Luật Đất đai hạn chế quyền khởi kiện của người khiếu nại?
9:59' 2/12/2007
Luật Khiếu nại, tố cáo quy định trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại các quyết định hành chính, hành vi hành chính trong tất cả các lĩnh vực thuộc quản lý hành chính nhà nước. Tuy nhiên, theo Luật Đất đai thì các khiếu nại về quyết định hành chính và hành vi hành chính trong lĩnh vực đất đai lại được giải quyết theo một cơ chế riêng, không thống nhất với các quy định trong Luật Khiếu nại, tố cáo. Những điểm mâu thuẫn này đã gây khó khăn cho quá trình áp dụng pháp luật trong thực tiễn.

Hạn chế quyền của người khiếu nại

Một trong những điểm mới cơ bản của Luật Khiếu nại, tố cáo được sửa đổi, bổ sung năm 2005 là quy định về cơ chế giải quyết khiếu nại. Để khắc phục những hạn chế, vướng mắc trong công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo, nhất là việc có quá nhiều tầng nấc giải quyết khiếu nại hành chính, đồng thời đáp ứng yêu cầu người khiếu nại có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại bất cứ lần giải quyết nào của cơ quan hành chính, Luật Khiếu nại, tố cáo (sửa đổi, bổ sung) đã quy định cơ chế giải quyết khiếu nại theo hướng: Cơ quan có quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khiếu nại là cấp giải quyết lần đầu; Nếu người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết hoặc quá thời hạn mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khiếu nại lên cơ quan hành chính cấp trên hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Toà án. Quy định mới này thông thoáng hơn, người dân có thể yêu cầu cơ quan tư pháp bảo vệ mình trong trường hợp quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm hại.
 
Trong khi đó, Khoản 2, Điều 138 Luật Đất đai lại quy định: Trường hợp khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính về quản lý đất đai do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh giải quyết lần đầu mà người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khởi kiện tại Toà án nhân dân hoặc tiếp tục khiếu nại đến Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Trong trường hợp khiếu nại đến Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thì quyết định của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương là quyết định giải quyết cuối cùng. Quy định này của Luật Đất đai năm 2003 đã hạn chế quyền khởi kiện của người khiếu nại.

Không thống nhất thời hạn giải quyết khiếu nại

Luật Khiếu nại, tố cáo quy định về thời hạn giải quyết khiếu nại như sau:  Thời hạn giải quyết khiếu nại lần đầu không quá 30 ngày, kể từ ngày thụ lý để giải quyết; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết khiếu nại có thể kéo dài hơn, nhưng không quá 45 ngày, kể từ ngày thụ lý để giải quyết. Ở vùng sâu, vùng xa đi lại khó khăn thì thời hạn giải quyết khiếu nại lần đầu không quá 45 ngày, kể từ ngày thụ lý để giải quyết; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết khiếu nại có thể kéo dài hơn, nhưng không quá 60 ngày, kể từ ngày thụ lý để giải quyết. Thời hạn giải quyết khiếu nại lần hai không quá 45 ngày, kể từ ngày thụ lý để giải quyết; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết khiếu nại có thể kéo dài hơn, nhưng không quá 60 ngày, kể từ ngày thụ lý để giải quyết. Ở vùng sâu, vùng xa đi lại khó khăn thì thời hạn giải quyết khiếu nại lần hai không quá 60 ngày, kể từ ngày thụ lý để giải quyết; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết khiếu nại có thể kéo dài hơn, nhưng không quá 70 ngày, kể từ ngày thụ lý để giải quyết.

Tuy nhiên, tại Khoản 2, Điều 138 Luật Đất đai lại quy định: Thời hiệu khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính về quản lý đất đai là 30 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hành chính hoặc biết được có hành vi hành chính đó. Trong thời hạn 45 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu mà người khiếu nại không đồng ý thì có quyền khiếu nại đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân. Việc quy định không thống nhất giữa hai văn bản nêu trên về thời hạn giải quyết khiếu nại có thể dẫn đến những hậu quả pháp lý khác nhau trong quá trình áp dụng.
Điều 2 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Khiếu nại, tố cáo năm 2005 quy định bãi bỏ khoản 15 của Điều 2 giải thích thuật ngữ “Quyết định giải quyết khiếu nại cuối cùng”; Thay cụm từ “ quyết định này là quyết định giải quyết khiếu nại cuối cùng” bằng cụm từ “quyết định này là quyết định có hiệu lực thi hành”. Như vậy, trong giải quyết khiếu nại hiện nay không còn tồn tại cụm từ “giải quyết khiếu nại cuối cùng”.  Tuy nhiên, Luật Đất đai năm 2003 vẫn quy định: Trong trường hợp khiếu nại đến Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thì quyết định của Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương là quyết định giải quyết cuối cùng.
Như vậy, giữa Luật Khiếu nại, tố cáo và Luật Đất đai hiện hành có những khác biệt trong quy định về thủ tục giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực đất đai. Trong tình trạng pháp luật thiếu thống nhất thì việc áp dụng pháp luật sẽ gặp nhiều khó khăn. Để đảm bảo tính thống nhất trong việc giải quyết khiếu nại các quyết định hành chính, hành vi hành chính trong các lĩnh vực thuộc quản lý hành chính nhà nước, Luật Đất đai cũng như các văn bản khác cần tuân theo các quy định về trình tự, thủ tục đã được quy định trong Luật Khiếu nại, tố cáo. Trong thời gian tới, các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cần sớm giải thích, hướng dẫn cụ thể về những vướng mắc nêu trên để việc áp dụng pháp luật thuận lợi và thống nhất.

Nguồn: Báo Người Đại biểu nhân dân

Các tin tiếp
Thương hiệu quốc gia?!    (20/3/2008)
Các tin trước
Điều lệ... vô hiệu    (23/11/2007)
TIÊU ĐIỂM
Xem nhiều nhất