Bản án dân sự sơ thẩm với nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự
15:1' 21/8/2009

Bản án dân sự là kết quả của toàn bộ quá trình giải quyết vụ án dân sự. Nó xác định sự thật khách quan, phân tích vụ án một cách đầy đủ và toàn diện trên cơ sở vận dụng đúng đắn đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước để xác định rõ quyền và nghĩa vụ của các đương sự. Thông qua bản án, mọi người hiểu rõ hơn, sâu sắc hơn các quy định pháp luật được Tòa án vận dụng trong hoạt động xét xử, qua đó hướng cho mọi người có cách hành sử phù hợp.



Tuy nhiên không phải bản án dân sự nào cũng đi vào cuộc sống. Để đánh giá chất lượng của một bản án, người ta phải dựa trên nhiều tiêu chí khác nhau : tính có căn cứ, tính khách quan, tính hợp pháp, tính kinh tế...nhưng trong đó phải kể đến tính phù hợp. Một trong những yếu tố đảm bảo tính phù hợp là sự phù hợp trong quyết định của bản án với quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự.

1.  Hiểu như thê nào về nguyên tắc này ?

Quyền quyết định và tự định đoạt của các đương sự là một trong những nguyên tắc cơ bản, đặc trưng của tố tụng dân sự. Nó xuất phát từ bản chất của các quan hệ dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh- thương mại, lao động là các quan hệ được xác lập trên cơ sở tự nguyện thỏa thuận và bình đẳng giữa các chủ thể khi tham gia giao kết. Vì thế, khi quyền và lợi ích của các chủ thể giao kết bị vi phạm thì việc khởi kiện hay không, phạm vi khởi kiện đến mức độ nào hoàn toàn phụ thuộc vào chính ý chí các chủ thể đó. Từ bản chất đó, Điều 5  BLTTDS đã quy định :

“1. Đương sự có quyền quyết định việc khởi kiện, yêu cầu Toà án có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự. Toà án chỉ thụ lý giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó;

2. Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, các đương sự có quyền chấm dứt, thay đổi các yêu cầu của mình hoặc thoả thuận với nhau một cách tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội”.

Theo quy định trên, quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự được thể hiện trên các phương diện: (1) Khởi kiện một hoặc nhiều bị đơn ra toà án (một hoặc nhiều cá nhân,cơ quan, tổ chức khác) về một quan hệ pháp luật hoặc nhiều quan hệ pháp luật có liên quan với nhau để giải quyết trong cùng một vụ án ; (2) Đưa ra, thay đổi, bổ sung hoặc rút yêu cầu khởi kiện (có thể là thay đổi, bổ sung đối tượng khởi kiện (thay đổi, bổ sung những yêu cầu đối với bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan). Ví dụ, trong vụ án kiện yêu cầu xác định cha (hoặc mẹ) cho con, nguyên đơn bổ sung yêu cầu buộc bị đơn thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng và (3) Đưa ra, thay đổi, bổ sung hoặc rút căn cứ khởi kiện (thay đổi, bổ sung tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện là có căn cứ và hợp pháp) bằng cách nêu ra những tình tiết mới và lập luận cho yêu cầu của mình, hoặc bằng cách rút bỏ những tình tiết, sự kiện đã được viện dẫn trong đơn kiện… Ví dụ, để thay đổi căn cứ yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu do bị nhầm lẫn, nguyên đơn xuất trình tài liệu, chứng cứ mới để chứng minh hợp đồng được giao kết là do bị lừa dối, đe dọa…

2. Nguyên tắc trên có được bảo đảm khi Thẩm phán viết bản án ?

Với cách hiểu như trên, phần lớn các bản án dân sự sơ thẩm đã thể hiện được rõ quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự. Trên cơ sở đó, quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự đã được bảo đảm. Bên cạnh đó, vẫn còn một số bản án mà khi viết, nguyên tắc này chưa được quán triệt một cách triệt để.

Thứ nhất, nhiều trường hợp quyết định của bản án vượt khỏi phạm vi yêu cầu của đương sự.

Trong vụ án tranh chấp lao động cá nhân về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, người lao động bị người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật, họ chỉ yêu cầu Tòa án buộc người sử dụng lao động nhận họ trở lại làm việc, bồi thường những ngày không được làm việc, không yêu cầu người sử dụng lao động bồi thường tiền lương những ngày không báo trước, tiền vi phạm do việc chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật. Những yêu cầu này đã được xác định cụ thể trong đơn khởi kiện và các bản tự khai của đương sự nhưng nhiều quyết định của bản án vẫn buộc người sử dụng lao động bồi thường tiền lương những ngày không báo trước theo khoản 3 Điều 38 BLLĐ, tiền phạt vi phạm do việc chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật.

Đối với các vụ án dân sự, quyết định của bản án vượt quá yêu cầu của đương sự thường xảy ra ở các vụ án đòi nhà cho thuê, cho ở nhờ hay người đang chiếm hữu nhà bất hợp pháp mà những người này đã cải tạo, sửa chữa, nâng cấp nhà họ đang ở. Có trường hợp nhà cũ đã được phá đi làm lại toàn bộ hay xây thêm những diện tích mới. Những trường hợp này trước đây các Tòa án vẫn giải quyết nếu buộc người đang chiếm hữu nhà phải trả lại nhà thì bản án cũng quyết định luôn người được lấy lại nhà phải trả lại cho người đang chiếm hữu nhà một khoản tiền mà họ đã phải bỏ ra để sửa chữa, nâng cấp nhà hoặc xây dựng, dù những người đang chiếm hữu nhà không yêu cầu khoản tiền đó mà chỉ có một yêu cầu: không đồng ý trả nhà. Cá biệt có trường hợp khi đọc bản án thấy đương sự chỉ yêu cầu đòi nhà ở do cho mượn nhưng bản án lại tuyên phải trả luôn cả nhà ở và phần diện tích phụ tách rời nhà ở không nằm trong đối tượng mà đương sự yêu cầu.

Việc giải quyết như trên hợp lý là giải quyết ngay quyền, lợi ích cho người phải trả nhà trong cùng một vụ án. Song nếu hiện nay Tòa án giải quyết như vậy sẽ trái với quy định tại Điều 5 BLTTDS. Hơn nữa, trường hợp bị đơn (người phải trả nhà) chỉ không đồng ý trả nhà, họ không yêu cầu nguyên đơn bồi thường giá trị xây cất, sửa  chữa nhà, Toà tự đi định giá để có cơ sở giải quyết vụ án là trái với Điều 85, 92 BLTTDS. Theo Điều 178 BLTTDS người phải trả lại nhà (bị đơn) muốn yêu cầu người được lấy lại nhà (nguyên đơn) trả khoản tiền mà họ đã bỏ ra để cải tạo, xây dựng, nâng cấp nhà (đây chính là yêu cầu phản tố của bị đơn) thì họ cũng phải làm đúng thủ tục như thủ tục khởi kiện của nguyên đơn, Tòa án mới chấp nhận. Do đó, bản án khi viết cần phải chú ý đến nguyên tắc này.

Thứ hai, việc vi phạm Điều 5 BLTTDS còn thể hiện ở một số bản án có những quyết định mà đương sự không yêu cầu và quyết định đó không làm phát sinh một nghĩa vụ pháp lý nào đối với các đương sự.

Ví dụ: A đem chiếc xe máy đến hiệu cầm đồ B đặt và vay một số tiền, hai bên thỏa thuận đến hẹn A không trả nợ, B có quyền bán xe may đó. Quá hạn A không trả tiền, B bán xe máy cho C. C đi đăng ký xe thì phát hiện chiếc xe đó không phải của A mà xe đó là tang vật của vụ án trộm cắp. B đồng ý để C giao chiếc xe máy đó cho công an. C kiện B đòi lại tiền. Bản án ngoài quyết định buộc B trả tiền cho C còn có quyết định: Số tiền B cho A vay khi A đặt xe máy được giải quyết bằng vụ án dân sự khác khi B có yêu cầu.

Quyết định trên của bản án rõ ràng vượt quá yêu cầu của B, hơn nữa quyết định đó không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ pháp lý nào đối với các đương sự, nên quyết định đó là thừa.

Trong những trường hợp nếu nguyên đơn tự nguyện để cho bị đơn được hưởng một số quyền lợi, mặc dù bị đơn không yêu cầu, thì trong quyết định của bản án cần chấp nhận sự tự nguyện của nguyên đơn. Ví dụ: A đòi B trả nhà, để có điều kiện thi hành án, A tự nguyện thuê cho B căn hộ khác hay cho B một diện tích khác, thì quyết định của bản án cần ghi: Chấp nhận sự tự nguyện của A cho B căn hộ số…diện tích X m2

Quyết định trên của bản án có giá trị pháp lý bắt buộc A phải thực hiện nghĩa vụ với B khi B yêu cầu. Quyết định đó không trái với Điều 5 BLTTDS vì đó là sự tự nguyện của A. Tuy nhiên trong quyết định của bản án không nên ghi “buộc B phải chuyển về căn hộ A đã mua cho B”. Quyết định như trên là không đúng, vì Tòa án không thể buộc công dân, tổ chức phải thực hiện nghĩa vụ mà họ không có nghĩa vụ phải thực hiện. Trong vụ án này B chỉ có nghĩa vụ trả nhà cho A, còn việc chuyển đến chỗ nào ở là thuộc quyền của B. Do đó quyết định đó không phát sinh nghĩa vụ pháp lý buộc B phải thực hiện. Nếu B không tự giác chấp hành nghĩa vụ trả nhà, cơ quan thi hành án sẽ cưỡng chế B về chỗ ở mà B có.

Đối với những trường hợp pháp luật quy định các bên tranh chấp phải thực hiện nghĩa vụ vì lợi ích của người thứ 3 hoặc của Nhà nước…thì dù các đương sự không yêu cầu Tòa án vẫn phải buộc các đương sự phải thực hiện nghĩa vụ. Ví dụ: Trong vụ án ly hôn việc góp phí tổn nuôi con sau khi ly hôn là nghĩa vụ của cha mẹ thì bên được giao nuôi con vị thành niên, dù không yêu cầu đóng góp phí tổn nuôi con, Tòa án vẫn có quyền quyết định buộc bên không nuôi con phải đóng góp phí tổn nuôi con. Hay vụ án chia thừa kế theo pháp luật, nếu có người thừa kế cùng hàng đã thành thai, nhưng chưa sinh ra thì Tòa án vẫn  phải dành lại phần di sản bằng phần của người thừa kế khác được hưởng và giao cho người đang mang thai quản lý dù đương sự không yêu cầu. Trong những trường hợp trên thẩm phán có quyền ghi những nghĩa vụ của đương sự có nghĩa vụ phải thực hiện vào quyết định của bản án, dù không có đương sự nào yêu cầu.

Thứ ba, cách thể hiện các tình tiết của vụ án trong bản án chưa thể hiện được sự định đoạt của đương sự

Rất nhiều bản án là sao chụp nguyên si lời khai của đương sự, trong đó có rất nhiều những tình tiết không liên quan đến việc giải quyết vụ án, làm cho bản án dài dòng, lủng củng, nhưng lại có những tình tiết rất quan trọng, có ý nghĩa quyết định đến việc chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của đương sự, mà đương sự hoặc luật sư của đương sự bổ sung tại phiên tòa thì phần nhận thấy của bản án lại không đưa vào.

Do đó, bản án phải trình bày để cho mọi người khi đọc bản án nhận biết được đó là những tình tiết, căn của nguyên đơn hay bị đơn hay người có quyền lợi độc lập đưa ra.

Ví dụ: Vụ án giữa nguyên đơn: Ngân hàng cổ phần xuất nhập khẩu Việt Nam với bị đơn: công ty thương mại dịch vụ Thanh Hóa.

Phần nhận thấy của bản án viết:

Ngày 15/02/1997, Ngân hàng thương mại cổ phần xuất nhập khẩu Việt Nam (ngân hàng) và Công ty dịch vụ thương mại Thanh Hóa (công ty) ký với nhau hợp đồng tín dụng số 01, theo đó Ngân hàng cho Công ty vay 90% trị giá hàng thực nhập để Công ty nhập khẩu 10.000 tân sắt tròn phi 6,5mm do SNG sản xuất. Thực tế giao nhận, Công ty đã nhận được 8.973,64 tấn sắt, trị giá 2.584.409,18 USD.

Thực hiện hợp đồng tín dụng số 01 ngày 15/02/1997, Ngân hàng đã giao đủ số tiền 90% trị giá hàng thực nhập là 2.325.969,18 USD cho Công ty:

- Khế ước vay tiền số 01 ngày 13/05/1997, Công ty đã nhận được 1.980.133,20 USD;

- Khế ước vay tiền số 02 ngày 16/05/1997, Công ty đã nhận được 345.835,98 USD

Do tình hình thị trường thay đổi, việc tiêu thụ lô hàng sắt nhập khẩu gặp khó khăn, Công ty xin gia hạn và được  Ngân hàng đồng ý gia hạn thanh toán đến hết ngày 13/12/1998

Đến ngày 29/04/1998, Công ty đã thanh toán hết khế ước số 02 ngày 16/05/1997

Riêng khế ước số 01 ngày 13/05/1997, tính đến ngày 13/01/2005 Công ty vẫn còn nợ 212.709,60 USD tiền vốn vay và 200.362,93 USD tiền lãi quá hạn.

Ngày 12/05/2004, Ngân hàng có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa buộc Công ty phải trả số tiền vốn vay còn nợ là 212.709,60 USD và toàn bộ số tiền lãi cho đến ngày trả hết nợ theo lãi suất nợ quá hạn thỏa thuận trong hợp đồng là 1,185%/ tháng.

Với cách viết như trên, không thể phân biệt được đó là những tình tiết nguyên đơn đưa ra hay nhận định của Tòa án.

3. Giải pháp khắc phục?

Sở dĩ có tình trạng trên là do khi viết bản án các Thẩm phán đã không chú trọng đến việc xác định yêu cầu khởi kiện, phạm vi khởi kiện của đương sự. Phạm vi khởi kiện bao gồm phạm vi khởi kiện của nguyên đơn, phạm vi phản tố của bị đơn và phạm vi yêu cầu độc lập của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Việc chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn, yêu cầu độc lập của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan phải thực hiện đúng theo quy định tại Điều 176, 177, 178 BLTTDS.

Mặt khác, yêu cầu và phạm vi khởi kiện của đương sự không chỉ “bó hẹp” trong đơn khởi kiện, mà yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, yêu cầu phản tố của bị đơn, yêu cầu độc lập của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được bổ sung, thay đổi trong suốt giai đoạn chuẩn bị xét xử và ngay tại phiên toà nếu đủ điều kiện.

Vì thế, Thẩm phán cần lưu ý đến những điểm trên để xác định chính xác, đúng và đủ yêu cầu, phạm vi khởi kiện của đương sự. Nếu đương sự yêu cầu đòi bồi thường thì phải thể hiện rõ khoản tiền yêu cầu bồi thường cụ thể là bao nhiêu, cách tính như thế nào? Các yêu cầu của đương sự cũng phải rõ ràng, không được ghi một cách chung chung như đòi tiền lương do việc chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật từ khi chấm dứt đến khi xét xử sơ thẩm thì phải ghi rõ cụ thể là bao nhiêu ngày, mức tiền là bao nhiêu, tính như thế nào. Việc ghi rõ từng yêu cầu sẽ đảm bảo được quyền tự định đoạt của đương sự, thể hiện tính khách quan trong việc xét xử.

Các yêu cầu của đương sự khi thể hiện trong bản án phải đảm bảo 3 nội dung cơ bản sau:

- Yêu cầu đối với ai? (Chủ thể)

- Yêu cầu về việc gì? ( Đối tượng)

- Phạm vi yêu cầu? (Khối lượng, số lượng)

Ví dụ: vụ án về đơn phương chấm dứt hợp đồng giữa người lao động với người sử dụng lao động.

 Người lao động khởi kiện yêu cầu huỷ quyết định đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động và bồi thường thiệt hại. Trong bản án, Thẩm phán không nên chỉ viết chung chung là người lao động yêu cầu người sử dụng lao động huỷ quyết định đơn phương chấm dứt hợp đồng và bồi thường thiệt hại mà phải ghi cụ thể các yêu cầu đã được làm sáng tỏ trong quá trình giải quyết vụ án. Cụ thể, ghi như sau: người lao động yêu cầu Toà án buộc:

- Người sử dụng lao động huỷ quyết định đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động và nhận người lao động trở lại làm việc;

- Bồi thường các khoản thiệt hại cụ thể là:

+ Tiền lương trong những ngày không được làm việc là:… đồng

+ Hai tháng tiền lương và phụ cấp lương là:… đồng

Trên cơ sở đó, khi lựa chọn đưa tình tiết, sự kiện vào bản án, Thẩm phán cũng căn cứ vào quy định tại khoản 2 Điều 80 Bộ luật tố tụng dân sự để xác định những tình tiết, sự kiện nào mà các đương sự đã thừa nhận hoặc không phản đối, không tranh chấp thì cũng nên ghi rõ vào bản án. Những sự kiện này sẽ được ghi trong bản án theo tiến trình thời gian. Những tình tiết, sự kiện nào mà các bên đang tranh chấp thì cũng phải nêu rõ để trên cơ sở đó phần nhận định của bản án phải thể hiện sự đánh giá về những tình tiết, sự kiện này.

Với cách viết như trên, bản án dân sự sẽ thể hiện được tốt nhất nguyên tắc quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự. Trong điều kiện Việt Nam gia nhập WTO với yêu cầu khi gia nhập là phải công khai bản án thì việc hoàn thiện cách viết bản án dân sự trong sự chú trọng đến nguyên tắc quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự là một sự đòi hỏi cần thiết./.

Tác giả: ThS.Trần Minh Tiến
Nguồn: Tạp chí Nghề Luật số 5/2006

Các tin tiếp
Các tin trước
TIÊU ĐIỂM
Xem nhiều nhất