó đáp ứng nhu cầu bức xúc của nhân dân, làm đa dạng hơn đời sống văn hoá pháp lý, giải quyết những vướng mắc trên các lĩnh vực của xu thế toàn cầu hoá. Tuy nhiên, hệ thống các tổ chức tư vấn pháp luật, trợ giúp pháp lý ở nước ta chưa đủ mạnh, chưa thật sự trở thành chỗ dựa để hỗ trợ các chủ thể trong quá trình bảo vệ quyền, lợi ích và thực hiện các giao dịch pháp lý có tính quốc tế. Trên thực tế, hoạt động của đoàn luật sư, hội luật gia, các trung tâm tư vấn chuyên môn (tư vấn về hôn nhân, gia đình; bất động sản; vốn; đầu tư; bảo đảm các giao dịch pháp lý...) còn manh mún, thiếu kinh nghiệm, chưa đủ sức giải quyết mọi yêu cầu đang đặt ra trong quá trình hội nhập quốc tế trên tất cả các lĩnh vực.

4. Xây dựng nền văn hoá pháp lý Việt Nam mang bản sắc dân tộc trong xu thế toàn cầu hoá

Có thể nói, hài hoà hoá các giá trị văn hoá pháp lý trong điều kiện hội nhập với thế giới là mục đích, là yêu cầu khách quan đối với của chúng ta. Việc cân đối giữa “cái ta đã có” để kết hợp với “cái ta đang cần” nhằm tạo nên diện mạo mới của nền văn hoá pháp lý nước nhà được coi là nội dung cốt yếu nhất của phương hướng xây dựng nền văn hoá pháp lý Việt Nam hiện nay.

Bảo vệ, phát triển văn hoá pháp lý dân tộc

Không có dân tộc nào đánh mất bản sắc văn hoá dân tộc mình trước áp lực của toàn cầu hoá, dù quá trình này diễn ra toàn diện và nhanh chóng. Tuy nhiên, nếu chỉ lo bảo thủ văn hoá dân tộc, không mở cửa đón nhận các giá trị văn hoá nói chung, văn hoá pháp lý nói riêng, chúng ta sẽ trở thành “ốc đảo” trong thế giới văn minh và thua kém, tụt hậu là điều không tránh khỏi.

Về phương diện lý luận, mục tiêu tối thượng của xây dựng nền văn hóa nói chung là nhằm tạo ra hai nhân tố: môi trường văn hoá và con người văn hoá. Hai nhân tố này tác động biện chứng lẫn nhau, trong đó nhân tố con người là quyết định. Xây dựng nền văn hoá pháp lý không thể không xây dựng những con người có văn hoá pháp lý, có học vấn pháp lý. Mặt khác, vì văn hoá pháp lý chỉ có thể xuất hiện trên cơ sở ý thức pháp luật và sự nhận thức về các giá trị xã hội của pháp luật, nên vai trò của tư tưởng pháp luật và thái độ tâm lý pháp luật của các chủ thể trong xử sự thực tế của họ là cực kỳ quan trọng. Muốn vậy, điều căn bản là phải xây dựng được một hệ tư tưởng pháp lý mang tính đặc thù Việt Nam. Hệ tư tưởng pháp lý là nguyên lý, tư tưởng, quan điểm thể hiện bản chất, phương pháp luận khách quan, ý thức hệ giai cấp trong pháp luật (hay thông qua pháp luật). Hệ tư tưởng pháp lý Việt Nam đóng vai trò chỉ đạo xử sự thực tiễn của các chủ thể trong các quan hệ pháp luật chính là hình thức phản ánh diện mạo văn hoá pháp lý trên thực tế. Hệ tư tưởng này phải là sự kết hợp giữa các nguyên lý về pháp luật và pháp luật xã hội chủ nghĩa với truyền thống lý luận - lịch sử pháp luật Việt Nam. Đó phải là sự kết hợp hài hoà giữa quan điểm mác-xít về pháp luật và các giá trị xã hội của pháp luật với quan điểm tư tưởng Hồ Chí Minh và của Đảng Cộng sản Việt Nam về pháp luật. Hệ tư tưởng đó đó được xây dựng trên hệ thống nguồn pháp luật đa dạng, thể hiện đường lối chính sách của Đảng ở mỗi giai đoạn và sự thừa nhận các chuẩn mực đạo đức, tập quán ưu việt, truyền thống. Đồng thời với quá trình nâng cao sự hiểu biết pháp luật, cần khơi dậy yếu tố truyền thống và các giá trị đạo đức, lịch sử cội nguồn của dân tộc, nhằm góp phần hình thành động cơ hành vi lành mạnh, hợp pháp, thái độ tâm lý pháp lý đúng đắn, tích cực trong ý thức của các chủ thể khi tham gia quan hệ pháp luật thực tế. Tuy nhiên, cần nhận diện từng góc độ, biểu hiện cụ thể của văn hoá pháp lý mà hình thành các giải pháp cho phù hợp.

Tiếp nhận các giá trị văn hoá pháp lý nhân loại

Toàn cầu hoá, hợp tác và cạnh tranh là xu thế khách quan trong thập kỷ này và những thập kỷ tới. Quan điểm chủ động hội nhập cần được quán triệt sâu sắc trên tất cả các lĩnh vực xây dựng, tổ chức thực hiện, bảo vệ pháp luật và tiếp nhận các giá trị văn hoá pháp lý. Đây là một thực tế khách quan bởi văn hoá luôn có tính phổ biến, đó là sản phẩm của nhân loại, chúng ta không thể “khép kín” để từ chối các giá trị, loại hình văn hoá nhân loại. Tuy nhiên, đây cũng là một thách thức không nhỏ. Bởi lẽ, toàn cầu hoá diễn ra với tốc độ nhanh trên tất cả các lĩnh vực, trong lúc chúng ta chưa chuẩn bị đủ (và không thể đủ do khoảng cách quá lớn) các điều kiện cần thiết để tiếp nhận các nội dung toàn cầu hoá. Toàn cầu hoá sẽ tạo nên một sức ép lớn về kinh tế, thương mại, nhất là khi chúng ta tham gia WTO. Và, nếu không đủ điều kiện cần thiết cho sự tiếp nhận hoặc tiếp nhận một cách nửa vời thì toàn cầu hoá đối với kinh tế, xã hội nước ta sẽ không mang tính tích cực. Cùng với quá trình đó, toàn cầu hoá sẽ làm biến đổi thang giá trị pháp lý, xã hội từ lâu đã được chấp nhận ở nước ta. Điều này cũng có nghĩa là các giá trị văn hoá pháp lý được chuyển tải thông qua quá trình toàn cầu hoá sẽ thâm nhập nước ta một cách không trọn vẹn, méo mó. Trong lúc đó, xu thế toàn cầu hoá là xu thế của phát triển, tiến bộ và đa dạng mà nhân loại đang đi. Cần nhìn nhận đúng nội dung, yêu cầu, đặc điểm và những thuận lợi, khó khăn cũng như thách thức của đất nước để có lộ trình hoà nhập hợp lý, nhằm tiếp nhận các giá trị văn minh pháp lý của nhân loại. Điều đó đòi hỏi sự tiếp thu có chọn lọc những giá trị của các nền văn hoá pháp lý trên thế giới với phương châm “hội nhập nhưng không hoà tan”, đồng thời mở rộng sự giao lưu với các nền văn hoá khác dưới nhiều hình thức. Nâng cao sự hiểu biết pháp luật và khả năng ứng xử trước các tình huống pháp luật thực tế đối với mọi chủ thể, nhằm thích ứng kịp với văn minh của lối sống mới - lối sống theo pháp luật. Đồng thời, gạt bỏ tư tưởng quá coi trọng lối sống “đức trị”, “nhân trị” mà hạ thấp vai trò của pháp luật trong quản lý xã hội./.

Theo Lê Vương Long, TC NCLP

Các tin tiếp
Các tin trước
TIÊU ĐIỂM
Xem nhiều nhất