Kiến nghị đối với các quy định về biện pháp khẩn cấp tạm thời trong tố tụng dân sự
0:51' 11/3/2011
Hình minh họa
Các quy định về biện pháp khẩn cấp tạm thời trong Bộ luật Tố tụng dân sự đã là một bước tiến mới phản ánh một nền tố tụng dân chủ, đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn giải quyết tranh chấp dân sự là tính nhanh chóng và sự bảo đảm an toàn pháp lý cho các bên đương sự trong việc bảo vệ quyền lợi của họ. Trên cơ sở quy định của Bộ luật TTDS, Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Nghị quyết số 02/2005/NQ-HĐTP ngày 27/4/2005 hướng dẫn thi hành một số quy định tại Chương VIII “Các biện pháp khẩn cấp tạm thời” của Bộ luật TTDS. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng đã cho thấy các quy định về biện pháp khẩn cấp tạm thời trong Bộ luật TTDS - bên cạnh những ưu việt - đã bộc lộ một số hạn chế, chưa tương thích và bao quát hết được thực tiễn. Từ đó, đòi hỏi cần phải tiếp tục nghiên cứu, hướng dẫn, bổ sung. Bài viết này tiến hành đánh giá một số quy định của pháp luật tố tụng dân sự về BPKCTT và bước đầu đưa ra những đề xuất, kiến nghị để hoàn thiện.

1. Về các biện pháp khẩn cấp tạm thời

 về BPKCTT: “giao người chưa thành niên cho cá nhân hoặc tổ chức trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục”. Đây là một quy định chưa đầy đủ, bởi ngoài đối tượng được áp dụng biện pháp này là người chưa thành niên, thì người mắc bệnh tâm thần, người không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình (mất năng lực hành vi dân sự) cũng rất cần được áp dụng biện pháp này. Vì vậy, việc bổ sung vào khoản 1 Điều 102 Bộ luật TTDS, quy định giao người mất năng lực hành vi dân sự cho cá nhân hoặc tổ chức trông nom, nuôi dưỡng, nếu việc giải quyết vụ án có liên quan đến họ mà chưa có người giám hộ, là rất cần thiết, đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn. Đồng thời, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cũng cần phải có hướng dẫn cụ thể như: tổ chức được giao trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự là các tổ chức nào, điều kiện cần có của tổ chức để được Tòa án giao trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục những đối tượng này.   

Mục đích của việc áp dụng BPKCTT được quy định tại Điều 99 Bộ luật TTDS là nhằm giải quyết nhu cầu cấp bách của đương sự, bảo vệ chứng cứ, bảo toàn tình trạng hiện có, tránh gây thiệt hại không thể khắc phục được hoặc để đảm bảo thi hành án. Điều này đòi hỏi pháp luật tố tụng phải trao cho Tòa án thẩm quyền ban hành lệnh áp dụng BPKCTT một cách “kịp thời và có hiệu quả”. Tuy nhiên, theo quy định tại các Điều 108, 109 và 110 Bộ luật TTDS thì các biện pháp kê biên tài sản, cấm chuyển dịch quyền về tài sản đang tranh chấp, cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp chỉ được Tòa án ra quyết định áp dụng BPKCTT nếu có căn cứ cho thấy người đang nắm giữ tài sản này “có hành vi” tẩu tán hủy hoại tài sản, chuyển dịch quyền tài sản hoặc làm thay đổi hiện trạng tài sản. Điều này có nghĩa là, khi Tòa án ra quyết định áp dụng BPKCTT thì những hành vi đó đã được thực hiện. Sự chậm trễ trong việc ra quyết định áp dụng BPKCCTT - dù chỉ là một khoảng thời gian rất ngắn - cũng đủ để cho người bị yêu cầu áp dụng BPKCCTT tẩu tán tài sản, thay đổi hiện trạng tài sản hoặc rút tiền từ tài khoản nhằm trốn tránh việc thi hành nghĩa vụ. Trong khi đó, Bộ luật TTDS lại không quy định về trách nhiệm của người có thẩm quyền áp dụng biện pháp này đối với những thiệt hại mà người yêu cầu phải gánh chịu do việc áp dụng chậm trễ các BPKCTT. Và như vậy, việc Tòa án ra quyết định áp dụng BPKCTT khi “người giữ tài sản đang tranh chấp có hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản” (khoản 1 Điều 108), “người đang chiếm hữu hoặc giữ tài sản đang tranh chấp có hành vi chuyển dịch quyền về tài sản” (Điều 109), “người đang chiếm hữu hoặc giữ tài sản đang tranh chấp có hành vi tháo gỡ, lắp ghép, xây dựng thêm hoặc có hành vi khác làm thay đổi hiện trạng tài sản đó” (Điều 110) là đã quá muộn, không còn giá trị, nên không đạt được mục đích của việc áp dụng BPKCTT. Theo chúng tôi, để khắc phục hạn chế này, các Điều 108, 109, 110 Bộ luật TTDS nên được bổ sung cụm từ “cần ngăn chặn”, cụ thể là: “nếu có căn cứ cho thấy người đang nắm giữ về tài sản có hành vi” bằng cụm từ “nếu có căn cứ cho thấy cần ngăn chặn người đang nắm giữ về tài sản có hành vi…”.

2. Thẩm quyền ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, căn cứ hủy bỏ các biện pháp khẩn cấp tạm thời  

Liên quan đến thẩm quyền của Tòa án các cấp trong việc ra quyết định áp dụng BPKCTT cũng có vấn đề cần bàn, đó là: trong trường hợp sau khi xét xử sơ thẩm, đương sự kháng cáo bản án đồng thời có đơn yêu cầu áp dụng BPKCTT. Giai đoạn này, Tòa án cấp sơ thẩm đang làm các thủ tục liên quan đến kháng cáo theo quy định của pháp luật mà chưa chuyển hồ sơ cho Tòa án cấp phúc thẩm. Vậy, Tòa án cấp nào có thẩm quyền ra quyết định áp dụng BPKCTT nếu yêu cầu của đương sự là có căn cứ, đúng pháp luật và thuộc trường hợp cần phải được áp dụng BPKCTT? Ngược lại, nếu yêu cầu của đương sự không đúng pháp luật và không thuộc trường hợp cần phải áp dụng BPKCTT thì Tòa án nào sẽ không chấp nhận yêu cầu áp dụng BPKCTT? Tòa án cấp nào có thẩm quyền ban hành văn bản trả lời đương sự? Đây là những vấn đề Bộ luật TTDS chưa có quy định cụ thể.   

Theo quan điểm của chúng tôi, để xác định rõ vấn đề thẩm quyền của Tòa án cấp nào trong việc xem xét yêu cầu áp dụng BPKCTT, Bộ luật TTDS cần thiết bổ sung quy định: “Tòa án cấp sơ thẩm phải chuyển đơn yêu cầu áp dụng BPKCTT và hồ sơ vụ án để Tòa án cấp phúc thẩm xem xét chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu áp dụng BPKCTT, còn các thủ tục về kháng cáo, Tòa án cấp sơ thẩm sẽ bổ sung sau”.

Tính chất của BPKCTT là tính khẩn cấp và tính tạm thời. Tính tạm thời thể hiện ở chỗ quyết định áp dụng BPKCTT không phải là quyết định cuối cùng về giải quyết vụ việc dân sự, nó chỉ tồn tại trong một khoảng thời gian nhất định. Khoản 1 Điều 122 Bộ luật TTDS quy định cụ thể các trường hợp Tòa án ra quyết định hủy bỏ BPKCTT. Việc áp dụng khoản 1 Điều 122 trong thực tiễn cũng đặt ra vấn đề cần phải tiếp tục có sự nghiên cứu, hướng dẫn. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã ra quyết định áp dụng BPKCTT song nếu có căn cứ hủy bỏ việc áp dụng BPKCTT quy định tại khoản 1 Điều 122 thì Tòa án ra quyết định hủy bỏ BPKCTT. Nhưng trong thực tế có trường hợp, khi Tòa án đã ra quyết định áp dụng BPKCTT và sau đó đã có quyết định giải quyết vụ án bằng bản án; bản án có hiệu lực pháp luật, chuyển sang giai đoạn thi hành án nhưng chưa có căn cứ hủy bỏ quyết định áp dụng BPKCTT nên quyết định này vẫn tồn tại. Đến giai đoạn thi hành bản án thì có căn cứ hủy bỏ BPKCTT, chẳng hạn như người phải thi hành quyết định áp dụng BPKCTT nộp tài sản hoặc có người khác thực hiện biện pháp bảo đảm thi hành nghĩa vụ đối với bên có quyền theo điểm b, khoản 1 Điều 122 Bộ luật TTDS. Vấn đề đặt ra là trong trường hợp này, khi có căn cứ hủy bỏ việc áp dụng BPKCTT, thì Tòa án có thẩm quyền hủy bỏ BPKCTT không? Theo chúng tôi, khi đã chuyển sang giai đoạn thi hành bản án thì Tòa án không còn quyền ban hành các văn bản tố tụng, trong đó có quyết định hủy bỏ BPKCTT (trừ thông báo sửa chữa, bổ sung bản án). Trong khi đó, theo quy định tại Điều 122 thì chỉ Tòa án là cơ quan duy nhất có thẩm quyền hủy bỏ BPKCTT. Bộ luật TTDS cũng như Nghị quyết số 02/2005/NQ-HĐTP ngày 27/4/2005 Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (Nghị quyết 02) cũng chưa có quy định xử lý như thế nào đối với quyết định áp dụng BPKCTT đối với trường hợp này. Hiện nay, trong thực tiễn, áp dụng khoản 1 Điều 122, có Tòa án đã ghi trong phần quyết định của bản án: Giữ nguyên quyết định áp dụng BPKCTT số… của Tòa án nhân dân… cho đến khi đương sự có nghĩa vụ thi hành xong nghĩa vụ đối với đương sự có quyền. Viết như vậy có thể giải quyết được vấn đề. Tuy nhiên, cách làm này lại nảy sinh một bất cập là: đối với việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ BPKCTT thì đương sự chỉ được quyền khiếu nại, Viện kiểm sát chỉ có quyền kiến nghị; còn đối với bản án, đương sự có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát có quyền kháng nghị nên khi bản án chưa có hiệu lực, đương sự có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát có quyền kháng nghị cả về BPKCTT. Để thống nhất cách làm trong thực tiễn, thiết nghĩ Tòa án nhân dân tối cao cần nghiên cứu và có hướng dẫn cụ thể.

3. Về biện pháp bảo đảm

Khi yêu cầu Tòa án áp dụng BPKCTT quy định tại khoản 12 Điều 102 Bộ luật TTDS “Cấm hoặc buộc đương sự thực hiện hành vi nhất định” thì người yêu cầu không phải thực hiện biện pháp bảo đảm. Nhưng nếu yêu cầu Tòa án áp dụng BPKCTT quy định tại khoản 11 Điều 102 “Phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ” thì người yêu cầu buộc phải nộp tài sản bảo đảm. Khi giải quyết các tranh chấp hợp đồng vay tài sản hoặc các tranh chấp khác, đương sự có thể yêu cầu Tòa án áp dụng BPKCTT quy định tại khoản 11 Điều 102, hoặc có thể yêu cầu Tòa án áp dụng BPKCTT quy định tại khoản 12 Điều 102 “Cấm hoặc buộc đương sự thực hiện hành vi nhất định”, ở đây là cấm đương sự thực hiện hành vi chuyển dịch quyền sở hữu đối với tài sản. Chúng tôi cho rằng, hai BPKCTT này đều có mục đích giống nhau là bảo đảm thi hành nghĩa vụ và khi áp dụng không đúng đều có thể gây thiệt hại cho người bị áp dụng hoặc cho người thứ ba, nhưng theo quy định của Bộ luật TTDS thì thủ tục, điều kiện áp dụng lại khác nhau. Chính vì vậy, trong thực tiễn, khi có yêu cầu và có căn cứ áp dụng, các Tòa án đã không áp dụng BPKCTT được quy định tại khoản 11 Điều 102 mà áp dụng BPKCTT quy định tại khoản 12 Điều 102 nhằm mục đích để người có yêu cầu Tòa án áp dụng BPKCTT không phải thực hiện biện pháp bảo đảm. Trường hợp này, nếu đương sự yêu cầu áp dụng BPKCTT không đúng, gây thiệt hại cho người bị áp dụng hoặc người thứ ba thì quyền lợi của người bị thiệt hại sẽ không được bảo đảm. Từ đó, chúng tôi cho rằng, Bộ luật TTDS cần bổ sung quy định về buộc thực hiện biện pháp bảo đảm đối với BPKCTT quy định tại khoản 12 Điều 102 Bộ luật TTDS.

Để đảm bảo lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng BPKCTT và ngăn ngừa sự lạm dụng từ phía người yêu cầu, Bộ luật TTDS đã quy định về biện pháp bảo đảm. Theo khoản 1 Điều 120 thì người yêu cầu Tòa án áp dụng một trong các BPKCTT như kê biên; cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp; cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp; phong toả tài sản, tài khoản của người có nghĩa vụ, sẽ phải gửi một khoản tiền, kim khí quý, đá quý hoặc giấy tờ có giá “do Tòa án ấn định tương đương với nghĩa vụ tài sản mà người có nghĩa vụ phải thực hiện” vào tài khoản phong tỏa tại ngân hàng. Cụ thể hơn, theo hướng dẫn tại Nghị quyết 02 thì “nghĩa vụ tài sản” là nghĩa vụ phải bồi thường thiệt hại thực tế  có thể xảy ra cho người bị áp dụng BPKCTT hoặc cho người thứ ba.

Như vậy, đối chiếu quy định tại khoản 1 Điều 120 và hướng dẫn của Nghị quyết số 02 về giá trị của khoản tiền, kim khí quý, đá quý hoặc giấy tờ có giá mà người yêu cầu áp dụng BPKCTT phải nộp thì rõ ràng là có sự “vênh” nhau. Xét về logic ngôn ngữ, quy định tại khoản 1 Điều 120 Bộ luật TTDS cho thấy: khoản tiền, kim khí quý, đá quý, giấy tờ có giá được hiểu là phải có giá trị ngang bằng với nghĩa vụ tài sản mà người có nghĩa vụ phải thực hiện và “người có nghĩa vụ phải thực hiện” ở đây cũng phải được hiểu là người bị yêu cầu áp dụng BPKCTT. Nếu hiểu, vận dụng theo tinh thần của Điều 120 thì sẽ rất khó khăn cho người yêu cầu áp dụng BPKCTT và điều kiện này sẽ dẫn đến hạn chế quyền yêu cầu Tòa án áp dụng BPKCTT. Thực tiễn cho thấy, đã có trường hợp Tòa án áp dụng khoản 1 Điều 120 ra quyết định buộc thực hiện biện pháp bảo đảm trong đó buộc người yêu cầu phải nộp tài sản bảo đảm tương đương với giá trị tài sản tranh chấp. Song, theo hướng dẫn tại  điểm a, tiểu mục 8.1 Mục 8 Nghị quyết số 02 thì “nghĩa vụ tài sản là nghĩa vụ phải bồi thường thiệt hại thực tế có thể xảy ra cho người bị áp dụng BPKCTT hoặc cho người thứ ba do việc yêu cầu áp dụng BPKCTT không đúng”. Ngoài ra, cũng theo hướng dẫn tại điểm b, tiểu mục 8.1 Mục 8 của Nghị quyết này thì “người có nghĩa vụ phải thực hiện” là người có yêu cầu áp dụng BPKCTT không đúng. Về nội dung hướng dẫn trên của Nghị quyết 02, chúng tôi đồng ý với một quan điểm cho rằng, cách giải thích của Nghị quyết số 02 “phù hợp với bản chất của biện pháp bảo đảm theo pháp luật tố tụng dân sự của nhiều nước trên thế giới và phù hợp với thực tiễn áp dụng. Tuy nhiên, xét về logic ngôn ngữ thì cách giải thích này lại không đúng với tinh thần của Điều 120 Bộ luật TTDS”. Để khắc phục sự “vênh” nhau này, Điều 120 Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật TTDS đã sửa đổi theo tinh thần hướng dẫn của Nghị quyết số 02 là người yêu cầu Tòa án áp dụng BPKCTT quy định tại các khoản 6, 7, 8, 10, 11 Điều 102 phải nộp tài sản bảo đảm “tương đương với tổn thất hoặc thiệt hại có thể phát sinh do việc yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng…”. Sửa đổi như vậy là hoàn toàn phù hợp cả về lý luận và thực tiễn.

Tuy nhiên, việc xác định mức tổn thất hoặc thiệt hại có thể phát sinh như thế nào là rất khó đối với Tòa án cũng như với người yêu cầu, mặc dù Nghị quyết số 02 cũng đã hướng dẫn cách dự kiến và tạm tính thiệt hại thực tế có thể xảy ra. Đã có nhiều trường hợp, việc dự kiến và tạm tính thiệt hại phát sinh không chính xác, không tương xứng với hậu quả xảy ra. Theo quy định của Bộ luật TTDS thì người yêu cầu áp dụng hay Tòa án áp dụng BPKCTT không đúng mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, vậy trong trường hợp tài sản bảo đảm không đủ để bù đắp những thiệt hại đã xảy ra do việc áp dụng BPKCTT không đúng thì có phải bồi thường thiệt hại không và ai phải bồi thường cũng là vấn đề cần được quy định rõ trong Bộ luật TTDS. Đồng thời, khi có tranh chấp xảy ra thì yêu cầu bồi thường thiệt hại này được xem xét trong cùng một vụ án hay giải quyết thành một vụ án riêng cũng là vấn đề cần phải xác định. Chúng tôi cho rằng, yêu cầu bồi thường thiệt hại do áp dụng không đúng BPKCTT không thể giải quyết trong cùng vụ án đang giải quyết.

Về quy định bổ sung biện pháp bảo đảm tại khoản 1 Điều 120 Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật TTDS là người yêu cầu áp dụng BPKCTT phải nộp cho Toà án “...chứng từ bảo lãnh của ngân hàng, tổ chức tín dụng khác hoặc của cá nhân, cơ quan tổ chức khác nhưng phải tương đương với tổn thất hoặc thiệt hại cụ thể phát sinh do hậu quả của việc yêu cầu áp dụng BPKCTT không đúng, trừ trường hợp đối tượng tranh chấp là tài sản của Nhà nước hoặc các trường hợp khác do pháp luật quy định”. Quy định như vậy là một giải pháp đảm bảo quyền lợi cho người yêu cầu Tòa án áp dụng BPKCTT trong trường hợp người yêu cầu áp dụng BPKCTT chưa có tài sản bảo đảm hoặc không có, không đủ tài sản bảo đảm. Đối với biện pháp bảo đảm tài chính cho yêu cầu bắt giữ tàu biển, tàu bay, Pháp lệnh Thủ tục bắt giữ tàu biển (Điều 5), Pháp lệnh Thủ tục bắt giữ tàu bay (Điều 6) cũng đã có quy định người yêu cầu bắt giữ tàu biển, tàu bay phải thực hiện biện pháp bảo đảm tài chính “…nộp cho Tòa án chứng từ bảo lãnh bằng tài sản của ngân hàng hoặc tổ chức tín dụng khác hoặc của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác”. Tuy nhiên, nếu so chiếu quy định tại khoản 1 Điều 120 Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật TTDS; Điều 5 Pháp lệnh Thủ tục bắt giữ tàu biển, Điều 6 Pháp lệnh Thủ tục bắt giữ tàu bay với nội dung Điều 361 BLDS 2005 thì lại có mâu thuẫn. Bởi lẽ, khi ngân hàng, tổ chức tín dụng hoặc cơ quan tổ chức khác bảo lãnh cho người yêu cầu Tòa án  áp dụng BPKCTT  bằng việc phát hành chứng từ bảo lãnh thì sẽ phát sinh quan hệ bảo lãnh giữa ngân hàng, tổ chức tín dụng, cơ quan, tổ chức, cá nhân (người bảo lãnh) với người yêu cầu Tòa án áp dụng BPKCTT (người được bảo lãnh) và người bị áp dụng BPKCTT (người nhận bảo lãnh). Quan hệ bảo lãnh này đòi hỏi phải có sự thỏa thuận, thống nhất ý chí của ba bên. Về mặt lý luận, do tính chất khẩn cấp của việc áp dụng BPKCTT nên trước khi ra quyết định áp dụng không thể báo trước để nhận được sự đồng ý của người bị áp dụng BPKCTT, bởi vì người bị yêu cầu áp dụng BPKCTT có thể có hành vi tẩu tán tài sản, thay đổi hiện trạng tài sản, hoặc rút tiền từ tài khoản. Và như vậy, việc áp dụng BPKCTT sẽ trở nên vô nghĩa, chỉ còn là hình thức. Mặt khác, trong thực tế khi người được bảo lãnh và người bảo lãnh cam kết cũng không thể có trường hợp người bị yêu cầu áp dụng BPKCTT đồng ý. Như vậy, quan hệ bảo lãnh này không thiết lập theo quy định của Bộ luật Dân sự nên bị coi là vô hiệu, không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa người bảo lãnh, người được bảo lãnh và người nhận bảo lãnh. Chính vì vậy, nếu có tranh chấp về quan hệ bảo lãnh xảy ra thì không thể có cơ sở pháp lý để buộc người bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh. Từ đó, quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng BPKCTT hoặc người thứ ba không được bảo vệ khi họ bị thiệt hại do việc áp dụng BPKCTT không đúng gây ra.

Từ những phân tích trên, chúng tôi cho rằng, các biện pháp bảo đảm cần giữ nguyên như quy định của Bộ luật TTDS.

4. Về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời tại phiên tòa

Theo quy định tại khoản 2 Điều 117 Bộ luật TTDS thì tại phiên tòa, nếu Hội đồng xét xử chấp nhận đơn yêu cầu áp dụng BPKCTT mà thuộc trường hợp bắt buộc phải thực hiện biện pháp bảo đảm, thì HĐXX chỉ ra quyết định áp dụng BPKCTT khi người yêu cầu xuất trình chứng cứ đã thực hiện xong biện pháp bảo đảm. Nhưng việc dự kiến và tạm tính thiệt hại có thể phát sinh không hề đơn giản như đã nói trên. Mặt khác, để đương sự thực hiện biện pháp bảo đảm thì cũng cần đòi hỏi phải có một khoảng thời gian nhất định nên không thể tiếp tục việc xét xử được. Bộ luật TTDS không có quy định trong trường hợp này, Tòa án được quyền hoãn phiên tòa hay ngừng việc xét xử. Chúng tôi cho rằng, trong trường hợp này ngừng việc xét xử theo Điều 197 Bộ luật TTDS là hợp lý nhất, thời hạn tạm ngừng việc xét xử đảm bảo cho việc dự kiến, tạm tính thiệt hại có thể phát sinh được chính xác, đảm bảo cho đương sự đủ điều kiện chuẩn bị tài sản bảo đảm, thực hiện thủ tục nộp tài sản bảo đảm cũng như việc giải quyết vụ án không bị kéo dài, bảo đảm được quyền lợi của các đương sự. Điều 197 Bộ luật TTDS quy định: “Trong trường hợp đặc biệt do Bộ luật này quy định thì việc xét xử có thể tạm ngừng không quá năm ngày làm việc. Hết thời hạn tạm ngừng, việc xét xử vụ án được tiếp tục”. Song, nghiên cứu các quy định của Bộ luật TTDS, chúng tôi không thấy có quy định trường hợp nào thì việc xét xử có thể tạm ngừng. Do đó, chúng tôi đề nghị cần quy định cụ thể các căn cứ để ngừng việc xét xử, trong đó có căn cứ để Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu áp dụng BPKKTT tại phiên tòa.

5. Về trách nhiệm bồi thường của Tòa án  

Bộ luật TTDS quy định các trường hợp Tòa án có trách nhiệm bồi thường khi áp dụng không đúng BPKCTT gây thiệt hại cho người bị áp dụng BPKCTT hoặc cho người thứ ba (Khoản 2 Điều 101) nhưng lại chưa có quy định trách nhiệm bồi thường của Tòa án trong trường hợp không ra quyết định hoặc chậm ra quyết định áp dụng BPKCTT. Vì vậy, trong thực tiễn, nếu đương sự yêu cầu và có căn cứ áp dụng BPKCTT nhưng Tòa án không ra hoặc chậm ra quyết định áp dụng BPKCTT gây thiệt hại cho đương sự thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại này như thế nào? Quyền, lợi ích của đương sự yêu cầu có được bảo vệ không? Những nội dung này cần được bổ sung trong Bộ luật TTDS về trách nhiệm bồi thường của Tòa án trong việc không ra quyết định hoặc chậm ra quyết định áp dụng BPKCTT, gây thiệt hại cho người bị áp dụng BPKCTT hoặc cho người thứ ba./.

ThS.Nguyễn Thị Hạnh - Giảng viên khoa đào tạo Thẩm phán, Học viện Tư pháp
 Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu lập pháp điện tử

 

Ý KIẾN BẠN ĐỌC VỀ BÀI VIẾT NÀY

Họ và tên : *  
Địa chỉ :  
Email : *  
Ý kiến của bạn : *

Mã bảo vệ :

 

Các tin tiếp
Các tin trước
TIÊU ĐIỂM
Xem nhiều nhất