Những bất cập của pháp luật về đình chỉ việc giải quyết vụ án dân sự
14:47' 13/4/2007
Đình chỉ việc giải quyết vụ án dân sự (VADS) là trường hợp tòa án ngừng việc giải quyết VADS đã thụ lý dựa trên những căn cứ luật định. Quyết định đình chỉ việc giải quyết VADS của tòa án cấp sơ thẩm có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

Đình chỉ việc giải quyết vụ án dân sự (VADS) là trường hợp tòa án ngừng việc giải quyết VADS đã thụ lý dựa trên những căn cứ luật định. Quyết định đình chỉ việc giải quyết VADS của tòa án cấp sơ thẩm có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm. Khi có quyết định đình chỉ giải quyết VADS, đương sự không có quyền khởi kiện yêu cầu tòa án giải quyết lại VADS đó, nếu việc khởi kiện vụ án sau không có gì khác với vụ án trước về nguyên đơn, bị đơn và quan hệ pháp luật có tranh chấp, trừ những trường hợp pháp luật có quy định khác (xem Điều 193 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 - BLTTDS). Đình chỉ việc giải quyết VADS đúng pháp luật giúp cho việc giải quyết các VADS được nhanh chóng, tiết kiệm thời gian, tiền của của nhà nước và của người dân. Tuy nhiên, nếu ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án sai sẽ ảnh hưởng rất lớn đến quyền khởi kiện của các đương sự, có thể gây tranh cãi, rắc rối kéo dài, gây mất đoàn kết trong nhân dân.

Theo Điều 192 BLTTDS thì các căn cứ để tòa án đình chỉ việc giải quyết VADS là:

“a) Nguyên đơn hoặc bị đơn là cá nhân đã chết mà quyền, nghĩa vụ của họ không được thừa kế;...

c) Người khởi kiện rút đơn khởi kiện và được tòa án chấp nhận hoặc người khởi kiện không có quyền khởi kiện;...

e) Nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt;...”.

Những căn cứ này là cơ sở pháp lý để tòa án ra quyết định đình chỉ việc giải quyết VADS. Tuy nhiên, trong thực tế, có những phát sinh mà các toà án có cách giải quyết hết sức khác nhau do pháp luật quy định chưa rõ ràng dẫn đến quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự bị ảnh hưởng.

1. Trường hợp nguyên đơn hoặc bị đơn là cá nhân đã chết mà quyền, nghĩa vụ của họ không được thừa kế

Khi tòa án đang tiến hành giải quyết vụ án mà một trong các đương sự chết, điều này ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Đương sự chết mà quyền, nghĩa vụ của họ không được thừa kế được hiểu: quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật không được thừa kế. Trường hợp này thường gắn liền với quyền, nghĩa vụ nhân thân của mỗi cá nhân không thể chuyển giao cho người khác. Do tính chất nhân thân nên khi đương sự chết, quyền và nghĩa vụ nhân thân đương nhiên chấm dứt. Do đó, tòa án phải đình chỉ việc giải quyết vụ án vì đối tượng xét xử không còn nữa. Nhưng trường hợp quyền và nghĩa vụ của đương sự được thừa kế nhưng không có người thừa kế, người thừa kế từ chối hoặc bị tước quyền tham gia tố tụng do người thừa kế thuộc trường hợp của Điều 646 Bộ luật dân sự (BLDS) năm 1995 (hiện nay là Điều 642, 643 BLDS năm 2005) thì giải quyết như thế nào, đặc biệt là trường hợp bị đơn chết mà quyền và nghĩa vụ tài sản của họ không có người thừa kế, họ có tài sản để thực hiện yêu cầu của nguyên đơn. Trong thực tế, các tòa án thường giải quyết theo các phương án khác nhau. Có tòa án máy móc căn cứ luôn điểm a, Khoản 1 Điều 192 BLTTDS ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án. Theo chúng tôi, điều đó là không hợp lý, bởi:

Điều 647 BLDS năm 1995 quy định “nếu không có người thừa kế theo di chúc, theo pháp luật hoặc có nhưng không được quyền hưởng di sản, từ chối quyền hưởng di sản, thì di sản không có người thừa kế thuộc về nhà nước” và Khoản 4, Điều 640 BLDS năm 1995 về thực hiện nghĩa vụ tài sản theo di chúc do người chết để lại thì “nhà nước, cơ quan, tổ chức hưởng di sản theo di chúc thì cũng phải thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại là cá nhân”.

Còn Điều 644 BLDS năm 2005 cũng quy định tương tự rằng: “trong trường hợp không có người thừa kế theo di chúc, theo pháp luật hoặc có nhưng không được quyền hưởng di sản, từ chối nhận di sản thì tài sản còn lại sau khi đã thực hiện nghĩa vụ về tài sản mà không có người nhận thừa kế thuộc nhà nước”.

Có thể thấy, nếu không có người thừa kế, pháp luật chưa quy định nhà nước hưởng di sản với tư cách gì nhưng nếu tòa án đình chỉ việc giải quyết vụ án sẽ quá thiệt thòi cho các đương sự còn lại. Ví dụ, hợp đồng vay giữa nguyên đơn và bị đơn là hợp pháp, bị đơn có tài sản nhưng không chịu trả. Khi tòa án giải quyết vụ án, bị đơn chết mà tòa án xét xử sơ thẩm hay phúc thẩm đình chỉ việc giải quyết vụ án thì rõ ràng quyền lợi của nguyên đơn không được bảo đảm.

Vì vậy, theo chúng tôi, đại diện của cơ quan nhà nước nhận tài sản của bị đơn sẽ phải tiếp tục tham gia tố tụng thay bị đơn để giải quyết tranh chấp với nguyên đơn. Việc này đại diện cơ quan nhà nước có thể thuê luật sư hoặc sử dụng luật sư công thay mặt nhà nước tham gia tố tụng. Khi trả xong món nợ của bị đơn đối với nguyên đơn, thì nhà nước mới nhận được tài sản của bị đơn. Đó cũng là cách tốt nhất để bảo đảm quyền lợi của nguyên đơn, của nhà nước.

2. Trường hợp người khởi kiện rút đơn khởi kiện và được tòa án chấp nhận hoặc người khởi kiện không có quyền khởi kiện

Người khởi kiện có thể là: đương sự bao gồm công dân (có đầy đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự), pháp nhân, tổ hợp tác, hộ gia đình.... người đại diện của đương sự; ủy ban bảo vệ và chăm sóc trẻ em; Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam có quyền khởi kiện đối với các việc được quy định tại Điều 15, 42, 55, 66, 77 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000. Khi các chủ thể nêu trên khởi kiện và sau đó rút đơn kiện, tòa án đình chỉ việc giải quyết vụ án.

Theo chúng tôi, căn cứ này chưa hợp lý và mang tính chất chủ quan của tòa án. Bởi lẽ, căn cứ này vô hình trung đã để quyền được hưởng kết quả của việc đình chỉ vụ án của đương sự lại phụ thuộc quá nhiều vào tòa án, cụ thể ở đây là ý chí chủ quan của thẩm phán giải quyết vụ việc thông qua việc “chấp nhận” chứ không hoàn toàn dựa trên những tình tiết khách quan do pháp luật quy định. Điều đó sẽ tạo ra tính tùy tiện của các tòa án khi giải quyết vụ việc. Vì vậy, để đình chỉ việc giải quyết VADS được chính xác, khách quan thì pháp luật không nên quy định việc rút đơn này phải có sự chấp thuận của tòa án. Bất cứ khi nào có đủ điều kiện pháp luật quy định cho việc đình chỉ việc giải quyết VADS thì tòa án phải đình chỉ việc giải quyết VADS chứ không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của thẩm phán.

Mặt khác, trong trường hợp ủy ban bảo vệ và chăm sóc trẻ em; Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam khởi kiện và rút đơn kiện nhưng có nguyên đơn và nguyên đơn yêu cầu tiếp tục giải quyết vụ án thì theo chúng tôi, tòa án không nên đình chỉ việc giải quyết vụ án vì nếu tòa án đình chỉ, nguyên đơn hoặc người đại diện của họ lại tiếp tục khởi kiện và tòa án phải thụ lý, giải quyết vụ án dẫn đến việc xét xử rất mất thời gian.

Một vấn đề nữa được đặt ra là, khi người khởi kiện là đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn đã rút đơn khởi kiện, tòa án có đương nhiên ra quyết định đình chỉ không? Ví dụ, A ủy quyền cho B đòi tiền C. Trong quá trình giải quyết vụ án, B thỏa thuận với C nhận số tiền ít hơn A yêu cầu và rút đơn khởi kiện (chưa có sự đồng ý của A).

Trong thực tế, những trường hợp tương tự ví dụ trên diễn ra rất nhiều và các tòa án cũng có cách giải quyết hết sức khác nhau. Theo chúng tôi, trường hợp này tòa án không được đình chỉ việc giải quyết vụ án mà cần phải xem xét kỹ hợp đồng ủy quyền vì B đã vượt quá thẩm quyền (lấy số tiền ít hơn A yêu cầu mà không hỏi ý kiến A), vi phạm hợp đồng ủy quyền. Người đại diện ủy quyền có quyền và nghĩa vụ của đương sự trong phạm vi ủy quyền. Bởi vậy, người đại diện rút đơn chỉ coi là hợp pháp khi nó phù hợp với ý chí và nguyện vọng của nguyên đơn. Tức là quyền rút đơn khởi kiện của người đại diện thuộc phạm vi ủy quyền.

3. Trường hợp nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt

Nguyên đơn là người được giả thiết có quyền hoặc lợi ích bị xâm phạm hay tranh chấp nên khởi kiện hoặc được người khác khởi kiện theo quy định của pháp luật nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người đó. Vì vậy, hơn ai hết, họ phải có mặt để tòa án bảo vệ quyền lợi của họ. Nếu nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt tức là họ đã không quan tâm hay từ bỏ lợi ích của mình. Vì vậy, tòa án phải đình chỉ việc giải quyết vụ án.

Tuy nhiên, cách diễn đạt điều luật chưa thật chính xác. Không phải mọi trường hợp tòa án đều đình chỉ việc giải quyết vụ án khi xảy ra trường hợp này mà theo chúng tôi là việc vắng mặt đó phải không có lý do chính đáng - đó là những sự kiện bất khả kháng mà nguyên đơn không thể lường trước được như: bị ốm đau nặng, bị thiên tai, địch họa... thì tòa án mới đình chỉ việc giải quyết vụ án.

Ngoài ra, trong thực tiễn, việc áp dụng căn cứ này của tòa án cũng gặp rất nhiều khó khăn, vướng mắc do BLTTDS chưa quy định rõ. Trong trường hợp vụ án có nhiều nguyên đơn mà một trong các nguyên đơn vắng mặt không có lý do chính đáng dù đã được triệu tập đến lần thứ hai còn các nguyên đơn khác đều có mặt theo giấy triệu tập của tòa án, tòa án sẽ giải quyết ra sao? Vấn đề này do pháp luật quy định chưa rõ ràng, nên nó được áp dụng hết sức khác nhau tùy theo ý chí chủ quan của các thẩm phán. Theo chúng tôi, pháp luật về tố tụng dân sự nên hướng dẫn rõ theo hướng:

- Nếu vụ án có nhiều nguyên đơn nhưng mỗi nguyên đơn có yêu cầu riêng biệt đối với bị đơn thì, về bản chất, trường hợp này tòa án đã nhập nhiều vụ án về cùng một nhóm quan hệ pháp luật có tranh chấp thành một vụ án. Do vậy, khi một nguyên đơn vắng mặt lần hai không có lý do chính đáng, tòa án có thể tách vụ kiện ra để giải quyết yêu cầu của các đương sự có mặt. Việc tách này sẽ bảo đảm cho tòa án giải quyết nhanh chóng vụ việc, đúng pháp luật, bảo vệ quyền của các nguyên đơn có mặt.

- Nếu vụ án có đồng nguyên đơn mà một trong các nguyên đơn vắng mặt lần hai không có lý do chính đáng, thì tòa án nên tiếp tục xét xử để bảo đảm quyền lợi cho các nguyên đơn có mặt. Tòa án không thể vì lý do vắng mặt không chính đáng của một nguyên đơn mà để nguyên đơn khác không thực hiện được quyền khởi kiện của họ. Mặt khác, vì các tài sản có tranh chấp của đồng nguyên đơn thường có giá trị rất lớn nên tiền tạm ứng án phí cao; nếu tòa án đình chỉ việc giải quyết vụ án thì tiền tạm ứng án phí bị sung công quỹ. Điều đó rất thiệt cho nguyên đơn có mặt. Vì vậy, việc tòa án tiếp tục xét xử là hợp lý. Nguyên đơn vắng mặt phải chấp nhận bản án xét xử vắng mặt mình.

Qua một vài phân tích được rút ra từ thực tế cho thấy, BLTTDS đã quy định tương đối đầy đủ về các trường hợp đình chỉ việc giải quyết VADS. Tuy nhiên, các quy định này chưa mang tính bao quát, nên dẫn đến những cách hiểu khác nhau, những kẽ hở trong việc áp dụng pháp luật. Điều đó gây khó khăn cho công tác xét xử án dân sự của các tòa án cũng như xảy ra hiện tượng tùy tiện trong áp dụng pháp luật dẫn đến pháp chế xã hội không được nghiêm minh, quyền và lợi ích hợp pháp của người dân không được bảo đảm. Thiết nghĩ, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, trong phạm vi nhiệm vụ và quyền hạn của mình phải làm cho pháp luật tố tụng dân sự mang tính thực tế hơn nữa.

Nguyễn Đăng Hải
Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp điện tử

Ý KIẾN BẠN ĐỌC VỀ BÀI VIẾT NÀY

Họ và tên : *  
Địa chỉ :  
Email : *  
Ý kiến của bạn : *

Mã bảo vệ :

 

Các tin tiếp
Các tin trước
TIÊU ĐIỂM
Xem nhiều nhất