Quản lý nhà nước về báo chí trong thời kỳ hội nhập
11:13' 2/7/2009
Báo chí tác động từng ngày, từng giờ đến đời sống xã hội. Vì vậy, mọi chế độ chính trị đều có chủ trương và biện pháp quản lý báo chí theo hướng...


Báo chí tác động từng ngày, từng giờ đến đời sống xã hội. Vì vậy, mọi chế độ chính trị đều có chủ trương và biện pháp quản lý báo chí theo hướng có lợi nhất cho mình. Ở nước ta, mục tiêu cao nhất của báo chí cách mạng là phục vụ cho sự phát triển của đất nước và lợi ích của nhân dân. Bởi vậy, quản lý nhà nước về báo chí trong từng thời kỳ phát triển của đất nước cũng phải có sự điều chỉnh, thay đổi cho phù hợp với sự thay đổi hàng ngày của thực tế đời sống.

1. Thực trạng quản lý nhà nước về báo chí

Theo quy định của Luật Báo chí năm 1999 (đã sửa đổi, bổ sung), cơ quan quản lý nhà nước về báo chí gồm: cơ quan quản lý nhà nước về báo chí ở trung ương (Bộ Thông tin và truyền thông); các bộ, cơ quan ngang bộ; cơ quan quản lý nhà nước về báo chí ở địa phương (UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương)

1.1. Quản lý nhà nước về báo chí ở trung ương

Thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được Luật Báo chí quy định, Bộ Thông tin và truyền thông thực hiện chức năng quản lý nhà nước về báo chí trên nhiều lĩnh vực, điển hình là các lĩnh vực sau:

1.1.1 Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và phát triển sự nghiệp báo chí

Thời gian qua, hoạt động này được Bộ Thông tin và truyền thông thực hiện nghiêm túc, đúng định hướng và sự chỉ đạo của lãnh đạo Đảng và Nhà nước. Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Bộ Chính trị và Thủ tướng Chính phủ, “Bộ đã và đang tiếp tục tiến hành rà soát chức năng, nhiệm vụ các cơ quan báo chí, xác định những ấn phẩm chồng chéo về tôn chỉ, mục đích, chức năng, nhiệm vụ, không phù hợp quy hoạch đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt năm 1999; trình Thủ tướng Chính phủ ký ban hành “Chiến lược phát triển thông tin đến năm 2010”... xây dựng quy hoạch hệ thống báo chí in toàn quốc” (1). Tuy nhiên, việc quy hoạch làm không đều, liên tục. Thêm nữa, công tác quản lý nhà nước về báo chí còn “thiếu chủ động trong định hướng chiến lược; chạy theo vụ việc, lúng túng trong quy hoạch, sắp xếp” (2). Thực tế hoạt động báo chí hiện nay vẫn tồn tại hiện tượng vừa thừa, vừa thiếu, nhất là tình trạng có nhiều tờ báo trùng lắp về nội dung và thiếu ở chỗ nội dung một số mảng đề tài không được đề cập đến, nhất là mảng đề tài về các ngành khoa học. Thừa, thiếu còn thể hiện ở việc báo được xuất bản, phát hành phân bố không đều, tập trung chủ yếu ở thành thị, còn nông thôn, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng miền núi, nhân dân có rất ít báo hoặc không có báo để đọc. “Nhiều cơ quan báo chí chỉ coi trọng địa bàn thành phố, thị xã vì ở đó có thể phát hành được nhiều, còn các địa bàn khác không được quan tâm đúng mức. Tình trạng đó dẫn đến mức hưởng thụ sách báo quá chênh lệch giữa thành phố, thị xã và vùng nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa. Hiện nay, 75% báo chí chủ yếu phát hành ở thành phố, thị xã, vùng trung tâm, còn 25% báo chí phát hành ở vùng nông thôn” (3).

1.1.2 Xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về báo chí

Từ năm 1999 đến nay, Bộ Thông tin và truyền thông đã chủ trì, phối hợp xây dựng và trình Chính phủ ký ban hành, tự ban hành hơn 30 văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực báo chí. Cùng với Luật Báo chí, các văn bản pháp luật này bước đầu phục vụ có hiệu quả công tác quản lý báo chí. Tuy nhiên, với sự phát triển như vũ bão của công nghệ thông tin và sự thay đổi nhanh chóng của đời sống thì nhìn chung, các văn bản quy phạm pháp luật này còn thiếu đồng bộ, việc sửa đổi, bổ sung chậm được tiến hành. Với chức năng là cơ quan quản lý cấp trung ương, Bộ Thông tin và truyền thông chưa kịp thời, chủ động trong việc tổ chức tập huấn triển khai nội dung các văn bản pháp luật cho cán bộ quản lý của các sở; đề xuất, kiến nghị, xây dựng văn bản liên quan đến báo chí còn hạn chế (4).

 1.1.3 Thanh tra, kiểm tra hoạt động báo chí

Hoạt động thanh tra, kiểm tra báo chí đang ngày càng đi vào nề nếp. “Từ năm 1999 đến nay, Bộ đã tiếp nhận và giải quyết hơn 1.750 đơn thư khiếu nại, tố cáo, phản ánh về những thông tin không chính xác trên báo chí do các cá nhân, tổ chức trong cả nước gửi tới liên quan đến gần 1.000 vụ việc” (5). Một số nhà báo lợi dụng uy tín nghề nghiệp làm trái với đạo đức, trách nhiệm của người làm báo, vi phạm Luật Báo chí đã bị xử lý nghiêm bằng các hình thức: cảnh cáo, tịch thu thẻ nhà báo, phê bình, khiển trách. Những người đứng đầu cơ quan báo chí có người vi phạm, do buông lỏng quản lý cũng phải chịu những hình thức kỷ luật đúng mức.

Lưu chiểu là một khâu quan trọng của quản lý nhà nước về báo chí nhằm thực hiện chức năng kiểm tra trước khi cho lưu hành nhưng hiện nay, vẫn có một số tạp chí không thực hiện nộp lưu chiểu hoặc lưu chiểu không đúng thời hạn theo quy định của pháp luật. Điều đó dẫn đến việc phát hiện chậm các vi phạm, gây không ít khó khăn cho quá trình xử lý và để lại hậu quả phức tạp. Hơn nữa, “khối lượng công việc phải xử lý trong công tác quản lý nhà nước về báo chí ngày càng nhiều và phức tạp, trong khi đó, đội ngũ cán bộ quản lý còn thiếu và yếu, một bộ phận cán bộ chưa đáp ứng yêu cầu của công tác quản lý trong tình hình mới” (6).

1.2. Quản lý nhà nước về báo chí ở các bộ, cơ quan ngang bộ

Các bộ, cơ quan ngang bộ - với vai trò là cơ quan chủ quản báo chí - đã có nhiều cố gắng trong công tác chỉ đạo, quản lý cơ quan báo chí thuộc quyền trong việc thực hiện phương hướng, nhiệm vụ, kế hoạch hoạt động; đồng thời tổ chức bộ máy, xây dựng đội ngũ cán bộ báo chí đảm bảo các tiêu chuẩn về chính trị, nghiệp vụ. Nhiều cơ quan chủ quản báo chí đã chủ động xây dựng quy chế quản lý cơ quan báo chí thuộc quyền, tạo điều kiện cho cơ quan báo chí hoạt động đúng quy định, có sự rành mạch, thống nhất trong chỉ đạo, quản lý và trong công tác phối hợp của cơ quan báo chí với các đơn vị liên quan thuộc Bộ Thông tin và truyền thông.

Tuy nhiên trên thực tế, mối quan hệ giữa cơ quan chủ quản và cơ quan báo chí theo luật định chưa được thực hiện một cách rõ ràng, rành mạch. Nhiều trường hợp cơ quan chủ quản buông lỏng vai trò, trách nhiệm của mình. Một số cơ quan chủ quản không kiên quyết sáp nhập những tờ báo có tôn chỉ, mục đích trùng lặp, hoặc không đình chỉ những cơ quan báo chí thiếu các điều kiện đảm bảo cho tờ báo hoạt động bình thường, gây khó khăn cho việc quy hoạch hệ thống báo chí cả nước… Tình trạng buông lỏng chỉ đạo, quản lý của một số cơ quan chủ quản vẫn diễn ra. Không ít tờ báo xa rời tôn chỉ mục đích, chạy theo mục đích thương mại, không chấp hành nghiêm túc sự chỉ đạo, quản lý của cấp trên. Báo thuộc lĩnh vực này lại đưa tin về lĩnh vực khác, nhiều khi những sự kiện lớn của ngành mình, lĩnh vực mình lại phản ánh rất mờ nhạt, nhưng cơ quan chủ quản vẫn bỏ qua hoặc có nhắc nhở nhưng cơ quan báo chí không thực hiện thì cũng không xử lý. Tiêu chuẩn, quy trình bổ nhiệm cán bộ lãnh đạo báo chí của nhiều cơ quan chủ quản thực hiện không chặt chẽ. Không ít cơ quan chủ quản phó mặc cho cơ quan báo chí tuyển chọn phóng viên, cộng tác viên, thu nhận cả những người không đủ tư cách đạo đức, chuyên môn vào làm báo. Có cơ quan chủ quản sau khi xin ra số phụ đã khoán trắng cả về nội dung lẫn kinh phí.

Vẫn còn hiện tượng cơ quan chủ quản bổ nhiệm cán bộ lãnh đạo báo chí không được đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ. Một số cơ quan chủ quản báo chí không thực hiện đúng quy trình bổ nhiệm, miễn nhiện cán bộ, không gửi văn bản thỏa thuận tới cơ quan quản lý nhà nước. Một số cơ quan xin thành lập cơ quan báo chí khi chưa đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật như: điều kiện về trụ sở, trang thiết bị, nguồn tài chính, tổ chức bộ máy, cán bộ...

Một số cơ quan báo chí chấp hành sự chỉ đạo không nghiêm túc, thường xuyên vi phạm hoặc có những vi phạm nghiêm trọng, Bộ Thông tin và truyền thông đã nhắc nhở, phê bình nhiều lần nhưng cơ quan chủ quản không tích cực chấn chỉnh, xử lý kỷ luật; hoặc xử lý không nghiêm (7).

1.3. Quản lý nhà nước về báo chí ở địa phương

Trong thời gian qua, các Sở Thông tin và truyền thông đã chú trọng thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về báo chí ở địa phương. Các Sở cũng chú trọng công tác tham mưu cho Tỉnh ủy, Thành ủy, UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương về quy hoạch báo chí; soạn thảo mới, cụ thể hóa, hướng dẫn việc thực hiện các văn bản pháp quy về báo chí trên cơ sở nội dung của Luật Báo chí và Nghị định 51/2002/NĐ-CP; thực hiện tốt chức năng quản lý hoạt động của các Văn phòng đại diện và phóng viên thường trú của báo chí trung ương và địa phương khác trên địa bàn…

Tuy nhiên, công tác quản lý báo chí ở địa phương còn những mặt hạn chế. Nhiều địa phương chưa có bộ phận, thậm chí chưa có cán bộ chuyên trách quản lý báo chí, xuất bản. Trong công tác quản lý hoạt động phát thanh, truyền hình, Internet - lĩnh vực có tính đặc thù, đòi hỏi phải có kiến thức về công nghệ, kỹ thuật - trình độ, năng lực của cán bộ quản lý ở một số địa phương còn chưa đáp ứng được yêu cầu; đa số địa phương chưa có kinh phí đầu tư trang thiết bị đáp ứng yêu cầu ngày càng đa dạng và phức tạp của công tác quản lý. UBND và Sở Thông tin và truyền thông một số tỉnh, thành phố chưa nhận thức hết vai trò, trách nhiệm lãnh đạo, quản lý các đài phát thanh, truyền hình thuộc quyền quản lý của mình. Một số địa phương, mặc dù có nhiều cơ quan báo chí, nhưng cho đến nay vẫn không có tổ chức bộ máy hoặc cán bộ chuyên trách giúp UBND thực hiện chức năng quản lý nhà nước về báo chí. Một số địa phương thực hiện việc xử lý vi phạm của cơ quan báo chí không nghiêm, có nơi không thực hiện đúng thẩm quyền (8).

2. Yêu cầu và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về báo chí

2.1. Yêu cầu quản lý nhà nước về báo chí

Hoạt động báo chí của nước ta trong điều kiện hiện nay chịu các tác động: nhu cầu thông tin và được thông tin; sự phát triển nhanh về kỹ thuật và công nghệ truyền thông; nền kinh tế theo cơ chế thị trường... Những tác động trên đặt ra một số yêu cầu đối với quản lý nhà nước về báo chí như sau:

- Quản lý nhà nước về báo chí phải bảo đảm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, có quyền được thông tin của công dân theo quy định tại Điều 69 của Hiến pháp năm 1992 và các văn bản luật có liên quan, nâng cao trách nhiệm xã hội của báo chí, đáp ứng nhu cầu thông tin của xã hội tốt hơn.

- Quản lý về báo chí phải được đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, quản lý của nhà nước và trong khuôn khổ của pháp luật.

- Phát triển báo chí phải đi đôi với quản lý chặt chẽ, có hiệu quả toàn bộ hệ thống báo chí cũng như từng cơ quan báo chí. Thời kỳ mới đặt ra những yêu cầu mới của hoạt động báo chí. Tuy nhiên, trước tác động của cơ chế thị trường, mọi hoạt động của báo chí luôn đối mặt với nguy cơ tự phát. Do vậy, lãnh đạo, quản lý báo chí phải đặc biệt quan tâm đến những đặc điểm của tình hình mới, phòng ngừa và hạn chế tiêu cực. Bên cạnh đó, cũng cần đề phòng khuynh hướng nhân danh sự lãnh đạo, quản lý để bóp nghẹt sức năng động, sáng tạo của các cơ quan cũng như cá nhân nhà báo. Quản lý chặt chẽ chính là điều kiện bảo đảm cho báo chí phát triển đúng quy hoạch, phù hợp quy mô, số lượng, tránh lãng phí. Nhưng báo chí là một bộ phận thuộc lĩnh vực sáng tạo văn hoá, tinh thần, rất cần những khoảng trống riêng như V.I.Lênin đã từng nhấn mạnh. Do vậy, quản lý báo chí đòi hỏi phải vừa mềm dẻo, vừa nguyên tắc mới có thể đạt hiệu quả mong muốn.

- Quản lý nhà nước về báo chí phải bắt kịp trình độ phát triển cao của phương tiện kỹ thuật, công nghệ truyền thông hiện đại. Bản thân sự quản lý phải chứa đựng hàm lượng công nghệ cao và đội ngũ cán bộ quản lý phải hiểu và sử dụng được. Điều này kéo theo việc các văn bản quy phạm pháp luật được ban hành có khuôn khổ pháp lý phù hợp với nhiều yêu cầu, trong đó có yêu cầu về kỹ thuật, công nghệ truyền thông.

- Quản lý nhà nước và pháp luật về báo chí phải phù hợp với cơ chế vận hành trong điều kiện kinh tế thị trường. Pháp luật phải điều chỉnh kịp thời những tác động của thị trường, quy luật cung cầu. Báo chí đáp ứng được nhu cầu, thị hiếu của quần chúng nhưng điều đó không được dẫn đến khuynh hướng thương mại hóa một cách tràn lan và sự lũng đoạn của đồng tiền đối với báo chí. Nhu cầu thông tin và được thông tin cần có sự giao lưu quốc tế. Sự giao lưu này ngày càng mở rộng, nhất là khi Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên WTO. Pháp luật về báo chí phải phù hợp với các chuẩn mực và cam kết mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia.

2.2. Các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về báo chí

Để góp phần khắc phục sự yếu kém về mặt quản lý nhà nước trong lĩnh vực báo chí, chúng tôi xin nêu lên một số giải pháp sau:

2.2.1 Xây dựng quy hoạch phát triển báo chí phù hợp

Phương châm chỉ đạo quan trọng của Đảng và Nhà nước ta đối với hoạt động báo chí là “phát triển đi đôi với quản lý tốt”. Sự phát triển này không chỉ đơn thuần là tăng về mặt số lượng mà còn bao gồm cả mở rộng quy mô, phạm vi tác động và nâng cao chất lượng thông tin. Việc tiếp tục mở rộng quy mô của báo chí trong phạm vi toàn xã hội là một yêu cầu tất yếu. Xã hội luôn phát triển, dân trí ngày càng cao, nhu cầu thông tin, giao tiếp tăng lên. Chính thực tiễn xã hội đòi hỏi mở rộng quy mô thông tin của từng cơ quan báo chí cũng như sự ra đời của những tờ báo, bản tin, tạp chí, chương trình phát thanh, truyền hình mới. Tuy nhiên, việc mở rộng quy mô này phải phù hợp với quy hoạch, chiến lược phát triển báo chí, tránh tình trạng chồng chéo, vay mượn nội dung bài vở...

Hiện nay, chúng ta đã có Chiến lược phát triển thông tin đến năm 2010. Tuy nhiên, hoạt động báo chí trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, trong quá trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và nhất là sự bùng nổ của thông tin toàn cầu... đang đặt ra những yêu cầu mới về quy hoạch báo chí; đòi hỏi chúng ta phải xây dựng chiến lược phát triển thông tin lâu dài cho đất nước. Chiến lược này phải là một bộ phận quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia. Chiến lược thông tin phải đánh giá được thực trạng thông tin ở nước ta, đưa ra được các quan điểm chỉ đạo phát triển thông tin và mục tiêu phát triển thông tin đến năm 2020 và những năm tiếp theo, các giải pháp chủ yếu để thực hiện mục tiêu đó.

2.2.2 Hoàn thiện hệ thống pháp luật về báo chí

Chất lượng, hiệu quả quản lý xã hội của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa phụ thuộc rất nhiều vào mức độ hoàn thiện của hệ thống pháp luật. Vì vậy, yêu cầu về một hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đồng bộ trong lĩnh vực báo chí là hết sức cần thiết.

Chúng ta cần thấu suốt quan điểm: điều chỉnh hoạt động báo chí thông qua định hướng của Đảng và hệ thống pháp luật của Nhà nước, vừa bảo đảm sự chặt chẽ trong quy định, chế tài, vừa bảo đảm sự thông thoáng cho nhà báo và các cơ quan báo chí phát huy tính năng động, sáng tạo.

Qua 19 năm thi hành Luật Báo chí, một số điều quy định của Luật như quy định về các loại hình báo chí, quảng cáo trên báo chí, lưu chiểu, cải chính trên báo chí, tài chính báo chí... đến nay đã không còn phù hợp. Vì vậy, pháp luật báo chí cần được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với thực tiễn. Việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật báo chí cần hướng vào các nội dung sau: Thứ nhất, cụ thể hoá, chi tiết hoá các điều khoản quy định. Thứ hai, xác định rõ trách nhiệm của các chủ thể tham gia hoạt động báo chí. Thứ ba, rà soát, bổ sung những vấn đề mới do thực tiễn và sự phát triển của báo chí đặt ra. Thứ tư, bảo đảm quyền tự do báo chí của công dân.

2.2.3 Hoàn thiện chế độ chính sách và đầu tư thích hợp đối với lĩnh vực báo chí

Chế độ, chính sách đối với lĩnh vực báo chí trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường là một vấn đề lớn cần được xem xét, giải quyết cả về lý luận và thực tiễn. Thời gian qua, chúng ta đã có những bước chuyển biến nhất định trong việc thực hiện chế độ chính sách mềm dẻo đối với báo chí. Tổng biên tập được tự chịu trách nhiệm xây dựng giá báo phù hợp với giá thị trường, sức tiêu thụ và yêu cầu phục vụ nhiệm vụ chính trị; các cơ quan báo chí chủ động trả nhuận bút phù hợp với yêu cầu nâng cao chất lượng, động viên tác giả trong khuôn khổ quỹ nhuận bút quy định; khuyến khích mọi năng lực phát hành báo chí, kể cả phát hành ra nước ngoài; cơ quan báo chí chủ động kêu gọi các hình thức quảng cáo và tài trợ báo theo luật định... Tuy nhiên, các chế độ, chính sách đối với báo chí vẫn còn lạc hậu, chưa theo kịp sự phát triển hoạt động báo chí. Do vậy, cần khẩn trương rà soát để bổ sung, sửa đổi một số chính sách, chế độ báo chí như: lương báo chí, thuế, nhuận bút, chính sách tài trợ, giá, quảng cáo. Nhà nước cũng cần có kế hoạch khảo sát, nghiên cứu các hình thức hoạt động kinh doanh của các cơ quan báo chí lớn để có chính sách khuyến khích các hình thức kinh doanh phù hợp, tạo nguồn thu, tăng cường cơ sở vật chất đồng thời thực hiện đúng nghĩa vụ với Nhà nước.

Hiện nay, Nhà nước vẫn đầu tư khá lớn cho báo chí với cơ cấu ngân sách gồm: ngân sách nhà nước cho phát thanh, truyền hình, báo in, báo điện tử. Trong đó, phần đầu tư cho phát thanh, truyền hình là lớn nhất do các phương tiện trang thiết bị ban đầu rất đắt tiền. Trong tương lai, phần đầu tư cho báo điện tử cũng đòi hỏi lượng ngân sách khá lớn. Thực tế, đa số các báo, đài đều hoạt động dựa vào ngân sách. Nhà nước vẫn nên cấp ngân sách nhưng cần tính toán rõ các tiêu chí: mức trợ cấp, đối tượng, thời gian, trợ cấp không hoàn lại hoặc cho vay ban đầu với lãi suất thấp... để báo chí hoạt động đúng pháp luật, đúng định hướng, có hiệu quả. Tăng cường đầu tư cho các báo địa phương vùng sâu, khó khăn; có chính sách để tăng cường xuất bản và phát sóng thêm các đài bằng thứ tiếng của các dân tộc thiểu số để chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đến được với đồng bào các dân tộc. Tựu chung lại, Nhà nước cần có chính sách tài chính quốc gia, huy động được các nguồn lực tài chính phục vụ cho hoạt động phát triển thông tin; có chính sách và đầu tư thích hợp đối với hoạt động báo chí, đầu tư đủ, đúng trọng điểm đối với những cơ quan báo chí xứng tầm, cần thiết.

Hoạt động báo chí là một nghề vất vả và nguy hiểm. Quyết định chất lượng nội dung của một tờ báo là tổng biên tập và các nhà báo, vì vậy, Nhà nước cũng phải tính đến chính sách, chế độ hợp lý đối với nhà báo. Chính sách ưu đãi phải bảo đảm các điều kiện và phương tiện để các nhà báo hiểu biết về chủ trương, chính sách, tiếp cận với thực tiễn; tạo điều kiện cho các nhà báo hoạt động hiệu quả, phát huy tư duy độc lập, sáng tạo trong quá trình viết báo; đề cao trách nhiệm chính trị - xã hội; có chế độ đãi ngộ đặc biệt đối với những nhà báo tài năng, có cống hiến xuất sắc cho đất nước.

2.2.4 Tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực quản lý nhà nước về báo chí

Mỗi quốc gia có điều kiện kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội khác nhau nên có sự khác nhau trong hoạt động và tổ chức thực hiện quản lý nhà nước về báo chí. Tuy nhiên, trong xu thế hội nhập toàn cầu, hoạt động báo chí cần phải đáp ứng yêu cầu thu hẹp sự khác biệt về công nghệ, trình độ nghiệp vụ.... với các nước trong khu vực và thế giới. Sự hợp tác quốc tế về quản lý báo chí phải bảo đảm vừa phát triển quan hệ, nhanh chóng hội nhập vừa bảo đảm chủ quyền, độc lập dân tộc, bình đẳng, các bên cùng có lợi. Trước hết, cần tổ chức thực hiện tốt các văn bản quốc tế quan trọng có liên quan như: Công ước toàn cầu về Luật bản quyền, Công ước Brussels về phân phối các tín hiệu mang chương trình truyền qua vệ tinh, Công ước Berne về bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật... Chủ động xây dựng các kế hoạch khảo sát kinh nghiệm quản lý báo chí ở một số nước trên thế giới; tham dự các hội nghị quốc tế liên quan đến báo chí như: Diễn đàn xã hội thông tin, Diễn đàn Liên hiệp quốc về quản lý Internet, các hội nghị Bộ trưởng Thông tin các nước ASEAN; tham gia các hoạt động chống khủng bố, chống tệ nạn xã hội, xoá đói giảm nghèo, vì môi trường sống, vì hoà bình và trực tiếp tham gia vào các tổ chức báo chí khu vực và quốc tế vì các mục đích trên.

2.2.5 Nâng cao chất lượng và hiệu quả bộ máy quản lý

Thứ nhất, cần xây dựng các quy định cụ thể, rõ ràng nhằm điều chỉnh tốt hơn chức năng, nhiệm vụ, cơ chế phối hợp giữa Bộ Thông tin và truyền thông với các bộ, ngành có liên quan.

Thứ hai, ở địa phương, cần xây dựng các quy định mới và cụ thể hơn để tổ chức lại bộ máy quản lý nhà nước cũng như để nâng cao vai trò của các Sở Thông tin và truyền thông.

Thứ ba, triển khai áp dụng phương tiện kỹ thuật và công nghệ quản lý hiện đại vào hệ thống quản lý nhà nước về báo chí. Với một đội ngũ cán bộ, nhân viên thiếu, trình độ có hạn, đầu việc nhiều thì đẩy nhanh việc áp dụng công nghệ thông tin, phương pháp quản lý hiện đại vào hệ thống quản lý báo chí là việc làm cấp thiết. Điều đó vừa tinh giản được biên chế theo chủ trương chung của Đảng, Nhà nước, vừa quán xuyến công việc một cách có hiệu quả.

Ngoài ra, về cán bộ quản lý báo chí, pháp luật cần quy định hệ thống tiêu chuẩn chức danh, tiêu chuẩn nghiệp vụ phù hợp với thực tiễn, bảo đảm công tác chuyên môn của từng đối tượng. Cán bộ quản lý báo chí phải có tri thức báo chí, tri thức về khoa học công nghệ thông tin và quản lý, tri thức pháp luật. Cần có những quy định cụ thể về tuyển dụng cán bộ, sắp xếp và bố trí cán bộ. Có một tình trạng tuy không phổ biến nhưng cũng cần lưu ý là các cơ quan cấp ủy và tổ chức cấp tỉnh coi ngành nào cũng giống ngành nào, “đã là tỉnh ủy viên thì làm gì cũng được”. Do vậy, nhiều người làm trái nghề vẫn phải nhận vì “tổ chức phân công”. Cuối cùng, Nhà nước cần có chính sách đào tạo và đào tạo lại những người quản lý báo chí để theo kịp tốc độ phát triển chung của xã hội và không tụt hậu quá xa so với các nước trong khu vực và trên thế giới.

2.2.6 Hoàn thiện cơ chế quản lý

Hiện nay, việc tổ chức thực thi pháp luật báo chí của các cơ quan nhà nước vẫn còn chồng chéo, chưa có sự thống nhất. Vì vậy, cần bổ sung các quy định nhằm cải tiến phương thức, lề lối làm việc, cơ chế phối hợp thống nhất giữa các cơ quan quản lý nhà nước về báo chí. Cụ thể: xác định rõ các nguyên tắc làm việc và quy chế phối hợp trong sự vận hành của bộ máy quản lý nhà nước về báo chí; định rõ thẩm quyền và trách nhiệm giữa cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan chỉ đạo, cơ quan chủ quản, người đứng đầu cơ quan báo chí. Trước mắt là quy chế làm việc rõ ràng, cụ thể giữa Bộ Thông tin và truyền thông với các ban ngành hữu quan liên quan đến quản lý nhà nước về báo chí, giữa cơ quan quản lý nhà nước ở trung ương và địa phương, cơ quan quản lý và cơ quan chủ quản. Cơ chế này phải bảo đảm sự điều hành thống nhất, có khả năng giải quyết nhanh và dứt điểm các vụ việc, đồng thời kiểm soát được liên tục hoạt động báo chí, tránh hiện tượng đánh trống bỏ dùi, dễ làm khó bỏ, đùn đẩy công việc cho nhau, trách nhiệm không rõ ràng.

2.2.7 Đẩy mạnh việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật báo chí

Việc tuyên truyền phổ biến pháp luật báo chí để các chủ thể tuân thủ, thực hiện là một vấn đề quan trọng. “Trong giới phóng viên, biên tập viên, thậm chí cả lãnh đạo một số cơ quan báo chí vẫn còn hiện tượng chưa nắm vững nội dung hoặc nhận thức chưa đầy đủ về Luật Báo chí” (9). Vì vậy, Bộ Thông tin và truyền thông, Hội Nhà báo và đặc biệt là các cơ quan báo chí cần có kế hoạch tập huấn thường xuyên Luật Báo chí và các văn bản quy phạm pháp luật mới về báo chí; cần tuyên truyền, phổ biến pháp luật từ khi soạn thảo văn bản để lấy ý kiến rộng rãi các đối tượng liên quan.

2.2.8 Tăng cường thanh tra, kiểm tra

Đây là nhiệm vụ quan trọng của quản lý nhà nước về báo chí vì báo chí có quan hệ trực tiếp tới chính trị. Báo chí không những phản ánh dư luận mà còn tạo ra và hướng dẫn dư luận. Vì vậy, hoạt động này cần diễn ra thường xuyên, nhanh nhạy để kịp thời ngăn chặn, xử lý những vi phạm pháp luật về báo chí.

(1) Bộ Thông tin và truyền thông, Báo cáo tổng kết 8 năm thi hành Luật báo chí; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Báo chí, Hà Nội, tháng 12/2007, tr. 11.

(2) Đỗ Quý Doãn, Hoạt động báo chí, xuất bản và công tác quản lý nhà nước về báo chí, xuất bản hiện nay trên http://www.tapchicongsan.org.vn/details.asp?Object=18535628&News_id=10642346.

(3) Đỗ Quý Doãn, Hoạt động báo chí, xuất bản và công tác quản lý nhà nước về báo chí, xuất bản hiện nay trên http://www.tapchicongsan.org.vn/details.asp?Object=18535628&News_id=10642346.

(4) Bộ Thông tin và truyền thông, Báo cáo tổng kết 8 năm thi hành Luật báo chí; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Báo chí, Hà Nội, tháng 12/2007, tr. 15-16.

(5) Bộ Thông tin và truyền thông, Báo cáo tổng kết 8 năm thi hành Luật báo chí; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Báo chí, Hà Nội, tháng 12/2007, tr. 14.

(6) Bộ Thông tin và truyền thông, Báo cáo tổng kết 8 năm thi hành Luật báo chí; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Báo chí, Hà Nội, tháng 12/2007, tr. 15-16.

(7) Bộ Thông tin và truyền thông, Báo cáo tổng kết 8 năm thi hành Luật Báo chí, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Báo chí, Hà Nội, tháng 12/2007, tr. 16-18.

(8) Bộ Thông tin và truyền thông, Báo cáo tổng kết 8 năm thi hành Luật Báo chí, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Báo chí, Hà Nội, tháng 12/2007, tr. 18-20.

(9) Bộ Thông tin và truyền thông, Báo cáo tổng kết 8 năm thi hành Luật Báo chí, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Báo chí, Hà Nội, tháng 12/2007, tr. 4.

Ths Phí Thị Thanh Tâm
Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp điện tử
Các tin tiếp
Các tin trước
TIÊU ĐIỂM
Xem nhiều nhất