Một trong các nguyên lý cơ bản của pháp luật dân sự là phải ổn định. Vì vậy, thông thường người ta chỉ chọn những vấn đề có tính ổn định, ít bị tác động của các quyết định chính trị, nhất là các quyết định chính trị ngắn hạn để quy định trong Bộ luật dân sự. Điều đó có ích lợi lớn lao cho cho sự ổn định và phát triển xã hội.
Các quy định về biện pháp khẩn cấp tạm thời trong Bộ luật Tố tụng dân sự đã là một bước tiến mới phản ánh một nền tố tụng dân chủ, đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn giải quyết tranh chấp dân sự là tính nhanh chóng và sự bảo đảm an toàn pháp lý cho các bên đương sự trong việc bảo vệ quyền lợi của họ. Trên cơ sở quy định của Bộ luật TTDS, Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Nghị quyết số 02/2005/NQ-HĐTP ngày 27/4/2005 hướng dẫn thi hành một số quy định tại Chương VIII “Các biện pháp khẩn cấp tạm thời” của Bộ luật TTDS. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng đã cho thấy các quy định về biện pháp khẩn cấp tạm thời trong Bộ luật TTDS - bên cạnh những ưu việt - đã bộc lộ một số hạn chế, chưa tương thích và bao quát hết được thực tiễn. Từ đó, đòi hỏi cần phải tiếp tục nghiên cứu, hướng dẫn, bổ sung. Bài viết này tiến hành đánh giá một số quy định của pháp luật tố tụng dân sự về BPKCTT và bước đầu đưa ra những đề xuất, kiến nghị để hoàn thiện.
Đề nghị giao kết hợp đồng là một vấn đề quan trọng của hợp đồng. Vì vậy, Công ước Viên về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế của Liên hiệp quốc năm 1980 (CISG), Bộ nguyên tắc về hợp đồng thương mại quốc tế của UNIDROIT năm 2004 (PICC) và Bộ luật Dân sự năm 2005 của Việt Nam (BLDS 2005) đều có những quy định về vấn đề này. Qua những tình huống thực tiễn, chúng tôi tập trung phân tích, so sánh những quy định về đề nghị giao kết hợp đồng trong các văn bản trên để đưa ra những kiến nghị hoàn thiện các quy định của BLDS về đề nghị giao kết hợp đồng.
Trong quan niệm Latinh, vật quyền (jus in re) được hiểu là quyền được chủ thể (người có quyền) thực hiện trực tiếp và tức thì trên một vật mà không cần vai trò trung gian của một người khác1. Trong chừng mực đó, vật quyền đối lập với trái quyền (jus ad rem), tức là quyền được thực hiện chống lại một người nhằm đòi hỏi một lợi ích về tài sản, cụ thể là một số tiền.
Các học giả ngày nay không thể không thừa nhận rằng, luật tư là một ngành luật cơ bản, trong sự khác biệt với luật công, luôn luôn gắn bó với đời sống thường nhật của con người, và đã được sinh ra từ mối quan hệ cơ bản và bình thường của con người từ thời thượng cổ. Nó ít bị biến đổi theo các trào lưu chính trị và chỉ tự làm cho mình phù hợp với các hoàn cảnh xã hội cụ thể bằng cách bồi đắp hay cập nhật thêm những điểm mới, hoặc gọt giũa đi những điểm đã già cỗi. Nhưng tóm lại cái gốc của nó vẫn còn nguyên vẹn như từ thủa mới sinh. Chỉ những nền tài phán nào không xây dựng trên cái gốc đó, cái nền tảng đó mới luôn luôn bị rung chuyển, bị xáo trộn, bị hoang mang. Phải chăng nền pháp luật của Việt Nam hiện nay cũng như vậy?
Vật quyền từ xưa tới nay trên thế giới vẫn được xem là phạm vi truyền thống của luật tài sản. Thế nhưng, vật quyền lại ít được nhắc đến tên trong các văn bản pháp luật Việt Nam và ngay cả trong các giáo trình dạy luật dân sự, mặc dù nội dung của nó đã xuất hiện không ít (tuy chưa đầy đủ) trong Bộ luật Dân sự 2005 và trong một số đạo luật khác.
Điều 645 Bộ luật Dân sự năm 2005 (BLDS) quy định thời hiệu khởi kiện để người thừa kế yêu cầu chia di sản, xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế (thời điểm mở thừa kế theo Điều 633 Bộ luật Dân sự là thời điểm người có tài sản chết). Thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế quy định tại điều này được coi là khá rõ ràng và phù hợp hơn so với quy định của Bộ luật Dân sự năm 1995.
Chứng minh và chứng cứ là yếu tố xương sống của pháp luật tố tụng nói chung trong đó có pháp luật tố tụng dân sự. Mọi hoạt động tố tụng đều tập trung làm rõ những vấn đề cần phải chứng minh bằng việc thu thập và đánh giá chứng cứ. Có thể nói rằng chế định chứng minh và chứng cứ của Bộ luật Tố tụng Dân sự (BLTTDS) không chỉ thay đổi về lượng mà còn đã biến đổi cả về chất so với pháp luật tố tụng dân sự trước đây. Đó là đã quy định và cụ thể hoá nguyên tắc cơ bản trách nhiệm cung cấp chứng cứ và chứng minh thuộc về các đương sự. Tuy vậy, một mặt do chế định này vẫn còn tồn tại những khoảng trống, mặt khác do trình độ nhận thức và ý thức chấp hành pháp luật của mọi người còn hạn chế nên thực tế đã không phát huy được tác dụng của các quy định mới này.
Theo quy định của pháp luật, trong trường hợp xác lập giao dịch giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba thì giao dịch đó vô hiệu (Điều 129 BLDS).
Bài viết dưới đây trao đổi từ góc độ thực tiễn vận dụng các quy định pháp luật liên quan đến vấn đề này, gồm việc ủy quyền lại trong nội bộ pháp nhân và ủy quyền lại của pháp nhân cho một pháp nhân khác.
Xem theo ngày tháng  / /    Xem tiếp
TIÊU ĐIỂM
Xem nhiều nhất