Một số căn cứ hoãn phiên tòa dân sự sơ thẩm từ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự
15:2' 21/8/2009
“Hoãn phiên toà là việc chuyển thời điểm tiến hành phiên toà dân sự đã định sang thời điểm khác muộn hơn” [1]. Xuất phát từ tính chất quan trọng đối với sự tham gia tố tụng tại phiên tòa của các chủ thể quan hệ pháp luật tố tụng dân sự, Bộ Luật tố tụng dân sự (BLTTDS) quy định các trường hợp Hội đồng xét xử phải hoãn phiên tòa. Theo đó, phiên tòa dân sự sơ thẩm có thể bị hoãn khi phải thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, thư ký Tòa án, Kiểm sát viên, người giám định, người phiên dịch hoặc do sự vắng mặt của các bên đương sự, những người tham gia tố tụng khác hoặc các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 51, khoản 2 Điều 72, các Điều 199, 200, 201, 203, 204, 205, 206, 207, 215 và khoản 4 Điều 230 BLTTDS.

Có thể nói quy định về hoãn phiên tòa trong BLTTDS là chế định được pháp điển hóa từ các công văn hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao khi thực hiện Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế cũng như Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động và từ chính các quy định của các Pháp lệnh tố tụng này. Bộ Luật tố tụng dân sự với nhiều quy định mới, chi tiết và toàn diện hơn so với các Pháp lệnh trước đây đã đánh dấu bước tiến trong kỹ thuật lập pháp và sự hoàn thiện hơn về thủ tục tố tụng đối với việc ban hành quyết định hoãn phiên tòa của Hội đồng xét xử cùng các căn cứ được xác định cụ thể hơn trong Luật. Tuy nhiên, dưới khía cạnh lý luận, một số quy định của Bộ Luật tố tụng dân sự về căn cứ hoãn phiên tòa vẫn gây nhiều tranh cãi, nhiều quy định về bản chất là những quy định “chết’vì không có tính khả thi trong việc áp dụng. Ngoài ra, khi áp dụng BLTTDS thực tiễn xét xử còn tồn tại những lúng túng liên quan đến cách hiểu về trường hợp “ngừng’ phiên tòa, trường hợp ‘hoãn’ phiên tòa….

1. Về quy định tại Điều 202 BLTTDS “Xét xử trong trường hợp đương sự vắng mặt tại phiên tòa”.

Đương sự là thành phần quan trọng của vụ án dân sự phải có mặt tại phiên tòa khi Tòa án xét xử vụ án dân sự. Do tính chất quan trọng về địa vị tố tụng của đương sự mà Pháp luật tố tụng dân sự quy định Hội đồng xét xử phải hoãn phiên tòa trong trường hợp nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự vắng mặt lần thứ nhất có lý do chính đáng như quy định tại các Điều 199, 200, 201 và 203 BLTTDS. Tòa án chỉ xét xử vắng mặt đương sự khi rơi vào một trong các trường hợp được quy định tại Điều 202 BLTTDS, cụ thể là:

1. Nguyên đơn, bị đơn hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt;

2. Nguyên đơn, bị đơn hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có người đại diện hợp pháp tham gia phiên tòa;

3. Các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 200 và khoản 2 Điều 201 của Bộ Luật này”.

          Thực tế tố tụng, các vụ kiện dân sự có nhiều trường hợp bị đơn không chấp hành giấy triệu tập, cố tình trốn tránh, thậm trí có tư tưởng ỷ lại làm cho vụ kiện bị kéo dài, gây khó khăn cho Tòa án giải quyết vụ kiện đặc biệt với những vụ kiện phức tạp có nhiều nguyên đơn, nhiều bị đơn hoặc nhiều người có quyền, nghĩa vụ liên quan. Theo quy định tại PLTTGQCVADS, PLTTGQCVAKT, PLTTGQCTCLĐ được ban hành trước đây, khi các đương sự vắng mặt lần thứ nhất dù có lý do chính đáng hay không, Tòa án đều phải hoãn phiên toà, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn nếu bị đơn được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng. Đây là một trong những nguyên nhân góp phần làm cho phiên toà sơ thẩm có thể bị hoãn nhiều lần vì bị đơn viện dẫn những lý do gọi là chính đáng khi họ gặp những trở ngại khách quan không thể khắc phục được như ốm đau, thiên tai, bão lụt, hoặc đi công tác đột xuất…

Khắc phục tình trạng này, tại khoản 1 Điều 200 BLTTDS quy định: “Bị đơn phải có mặt tại phiên tòa theo giấy triệu tập của Tòa án; nếu vắng mặt lần thứ nhất có lý do chính đáng thì phải hoãn phiên tòa”, tương tự vậy khoản 1 Điều 201 BLTTDS quy định: ‘Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan phải có mặt tại phiên tòa theo giấy triệu tập của Tòa án; nếu vắng mặt lần thứ nhất có lý do chính đáng thì phải hoãn phiên tòa”. Như vậy, nếu theo quy định này thì Tòa án chỉ phải hoãn phiên tòa khi nguyên đơn (khoản 1 Điều 199 BLTTDS), bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt lần thứ nhất có lý do chính đáng, trường hợp nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt lần thứ nhất không có lý do chính đáng thì vụ án được xét xử vắng mặt đương sự là bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.

Tuy nhiên, khoản 3 Điều 202 BLTTDS quy định về việc xét xử vắng mặt được dẫn chiếu tới quy định tại khoản 2 Điều 200 và khoản 2 Điều 201 BLTTDS, cụ thể là Tòa án chỉ có thể xét xử vắng mặt bị đơn và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan khi họ đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt. Chúng ta thấy ngay sự mâu thuẫn từ chính các điều khoản khác nhau của cùng một điều luật. Khoản 2 của Điều 200 phủ định hiệu lực của khoản 1 Điều 200 BLTTDS, khoản 2 Điều 201 tương tự vậy cũng phủ định việc áp dụng khoản 1 Điều 200 BLTTDS. Tức là, tại phiên tòa, tất cả các trường hợp nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt lần thứ nhất dù họ không có lý do chính đáng thì Tòa án cũng đều phải hoãn phiên tòa mà không được xét xử vắng mặt họ.

Tại hướng dẫn mục 1.1 phần III về chương XIV BLTTDS của Nghị quyết số 02/2006/NQ-HĐTP khẳng định thêm điều kiện chắc chắn về việc áp dụng khoản 2 Điều 200 và Điều 201 BLTTDS mà không áp dụng khoản 1 của hai điều luật này: “Khi nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa lần thứ nhất theo quy định tại khoản 1 Điều 199, khoản 1 Điều 200 và khoản 1 Điều 201 của BLTTDS dù không có lý do chính đáng, thì Tòa án vẫn hoãn phiên tòa”. Như vậy, nếu vụ án có nhiều nguyên đơn, bị đơn hoặc nhiều người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan thì mỗi nguyên đơn, mỗi bị đơn, mỗi người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt lần thứ nhất (có lý do chính đáng hoặc không có lý do chính đáng) Tòa án đều phải hoãn phiên tòa một lần.

Quy định này về lý thuyết đánh dấu một bước tiến của BLTTDS so với các Pháp lệnh (PLTTGQCVADS, PLTTGQCVAKT, PLTTGQCTCLĐ) trước đây. Nghĩa vụ của các đương sự phải có mặt tại phiên tòa chấp hành theo giấy triệu tập của Tòa án được quy định chặt chẽ hơn. Theo đó, khi bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt họ mà không cần quan tâm đến việc vắng mặt của họ là có lý do chính đáng hay không chính đáng. Thực tiễn xét xử đã gặp những trường hợp bị đơn được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai đến phiên tòa, bị đơn đang trên đường đến phiên tòa thì bị tai nạn. Nếu áp dụng theo quy định tại khoản 2 Điều 200 thì không có căn cứ để hoãn. Điều này khiến cho các Thẩm phán ít nhiều lúng túng khi xác định yếu tố lý và tình trong việc quyết định xử vắng mặt đương sự. Khắc phục điều đó, tại mục 1.2 phần III về chương XIV BLTTDS của Nghị quyết số 02/2006/NQ-HĐTP đã có quy định theo hướng mở để tạo căn cứ cho Hội đồng xét xử ra quyết định hoãn phiên tòa trong những trường hợp được coi là sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Chúng tôi cũng đồng tình với hướng dẫn của Hội đồng Thẩm phán ngoài phạm vi của điều luật trong trường hợp: “Đương sự đã được triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ 2 và đã chuẩn bị tham dự phiên tòa xét xử vụ án nhưng do sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan xảy ra đối với họ ngay vào thời điểm trước ngày Tòa án mở phiên tòa hoặc ngay trong thời điểm họ đang trên đường đến Tòa để tham dự phiên tòa (do thiên tai, địch họa, bị tai nạn, ốm nặng phải đi bệnh viện cấp cứu, người thân bị chết…) nên họ không thể có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án, thì Tòa án cũng hoãn phiên tòa.”

Với sự phân tích trên, chúng tôi cho rằng hướng dẫn tại 1.1 phần III về chương XIV BLTTDS của Nghị quyết số 02/2006/NQ-HĐTP và quy định tại khoản 2 Điều 200, khoản 2 Điều 201 BLTTDS đã khiến cho khoản 1 Điều 199, Điều 200, Điều 201 BLTTDS về việc đương sự “nếu vắng mặt lần thứ nhất có lý do chính đáng thì phải hoãn phiên tòa” trở thành những quy định thừa và là những quy định “trên giấy” không áp dụng được trong thực tiễn xét xử.

2. Việc hoãn phiên tòa theo quy định tại khoản 4 Điều 230:

Khoản 4 Điều 230 BLTTDS quy định như sau:

Khi có người tham gia tố tụng không đồng ý với kết luận giám định được công bố tại phiên tòa và có yêu cầu giám định bổ sung hoặc giám định lại, nếu xét thấy việc giám định bổ sung, giám định lại là cần thiết cho việc giải quyết vụ án thì Hội đồng xét xử quyết định giám định bổ sung, giám định lại; trong trường hợp này Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa”.

Theo nội dung của Điều luật, điều kiện cần và đủ để Hội đồng xét xử áp dụng khoản 4 Điều 230 BLTTDS là trong giai đoạn chuẩn bị xét xử đương sự đã phải có yêu cầu giám định, quyết định trưng cầu giám định của Tòa án và có kết luận giám định “Quyết định giám định được công bố tại phiên tòa”. Trường hợp đây là yêu cầu giám định mới lần đầu tiên đưa ra tại phiên tòa thì không thuộc căn cứ để Hội đồng xét xử hoãn phiên tòa.

Thực tiễn xét xử đã gặp những vướng mắc nhất định trong việc áp dụng Điều luật này. Do pháp luật tố tụng dân sự cho phép đương sự được cung cấp chứng cứ trong bất kỳ giai đoạn nào của tiến trình tố tụng vì vậy nhiều trường hợp khi việc giải quyết vụ kiện bước vào giai đoạn tranh luận, thậm chí Hội đồng xét xử chuẩn bị tuyên án, đương sự (thường là bị đơn) mới xuất trình chứng cứ. Đương sự phía bên kia không đồng ý với tính khách quan của chứng cứ mới được xuất trình và đề nghị hoãn (hoặc tạm ngừng) phiên tòa để giám định chứng cứ, tài liệu đó. Với trường hợp này, Hội đồng xét xử thực sự lúng túng trong việc tìm căn cứ luật để áp dụng khi trong giai đoạn chuẩn bị xét xử đương sự không hề có yêu cầu trưng cầu giám định nào, đặc biệt trong nhiều trường hợp chứng cứ mới xuất trình tại phiên tòa lại có tính quyết định đến việc giải quyết vụ án.

          Ví dụ: A kiện B yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật di sản của bố (là ông C) để lại. Tại phiên tòa sơ thẩm, sau khi chuẩn bị kết thúc phần hỏi B mới xuất trình cho Hội đồng xét xử bản di chúc ông C viết với nội dung định đoạt toàn bộ di sản thừa kế cho B. A không chấp nhận nội dung bản di chúc và cho rằng chữ ký trong bản di chúc B mới xuất trình không phải là chữ ký của ông C. Trong trường hợp này kết luận giám định được xác định là chứng cứ khoa học để chứng minh ý chí của ông C qua việc xác định chữ ký.

          Vấn đề vướng mắc chính ở chỗ, nhìn từ quy định của điều luật thì không có cơ sở để Hội đồng xét xử hoãn phiên tòa (theo khoản 4 Điều 230). Căn cứ tạm ngừng phiên tòa cũng được Bộ luật tố tụng dân sự đề cập đến tại khoản 2 Điều 197 BLTTDS: “Trong trường hợp đặc biệt do Bộ Luật này quy định thì việc xét xử có thể tạm ngừng không quá năm ngày làm việc. Hết thời hạn tạm ngừng, việc xét xử vụ án được tiếp tục.” Với thời hạn tạm ngừng phiên tòa trong 5 ngày thì không thể đủ thời gian để Tòa án tiến hành trưng cầu giám định chữ ký. Trong trường hợp này phải hiểu việc thu thập chứng cứ chưa đầy đủ là nghĩa vụ của đương sự hay của Tòa án? Nếu là nghĩa vụ của đương sự thì có phải là căn cứ để hủy bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm hay không khi quy định tại khoản 1 Điều 277 BLTTDS đã xác định rõ: “Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm nếu việc chứng minh và thu thập chứng cứ không theo đúng quy định tại chương VII của Bộ luật này hoặc chưa thực hiện đầy đủ mà tại phiên tòa phúc thẩm không thể thực hiện bổ sung được”. Như vậy, việc thu thập chứng cứ chưa thực hiện đầy đủ bất luận do lỗi của ai (đương sự hay Tòa án) thì đều là căn cứ để hủy bản án sơ thẩm.

          Tham khảo quy định của pháp luật tố tụng dân sự trước đây, Tòa án nhân dân tối cao đã có những hướng dẫn thi hành Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự. Quy định này mặc dù đến nay đã hết hiệu lực nhưng chúng tôi cho rằng đây vẫn là hướng dẫn khoa học và hợp lý. Tại Công văn số 305/NCLP và Công văn số 309/NCLP ngày 22/12/1990 của Tòa án nhân dân tối cao giải thích một số vấn đề thủ tục tố tụng dân sự có hướng dẫn như sau: “Trong trường hợp Hội đồng xét xử tiến hành thẩm vấn tại phiên tòa, mà thấy cần phải xem xét thêm chứng cứ, cần phải có thời gian điều tra, xác minh thêm... mới có thể giải quyết được vụ án thì Hội đồng xét xử không được hoãn phiên tòa mà chỉ có thể tạm ngừng việc tiến hành phiên tòa để điều tra, xác minh thêm trong thời gian thích hợp do Hội đồng xét xử quyết định. Sau khi đã điều tra, xác minh Hội đồng xét xử tiếp tục mở lại phiên tòa để xét xử vụ án.”Có thể nói, đây là một hướng dẫn trao quyền cho Hội đồng xét xử chủ động quyết định trong những trường hợp cần thiết để củng cố thêm chứng cứ hoặc để xử lý những tình huống liên quan đến việc xem xét thêm chứng cứ nhằm đảm bảo cho bản án được ban hành có tính toàn diện, đầy đủ, cụ thể và chính xác cao.

Gần đây nhất, tại mục 3.5 Nghị quyết số 02/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao có hướng dẫn đối với quy định tại khoản 4 Điều 230 BLTTDS, cụ thể như sau:

Nếu tại phiên tòa đương sự xuất trình tài liệu, chứng cứ mới mà có yêu cầu giám định bổ sung đối với tài liệu, chứng cứ đó hoặc giám định lại (kể cả việc tài sản mới được phát hiện cần phải định giá) và xét thấy việc giám định bổ sung, giám định lại (định giá) là cần thiết cho việc giải quyết vụ án, thì Hội đồng xét xử quyết định giám định bổ sung, giám định lại (định giá) và căn cứ vào khoản 4 Điều 230 BLTTDS ra quyết định hoãn phiên tòa.”

Tuy nhiên, với hướng dẫn này hiện nay đặt ra 2 cách hiểu khác nhau:

* Cách hiểu thứ nhất: Đây là hướng dẫn “bù đắp’ đối với “khoảng trống trong Luật” của khoản 4 - Điều 230 BLTTDS mà Nhà làm Luật đã không dự liệu được hết. Theo đó Hội đồng xét xử được quyền xem xét, đánh giá yêu cầu giám định tại phiên tòa có thực sự cần thiết đối với việc giải quyết vụ án không dù đó là yêu cầu giám định đối với tài liệu chứng cứ mới (tức là trước đó chưa có yêu cầu trưng cầu giám định) vẫn được Hội đồng xét xử chấp nhận hoãn phiên tòa.

* Cách hiểu thứ hai: Hướng dẫn này vẫn hoàn toàn dựa trên khoản 4 Điều 230 mà chỉ làm rõ hơn khoản 4 Điều 230 BLTTDS. Trong mọi trường hợp Hội đồng xét xử chỉ chấp nhận hoãn phiên tòa nếu trong giai đoạn chuẩn bị xét xử đương sự đã có yêu cầu trưng cầu giám định. Tại phiên tòa, kết luận giám định được công bố mà đương sự không đồng ý hoặc đương sự xuất trình tài liệu chứng cứ mới để bác bỏ kết luận giám định đã được công bố thì họ được quyền đề nghị trưng cầu giám định bổ sung hoặc giám định lại chứ không được quyền đề nghị trưng cầu giám định mới đối với các tài liệu, chứng cứ được đưa ra tại phiên tòa.

Chúng tôi nghiêng về cách hiểu thứ nhất trong hướng dẫn của Nghị quyết số 02/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao. Tại phiên tòa, đương sự mới xuất trình tài liệu chứng cứ mới, đương sự phía bên kia không hề biết có tài liệu chứng cứ này trước phiên tòa, vì vậy họ không thể thực hiện quyền đề nghị Tòa án tiến hành trưng cầu giám định theo quy định tại Điều 90 BLTTDS. Tất nhiên, không phải mọi trường hợp tại phiên tòa đương sự mới có đề nghị Tòa án trưng cầu giám định chứng cứ đều được chấp nhận. Hội đồng xét xử sẽ phải hỏi, kiểm tra tính hợp pháp của chứng cứ, so sánh chứng cứ này với chứng cứ khác. Nếu xét thấy đã có đủ cơ sở để đánh giá chứng cứ thì Hội đồng xét xử bác yêu cầu đề nghị trưng cầu giám định đối với tài liệu chứng cứ mới xuất trình. Trong trường hợp xét thấy việc đề nghị trưng cầu giám định tài liệu, chứng cứ mặc dù là yêu cầu lần đầu được đưa ra tại phiên tòa nhưng Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết cho việc giải quyết vụ án thì Hội đồng xét xử được phép ngừng phiên tòa để trưng cầu giám định. Hiểu theo cách này chính là tìm được căn cứ trong hướng dẫn của Tòa án Tối cao (ngoài quy định của BLTTDS) cho các Tòa án giải quyết những vướng mắc từ thực tiễn xét xử hiện nay.

Về mặt lý luận, chúng tôi cho rằng quy định tại khoản 4 Điều 230 cũng cần có sự sửa đổi về tên gọi. “Quyết định hoãn phiên tòa” tại khoản 4 Điều 230 BLTTDS nên chuyển thành “Quyết định ngừng phiên tòa”. Nguyên tắc chung, việc hoãn phiên tòa chỉ tiến hành khi bắt đầu phiên tòa, thời điểm Hội đồng xét xử chưa xem xét giải quyết về mặt nội dung của vụ án. BLTTDS cũng đặt quy định về “Xem xét, quyết định hoãn phiên tòa khi có người vắng mặt’ - Điều 215 tại mục 2 “Thủ tục bắt đầu phiên tòa” trong chương XIV Phiên tòa sơ thẩm của BLTTDS. Trường hợp khi đã xem xét giải quyết về mặt nội dung vụ án nhưng Hội đồng xét xử xét thấy phải thu thập thêm chứng cứ mới có thể giải quyết được vụ án thì phải ngừng phiên tòa chứ không phải là căn cứ để hoãn phiên tòa. Đối với trường hợp đề nghị trưng cầu giám định bổ sung hoặc giám định lại do thời gian cần thiết để thực hiện việc này không đủ trong thời hạn 5 ngày theo quy định tại khoản 2 Điều 197, vì vậy đây thuộc trường hợp đặc biệt cần được điều chỉnh bởi điều luật riêng (Điều 230 BLTTDS) về căn cứ để tạm ngừng. Có thể hiểu, đây là khoảng thời gian để Hội đồng xét xử tiến hành xác minh các chứng cứ mới được đương sự xuất trình tại phiên tòa và xử lý tình huống phù hợp với thực tiễn theo đặc trưng yêu cầu của Đương sự mà Điều 230 BLTTDS đã xác định cụ thể.

           

 

 

ThS. Nguyễn Minh Hằng - Giảng viên Học viện Tư pháp

 Nguồn: Tạp chí Nghề Luật  số 5/2006

 



[1] Từ điển giải thích thuật ngữ luật học LDS, LHN&GĐ, LTTDS - Trường Đại học Luật Hà Nội, NXB Công an nhân dân năm1999, tr 197.


Các tin tiếp
Các tin trước
TIÊU ĐIỂM
Xem nhiều nhất