Thực hiện chế độ hai cấp xét xử - cơ chế bảo vệ quyền con người trong tố tụng dân sự
9:40' 26/6/2010
Ngay từ khi nước ta vừa giành được độc lập, ngày 24/1/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 13/SL về tổ chức Tòa án và các ngạch thẩm phán, trong đó đã ghi nhận nguyên tắc “Tòa án thực hiện hai cấp xét xử”. Đến nay, nguyên tắc này vẫn được ghi nhận tại Điều 11 của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002. Và Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII đã chỉ rõ nhiệm vụ trọng tâm trong hoạt động xét xử của Tòa án: “Thực hiện nguyên tắc hai cấp xét xử, đổi mới thủ tục giám đốc thẩm để đảm bảo việc xét xử vừa đúng đắn, vừa nhanh chóng.”  

Vụ án tranh chấp nhà và đất ở giữa bị đơn là ông Trương Gia Hải và nguyên đơn là bà Trương Thị Bản, trú tại 27 phố Lê Lợi, quận Hà Đông (Hà Nội) với những chứng cứ rõ ràng nhưng qua 14 năm (1995-2009) với 13 phiên tòa vẫn chưa kết thúc. Ngày 13/01/2009, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao kháng nghị bản án phúc thẩm của Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội, đề nghị Hội đồng Thẩm phán xét lại bản án theo trình tự giám đốc thẩm. Hội đồng Giám đốc thẩm đã quyết định hủy cả bản án sơ thẩm và bản án phúc thẩm, chuyển giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm. Có nghĩa là, vụ án lại quay về điểm xuất phát. Cơ quan tố tụng từ địa phương đến trung ương đã mất quá nhiều công sức và thời gian, người tham gia tố tụng thì tán gia bại sản.

Đây chỉ là một vụ án cá biệt. Với chỉ một vụ án thì không thể đánh giá chung về tình hình xét xử của ngành Tòa án, nhưng những con số kỷ lục về phiên tòa nói trên đã nói được nhiều điều, nhất là về sự không hợp lý trong pháp luật tố tụng dân sự hiện hành. Và ở đây là sự không hợp lý do pháp luật quy định quyền hạn quá rộng cho mỗi cấp xét xử.

Theo pháp luật tố tụng dân sự hiện hành, một vụ án được xét xử qua cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm, bên cạnh đó còn có thủ tục đặc biệt là giám đốc thẩm và tái thẩm. Như vậy, theo nguyên tắc, một vụ án nếu phải xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm thì nhiều nhất cũng chỉ cần đến ba phiên tòa. Nhưng thực tế lại khác. Có những vụ án phải xét xử tới 9 - 10 phiên tòa, thậm chí tới 13 phiên tòa như ví dụ trên, nhưng vẫn chưa kết thúc được và cũng có thể không biết bao giờ mới kết thúc. Thực tế này phát sinh từ nhiều nguyên do, trong đó có việc chính trong các quy định của pháp luật đã tiềm ẩn những nguy cơ làm cho một vụ án có thể bị kéo dài và phải xét xử làm nhiều lần. Những phân tích dưới đây cho thấy điều này.

1. Quy định của pháp luật và thực tiễn áp dụng

1.1. Cấp sơ thẩm (cấp thứ nhất)

Cấp sơ thẩm tiến hành trình tự, thủ tục giải quyết vụ án lần thứ nhất. Tất cả các vụ án nếu đưa ra xét xử thì đều phải tiến hành qua cấp sơ thẩm. Đây là cấp xét xử không thể thiếu và có ý nghĩa cực kỳ quan trọng trong quá trình giải quyết vụ án. Lý luận và thực tiễn đều cho thấy, nếu cấp sơ thẩm xét xử chính xác, nghiêm túc thì bản án sẽ ít bị kháng cáo hoặc kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, từ đó vụ án sẽ không bị kéo dài. Hoặc giả sử, nếu bản án bị kháng cáo hoặc kháng nghị để xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm thì cũng không mất nhiều công sức, thời gian và tiền của của Nhà nước cũng như của những người tham gia tố tụng.

Tuy nhiên, các quy định về xét xử cấp sơ thẩm đã làm xuất hiện tình trạng một số người tiến hành tố tụng cho rằng “cứ xét xử, sai đã có cấp phúc thẩm xét xử lại”, từ đó thiếu cương quyết, dứt khoát, ỷ lại và lệ thuộc vào cấp phúc thẩm. Còn những người tham gia tố tụng lại coi “cấp sơ thẩm muốn xét xử thế nào cũng được, nếu đạt được ý nguyện thì thôi, nếu không đạt được ý nguyện thì kháng cáo, cấp phúc thẩm xét xử mới có hiệu lực pháp luật thi hành ngay”. Mặt khác, pháp luật dùng khái niệm “sơ” đã làm cho nhiều người hiểu đơn giản rằng, “sơ” là “sơ khai”, “sơ sài”, “sơ qua”, “sơ sơ”, nên giảm lòng tin vào quyết định của cấp sơ thẩm, làm mất đi ý nghĩa quan trọng, cần thiết và bắt buộc của cấp sơ thẩm. Vì vậy, theo chúng tôi, không nên gọi là “cấp sơ thẩm” mà nên gọi là “cấp thứ nhất”.

Mặt khác, trong tất cả các văn bản pháp luật tố tụng của nước ta từ trước đến nay không có văn bản nào quy định về thẩm quyền của hội đồng xét xử sơ thẩm, mà chỉ quy định thẩm quyền của hội đồng xét xử phúc thẩm, hội đồng giám đốc thẩm, hội đồng tái thẩm. Vấn đề này xuất phát từ những nguyên nhân cơ bản sau:

Một là, đây là cấp xét xử thứ nhất nên đối tượng xét xử của nó không thể là bản án, quyết định mà là các yêu cầu về dân sự rất phong phú của các đương sự. Theo Điều 25 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 (BLTTDS), thì có tới 8 loại việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, trong mỗi loại việc lại có rất nhiều các yêu cầu cụ thể khác nhau. Vì phạm vi xét xử của cấp sơ thẩm quá rộng lớn nên không thể ấn định trước về thẩm quyền của hội đồng xét xử sơ thẩm. Sở dĩ pháp luật tố tụng quy định được thẩm quyền của hội đồng xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm bởi xét xử phúc thẩm là việc Toà án cấp trên trực tiếp xét xử lại vụ án mà bản án, quyết định của Toà án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo hoặc kháng nghị (Điều 242 của BLTTDS) còn hội đồng giám đốc thẩm, tái thẩm là các cấp xét lại bản án, quyết định của cấp xét xử trước. Do đó, quyền hạn của các cấp này dễ dàng ấn định được trước xung quanh các vấn đề: giữ nguyên; sửa; hủy bỏ bản án, quyết định của các Tòa án trước.

Hai là, nghĩa vụ chứng minh trong vụ án dân sự thuộc về các đương sự, hội đồng xét xử quyết định như thế nào phụ thuộc phần lớn vào việc chứng minh của các đương sự. Hội đồng xét xử có thể chấp nhận toàn bộ yêu cầu hoặc chỉ một phần yêu cầu của các đương sự. Chính vì vậy, việc pháp luật tố tụng không quy định thẩm quyền của hội đồng xét xử sơ thẩm chính là để hội đồng xét xử sơ thẩm có thể linh hoạt, ứng biến khi quyết định trong từng trường hợp cụ thể, tùy thuộc vào các tình tiết và diễn biến của vụ án.

 Tuy nhiên, ở một góc độ nào đó, việc pháp luật tố tụng không quy định thẩm quyền của hội đồng xét xử sơ thẩm dường như đã tạo ra một khoảng trống, một sự không chặt chẽ, một tâm lý không yên tâm. Như vậy, sẽ không phải là thừa nếu pháp luật tố tụng có điều luật quy định thẩm quyền của hội đồng xét xử sơ thẩm. Tất nhiên, không thể quy định cụ thể cho mọi trường hợp, nhưng nếu nhà làm luật quan tâm tới vấn đề này thì đó là điều hợp lý. Theo chúng tôi, cần quy định thẩm quyền của hội đồng xét xử sơ thẩm là: chấp nhận toàn bộ yêu cầu của đương sự; chấp nhận một phần yêu cầu của đương sự; không chấp nhận yêu cầu của đương sự.

1.2. Cấp phúc thẩm (cấp thứ hai)

Cấp phúc thẩm tiến hành trình tự, thủ tục giải quyết vụ án lần thứ hai. Không phải tất cả các vụ án đã xét xử sơ thẩm đều phải tiến hành qua cấp phúc thẩm, chỉ những vụ án đã xét xử sơ thẩm mà bản án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị để xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm thì mới phải tiến hành qua cấp phúc thẩm. Pháp luật quy định có cấp phúc thẩm là xuất phát từ việc tôn trọng và bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của những người tham gia tố tụng. Mặt khác, xuất phát từ việc các phán quyết của Tòa án trước khi có hiệu lực pháp luật phải được xem xét một cách thận trọng.

Khác với cấp sơ thẩm, pháp luật tố tụng quy định thẩm quyền của hội đồng xét xử phúc thẩm rất rõ và cụ thể tại Điều 275 của BLTTDS: “giữ nguyên bản án sơ thẩm; sửa bản án sơ thẩm; hủy bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án; hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án”. Bản án của cấp phúc thẩm có hiệu lực thi hành ngay, là bản án cuối cùng và kết thúc quá trình giải quyết vụ án dân sự. Điều này hoàn toàn đúng và phù hợp với nguyên tắc thực hiện chế độ hai cấp xét xử đã được BLTTDS quy định tại Điều 17. Nhưng thực tế lại không đơn giản như vậy, khi mà BLTTDS quy định thẩm quyền thứ ba của hội đồng xét xử phúc thẩm là “hủy bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án”. Từ đó, nguyên tắc thực hiện chế độ hai cấp xét xử được quy định trong BLTTDS không phải chỉ qua hai phiên tòa, như đáng lẽ ra phải như vậy. Và cũng không có một điều luật nào quy định trong BLTTDS là vụ án đã bị xét xử ở cấp phúc thẩm tới lần thứ mấy thì hội đồng xét xử phúc thẩm không có quyền “hủy bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án”. Có nghĩa là, một vụ án có thể bị đưa ra xét xử bao nhiêu lần ở mỗi cấp cũng được, đồng nghĩa với việc xét xử không có hồi kết thúc. Xét theo một khía cạnh nào đó, việc xét xử đi, xét xử lại là điều kiện tốt để Tòa án tìm kiếm được một quyết định thực sự đúng đắn cho việc giải quyết vụ án, không làm thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự. Nhưng với cách thức mà pháp luật quy định, thì không biết Tòa án phải cần tới bao nhiêu lần xét xử để đạt được mục đích? Đồng thời, cũng làm cho nguyên tắc thực hiện chế độ hai cấp xét xử và ý nghĩa cơ bản của nó bị phá vỡ. Đáng tiếc, nguyên nhân của việc này lại không phải bắt nguồn từ thực tế - một thực tế dân sự vốn dĩ quá phức tạp, mà lại có nguồn gốc sâu xa ngay từ trong những quy định và không quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Những quy định về thẩm quyền của hội đồng xét xử phúc thẩm hiện hành đã tiềm ẩn nguy cơ cho một vụ án có thể bị xét xử nhiều lần bởi thẩm quyền “hủy bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án”. 

Như chúng ta đã biết, lý do để “hủy bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án” được quy định tại Điều 277 của BLTTDS là:

Thứ nhất, do “việc chứng minh và thu thập chứng cứ của cấp sơ thẩm không đúng theo quy định hoặc chưa được thực hiện đầy đủ mà tại phiên tòa cấp phúc thẩm không thể thực hiện bổ sung được”. Về quy định này, vấn đề đặt ra là tại sao cấp phúc thẩm lại không thu thập, bổ sung thêm những nội dung còn thiếu trước khi mở phiên tòa, trong khi việc này không phải là cấp phúc thẩm không làm được. Vì vậy, theo chúng tôi, cần sửa đổi Khoản 3, Điều 275 của BLTTDS quy định về thẩm quyền của hội đồng xét xử phúc thẩm là “hủy bản án sơ thẩm và ra bản án mới”. Đây không chỉ là quyền mà còn là nghĩa vụ của hội đồng xét xử phúc thẩm. Có như vậy thì cấp phúc thẩm mới thực sự là cấp xét xử thứ hai và bản án của cấp phúc thẩm có hiệu lực thi hành ngay; đồng thời nguyên tắc thực hiện chế độ hai cấp xét xử mới được bảo đảm theo đúng nghĩa của nó. Quy định như vậy sẽ là một bảo đảm quan trọng buộc những người xét xử cần phải thận trọng đối với quyết định của mình.

Thứ hai, do “thành phần của hội đồng xét xử sơ thẩm không đúng theo quy định của BLTTDS hoặc có vi phạm nghiêm trọng khác về thủ tục tố tụng” mặc dù biết rằng, nếu cấp sơ thẩm khi bị buộc phải xét xử lại sẽ khắc phục được các vi phạm, sẽ bảo đảm được đầy đủ về mặt thủ tục, thì kết quả xét xử vẫn không thay đổi. Đây là một quy định cứng nhắc. Ở các nước trên thế giới, cấp phúc thẩm khi kiểm tra về thủ tục xét xử của cấp sơ thẩm thường chỉ dừng lại ở mức độ rút kinh nghiệm nếu có sai sót, vi phạm. Còn ở nước ta, đó lại là căn cứ để hội đồng xét xử phúc thẩm “hủy bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án”. Tuy Công văn số 196/NCPL ngày 24/02/1965 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn về một số vấn đề thủ tục tố tụng đã có nêu: nếu những thiếu sót đó (về thủ tục tố tụng) không nghiêm trọng thì Tòa án phúc thẩm lưu ý Tòa án cấp dưới để rút kinh nghiệm, tránh sai sót về sau, nhưng tinh thần đó đến nay không được tiếp thu. Vì vậy, bản án cấp sơ thẩm có những sai sót về thủ tục tố tụng phải chịu một hậu quả giống như bản án có sai lầm về nội dung: bị hủy bỏ và phải xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm. Chúng tôi cho rằng, điều này là không hợp lý. Khoản 2, Điều 277 của BLTTDS cần sửa đổi thành:

- Khi có dấu hiệu vi phạm thủ tục tố tụng nhưng xét thấy không ảnh hưởng đến nội dung vụ án thì hội đồng xét xử phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm;

 - Nếu có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng ảnh hưởng tới nội dung vụ án thì hội đồng xét xử phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm, ra bản án mới.

1.3. Thủ tục giám đốc thẩm

Ngoài cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm, pháp luật còn quy định một thủ tục đặc biệt là giám đốc thẩm và tái thẩm (vì giám đốc thẩm và tái thẩm đều là thủ tục đặc biệt, có nhiều điểm giống nhau nên chúng tôi chỉ phân tích thủ tục giám đốc thẩm). Hiến pháp năm 1992 khẳng định nguyên tắc giám đốc xét xử tại Điều 134. Cụ thể hóa quy định của Hiến pháp, Điều 282 của BLTTDS quy định “giám đốc thẩm là xét lại bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ án”. Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 có nêu: “từng bước hoàn thiện thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm theo hướng quy định chặt chẽ những căn cứ kháng nghị và quy định rõ trách nhiệm của người ra kháng nghị đối với bản án hoặc quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật”.

Việc quy định thủ tục giám đốc thẩm trong pháp luật tố tụng là nhằm bảo đảm nguyên tắc pháp chế và nguyên tắc công bằng xã hội trong hoạt động xét xử, để cho tất cả các bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật tuyệt đối không được trái pháp luật. Thông qua thủ tục giám đốc thẩm, Tòa án cấp trên có điều kiện thống kê, kiểm tra các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhằm khắc phục, sửa chữa những sai phạm và tổng kết kinh nghiệm để hướng dẫn cho việc xét xử được thống nhất. Ngoài ra, giám đốc thẩm cũng nhằm bảo đảm tính khách quan, công bằng và đúng pháp luật trong xét xử.

Theo nguyên tắc thực hiện chế độ hai cấp xét xử, thủ tục giám đốc thẩm được thực hiện sau khi bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật chứ không phải là thủ tục nối tiếp của cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm. Nó không phải là cấp xét xử thứ ba. Về nguyên tắc, sau khi vụ án đã xét xử xong ở cấp phúc thẩm thì bản án có hiệu lực pháp luật. Tuy nhiên, để những người tham gia tố tụng thực hiện trọn vẹn các quyền của mình, pháp luật tố tụng quy định quyền được khiếu nại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và đề nghị Tòa án cấp trên xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm. Điều đó khác với việc những người tham gia tố tụng làm đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xét xử lại vụ án. Hai thuật ngữ “xét xử lại” và “xét lại” tự nó đã trả lời cho sự khác nhau của hai thủ tục tố tụng.  

Trong thẩm quyền của mình, hội đồng giám đốc thẩm có quyền hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật để xét xử sơ thẩm lại hoặc xét xử phúc thẩm lại. Lý do để “hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật để xét xử sơ thẩm lại hoặc xét xử phúc thẩm lại” được quy định tại Điều 299 của BLTTDS là do “việc thu thập chứng cứ và chứng minh chưa thực hiện đầy đủ hoặc không đúng theo quy định”; “kết luận trong bản án, quyết định không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án hoặc có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật”; “thành phần của hội đồng xét xử sơ thẩm hoặc phúc thẩm không đúng theo quy định của BLTTDS hoặc có vi phạm nghiêm trọng khác về thủ tục tố tụng”.

Theo các quy định trên, các nội dung: “vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ án”, “sai lầm nghiêm trọng”, “tình tiết khách quan” là những vấn đề cần phải làm rõ. Hệ thống pháp luật tố tụng hiện hành chưa có văn bản nào giải thích các cụm từ trên để thống nhất nhận thức. Do vậy, việc đánh giá và nhận thức các cụm từ nói trên thường tùy thuộc vào người có thẩm quyền kháng nghị. Vì vậy, chúng tôi cho rằng, pháp luật cần phải quy định cụ thể, rõ ràng nội dụng các cụm từ trên để bảo đảm áp dụng pháp luật thống nhất trong việc kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm.

Thêm nữa, giám đốc thẩm là một thủ tục đặc biệt của pháp luật tố tụng nhằm bảo đảm cho các bản án, quyết định của Tòa án không có sai phạm. Tuy nhiên, nếu “hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật để xét xử sơ thẩm lại hoặc xét xử phúc thẩm lại” thì cũng dẫn vụ án vào tình trạng sa lầy của những quy định về thủ tục như xét xử phúc thẩm đã phân tích ở trên để vụ án phải xét xử lại từ đầu và cũng khó có thể thoát ra được.

Hơn nữa, giám đốc thẩm là một thủ tục tố tụng đặc biệt, nhưng khi việc xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm được thực hiện nhiều lần thì khó có thể coi là thủ tục đặc biệt. Do vậy, việc sớm hoàn thiện quy định của pháp luật tố tụng về thủ tục giám đốc thẩm là đòi hỏi cấp thiết, một mặt nhằm bảo đảm một quy trình chặt chẽ cho việc giám đốc thẩm, mặt khác giúp nâng cao uy tín của Tòa án trong việc áp dụng pháp luật thống nhất; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể khi tham gia vào các quan hệ pháp luật. Theo chúng tôi, hội đồng giám đốc thẩm sau khi hủy án thì cũng phải được trao quyền ra một bản án mới. Như vậy mới có thể thực hiện đúng chế độ hai cấp xét xử đã được pháp luật quy định và bảo đảm giám đốc thẩm là một thủ tục tố tụng đặc biệt.

2. Kiến nghị

Một vụ án được xét xử đi, xét xử lại nhiều lần ở các cấp tòa án khác nhau có nhiều nguyên nhân, như từ sự phức tạp của đời sống dân sự; từ năng lực, trình độ, phẩm chất của người xét xử; từ sự bất cập của hệ thống pháp luật tố tụng dân sự. Về mặt pháp luật, có thể nói, chính các quy định về thẩm quyền của hội đồng xét xử phúc thẩm “hủy bản án và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án”, thẩm quyền của hội đồng giám đốc thẩm “hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật để xét xử sơ thẩm lại hoặc xét xử phúc thẩm lại” đã là nguyên nhân trực tiếp khiến hàng loạt vụ án phải xét xử đi, xét xử lại nhiều lần. Đây là một tình trạng không nên có trong thực tế. Cần có các quy định khác để hạn chế được tình trạng này. Ngoài những kiến nghị đã nêu trên, chúng tôi đề nghị:

- Trong công cuộc cải cách tư pháp, nên tổ chức lại mô hình của Tòa án bảo đảm nguyên tắc thực hiện chế độ hai cấp xét xử, các cơ quan Tòa án quan hệ với nhau theo thẩm quyền xét xử, mô hình Tòa án theo hình tháp, mà đỉnh của nó là Tòa án nhân dân tối cao.

- Quy định lại thẩm quyền của từng cấp xét xử theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị trung ương lần thứ 8 khóa VII của Đảng (tháng 01/1995 ): “Cần nghiên cứu tăng thẩm quyền xét xử cho Tòa án nhân dân cấp huyện theo hướng xét xử sơ thẩm được thực hiện chủ yếu ở Tòa án cấp này. Tòa án nhân dân cấp tỉnh chủ yếu xét xử phúc thẩm. Tòa án nhân dân tối cao chủ yếu xét xử giám đốc thẩm”.

- Hoàn chỉnh pháp luật tố tụng dân sự, lưu ý giới hạn về số lần xét xử, tạo ra một khả năng có thể kiểm soát cả về thời gian cũng như trình tự tố tụng. Pháp luật tố tụng cần quy định hạn chế số lần Tòa án cấp phúc thẩm, hội đồng giám đốc thẩm được quyền hủy bản án, quyết định của Tòa án cấp dưới để giao Tòa án cấp dưới xét xử lại. 

TS. Nguyễn Quang Hiền - Tòa án nhân dân TP. Hồ Chí Minh
Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu lập pháp điện tử

Các tin tiếp
Các tin trước
TIÊU ĐIỂM
Xem nhiều nhất