Tài phán hành chính, vấn đề bảo đảm công lý hành chính ở các nước trên thế giới
1:6' 31/7/2009


Tiếp cận khái niệm Công lý hành chính (justice administrative):

 

  • Bảo đảm người dân thực hiện được các quyền cơ bản của mình đã được Hiến pháp và pháp luật ghi nhận: Nhà nước ghi nhận và tổ chức thực hiện
  • Bảo đảm mối quan hệ giữa nhà nước và công dân được bình đẳng, Nhà nước phải phục vụ lợi ích của dân và bản thân Nhà nước phải đặt dưới khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật, ý chí nguyện vọng của người dân.
  • Tạo ra các thiết chế giám sát việc thực hiện quyền lực của cơ quan hành chính nhà nước. Giải quyết các tranh chấp nảy sinh trong hoạt động công quyền.

A/ QUAN ĐIỂM VÀ PHƯƠNG THỨC TỔ CHỨC TÀI PHÁN HÀNH CHÍNH TRÊN THẾ GIỚI

Xuất phát từ những quan niệm khác nhau về hoạt động tài phán hành chính và do những yếu tố mang tính chất lịch sử, truyền thống pháp lý, điều kiện chính trị - xã hội và tập quán mà các nước tìm ra những giải pháp riêng cho mình về vấn đề này. Từ đó, tổ chức cũng như phạm vi thẩm quyền của cơ quan tài phán hành chính các nước trên thế giới hết sức đa dạng .

Để có thể tiếp cận với vấn đề này, chúng ta lần lượt khảo sát sự hình thành và phát triển của các hệ thống khác nhau trên thế giới  ở một số nước điển hình.

I. TÀI PHÁN HÀNH CHÍNH Ở CỘNG HOÀ PHÁP.

 Về tổ chức Toà án hành chính Pháp có ba cấp:

. Hội đồng Nhà nước.

. Toà án hành chính phúc thẩm.

. Toà án hành chính sơ thẩm liên tỉnh (Pháp có 96 tỉnh và có khoảng gần 40 Toà án hành chính)

Ngoài hệ thống TAHC chung, ở Pháp còn có một số các cơ quan tài phán hành chính chuyên trách chịu sự giám đốc của Hội đồng Nhà nước.

  • Thẩm kế viện
  • Toà án kỷ luật tài chính và ngân sách.
  • Các cơ quan tài phán hành chính có tính chất nghề nghiệp: Hội đồng cao cấp các thẩm phán, Hội đồng cao cấp về giáo dục quốc gia, Hội đồng quốc gia các thầy thuốc.

Về nhân sự: Thẩm phán Toà án hành chính chủ yếu được tuyển chọn trong số các học sinh trường Hành chính quốc gia (ENA) là trường chuyên đào tạo công chức cao cấp cho bộ máy hành chính. Ngoài ra một số được tuyển chọn từ công chức các cơ quan hành chính Nhà nước đã qua một số năm công tác và có bằng đại học.

II. TÀI PHÁN HÀNH CHÍNH Ở CỘNG HOÀ LIÊN BANG ĐỨC.

1. Về tổ chức

Cộng hoà liên bang Đức có hệ thống  cơ quan tài phán hành chính hoàn toàn biệt lập với các toà án tư pháp.

Tổ chức các toà án hành chính

 a) Hệ thống Tòa án hành chính thường: trong mỗi khu vực hành chính của bang có một toà án hành chính cấp sơ thẩm cộng với 14 Toà án hành chính được thiết lập tại các bang thuộc Đông Đức cũ kể từ Luật thống nhất nước Đức ngày 31 tháng 8 năm 1990. Mỗi bang ít nhất có một Toà án hành chính phúc thẩm, cộng với năm TAHC phúc thẩm được lập tại các bang của Đông Đức cũ. Hiện nay có tổng cộng 48 Toà án hành chính sơ thẩm và 16 TAHC phúc thẩm.

Ở cấp cao nhất có một Toà giám đốc thẩm của bang có thẩm quyền kiểm tra tính hợp thức của các bản án phúc thẩm và một cố bản án của Toà sơ thẩm

Cuối cùng là Toà án hành chính liên bang, giải quyết sơ thẩm dồng thời chung thẩm các tranh chấp về luật công giữa liên bang và bang và giữa các bang với nhau.

Về nhân sự: Để trở thành thẩm phán phải tốt nghiệp kỳ thi quốc gia chuyên ngành luật Đại học Tổng Hợp. Sau đó là thời gian thực tập kéo dài 2 năm. kết thúc thực tập phải qua một kỳ thi quốc gia thứ hai để được bổ nhiệm làm thẩm phán tập sự. Sau 3 đến 5 năm làm thẩm phán tập sự thì có thể được bổ nhiệm thẩm phán suốt đời.

Cùng với mô hình tài phán hành chính như Cộng hoà liên bang Đức là các nước Thuỵ Điển, Phần Lan, Áo, Bồ Đào Nha, Mêhico…

III. Các nước theo hệ thống luật Aglo-Saxon và mô hình Hoa Kỳ

Nhìn chung ở các nước theo hệ thống này, các tranh chấp hành chính  trước hết được giải quyết nội bộ trong cơ quan hành chính theo hệ thống thứ bậc. Nếu công dân không thoả mãn với trả lời của cơ quan hành chính thì khi đó họ mới kiện ra Toà án. Thủ tục tố tụng dân sự được áp dụng trong việc giải quyết các vụ án hành chính. Thông thường chỉ có các Toà án cao cấp (phúc thẩm) mới có quyền thụ lý và xét xử các vụ kiện hành chính. Tuy nhiên trong khoảng 20 năm trở lại đây, do nhu cầu giải quyết các tranh chấp hành chính và tính chất phức tạp của vụ kiện hành chính, ở một số nước theo hệ thống Anh cũng bắt đầu nghĩ đến việc cần phải có cơ quan tài phán hành chính chuyên trách trong một số lĩnh vực quan trọng (thuế, nhà cửa, đất đai, bảo hiểm, ytế, phúc lợi xã hội). Chẳng hạn như ở Úc, Toà án tư pháp cấp phúc thẩm tổ chức Toà chuyên trách về hành chính, xét sử vụ kiện sau khi đã được giải quyết ở cơ quan hành chính. Nếu đương sự không đồng ý thì có quyền kháng cáo và Toà án tối cao tư pháp sẽ giám đốc lại việc xét sử đó.

Thực hiện theo mô hình này gồm có các nước Ailen, Aixơlen, Na uy, Đan Mạch, Canada, Síp, Nigiêria, Irac, Ixraen, một số nước Đông Nam Á… ảnh hưởng.

IV. Quan niệm của các nước xã hội chủ nghĩa nói chung về tài phán hành chính và mô hình Trung Quốc

Ở các nước xã hội chủ nghĩa trước đây  có một quan niệm phổ biến là dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, cho nên về cơ bản quyền lợi của Nhà nước và người dân là hoàn toàn nhất trí, không có sự mâu thuẫn. Từ đó không có tranh chấp nảy sinh giữa công dân và cơ quan nhà nước. Tuy nhiên dần dần các nước này cung nhận thấy sự cần thiết phải có cơ chế giải quyết mới và đã từng bước chấp nhận sự hiện hữu của cơ quan tài phán hành chính, điển hình là Trung Quốc

Từ năm 1982, Toà án nhân dân Trung Quốc có quyền xét xử các tranh chấp hành chính mà pháp luật quy định, có thể kiện ra toà án và được giải quyết theo quy định của luật tố tụng dân sự. Năm 1990, Trung Quốc ban hành và áp dụng Luật tố tụng hành chính, đây là bước phát triển quan trọng của nền tài phán hành chính Trung Quốc.

Đến năm 1990, Trung Quốc ban hành Luật Tố tụng hành chính  không lập ra một hệ thống Tòa án hành chính riêng mà ở trong TAND lập ra các Tòa chuyên trách về hành chính và áp dụng thủ tục quy định tại Luật Tố tụng hành chính. TA nước cộng hoà nhân dân Trung Hoa chia làm các cấp

Việc lập Toà chuyên trách trong Toà án thường được coi là giải pháp trung gian, hỗn hợp (mixte), giống như Trung quốc có Inđônêxia, Bênanh, Cônggô, Bờ biển Ngà, Madagaxca, Môritani, Nigiê, Xênêgan, Tôgô…

B. CÁC GIẢI PHÁP PHÁP LUẬT HÀNH CHÍNH ĐỂ BẢO ĐẢM CÔNG LÝ HÀNH CHÍNH

I. NGUYÊN TẮC CỦA VIỆC ĐƯA RA CĂN CỨ TRONG CÁC QUYẾT ĐỊNH HÀNH CHÍNH

Mục đích của việc đưa ra căn cứ quyết định hành chính nhằm buộc cơ quan hành chính phải đánh giá một cách thận trọng các yếu tố khác nhau cần thiết phải ra quyết định đó. Nó cũng cho phép thẩm phán hành chính kiểm tra tính hợp lý của căn cứ đưa ra quyết định.

Ngoài ra có trường hợp việc đưa ra căn cứ của quyết định là không cần thiết. (Ví dụ như khi quyết định hành chính phù hợp với mong muốn của những người liên quan, không làm thiệt hại đến chủ thể khác) hoặc tỏ ra không có lợi (ví dụ khi người ta phải dẫn ra những sự việc cần giữ bí mật).

Xu hướng của Nhà nước trong Cộng đồng châu Âu ban hành các luật ấn định các nguyên tắc về thủ tục hành chính với nguyên tắc về căn cứ trong hầu hết các quyết định hành chính.

II. SỰ THÔNG BÁO TRƯỚC KHI RA QUYẾT ĐỊNH HÀNH CHÍNH CHO NHỮNG NGƯỜI LIÊN QUAN

Nhiêu nước trong Cộng đồng châu Âu rất coi trọng việc thông báo trước cho những người có liên quan khi ra quyết định của mình.

Đối với người liên quan thì sự thông báo trước rõ ràng là có lợi cho họ. Nhưng điều đó cũng có thể làm chậm lại một cách đáng kể việc ra quyết định hành chính theo nhu cầu quản lý.

III.QUYỀN CỦA CÔNG DÂN TRONG VIỆC KHẢO CỨU CÁC TÀI LIỆU TẠI CƠ QUAN HÀNH CHÍNH

Quyền được thông tin của công dân về hoạt động của các cơ quan nhà nước là mối quan tâm lớn của nhiều nước. Nó sẽ tạo điều kiện để công dân “cân bằng hoá” được mối quan hệ với các cơ quan nhà nước cũng như có thêm phương tiện để thực hiện việc khiếu kiện của mình

Theo điều 9 Luật về hành chính năm 1987 của Đan Mạch, thì những người có liên quan  có thể yêu cầu được xem các tài liệu của cơ quan hành chính. Tuy nhiên, một số tài liệu liên quan đến an ninh quốc gia, đến mối quan hệ với các Nhà nước khác, đến quyền lợi của kinh tế nhà nước, điều tra tội phạm, bí mật về hoạt động nhằm chuẩn bị đưa ra kế hoạch hoặc thông tin bí mật về đời tư của các cá nhân hoặc xí nghiệp thì cơ quan hành chính có thể từ chối cung cấp. Nhưng, việc xem xét các dự thảo quyết định của cơ quan hành chính thì bị từ chối.

Ở Anh, ít khi các tài liệu được đưa ra cho các bên khảo cứu trước khi ra quyết định hành chính hoặc trước khi khởi kiện quyết định hành chính tại Toà án. Các thẩm phán có quyền ra lệnh cơ quan hành chính phải đưa ra tài liệu của mình. Điều đó dẫn đến việc cơ quan hành chính sẽ lựa chọn cách tốt hơn là đưa ra các tài liệu của mình để người có liên quan không tiến hành khởi kiện.

Luật của Đức quy định nguyên tắc mỗi văn bản cơ quan hành chính thu thập được phải cho người liên quan nghiên cứu trước khi ra quyết định hành chính.

Hiện nay trên thế giới có 68 nước (có 8 nước thuộc khu vực Châu Á Thái Bình Dương, không có Việt Nam) có Luật về tiếp cận thông tin

IV. GIẢI PHÁP GIÚP CÔNG DÂN VƯỢT QUA SỰ CHÂY Ỳ CỦA CƠ QUAN HÀNH CHÍNH

Trong một số lĩnh vực, quyền và lợi ích hợp pháp của một công dân hay một pháp nhân tư nào đó chỉ có thể thực hiện thông qua một quyết định hành chính của cơ quan quản lý.

Ở Pháp, pháp luật không ấn định thời hạn để ra một quyết định hành chính, người ta phải đưa ra khái niệm “thời hạn hợp lý” cho mỗi trưòng hợp cụ thể. Luật pháp Bỉ quy định thời hạn ra quyết định hành chính là 4 tháng; Hy Lạp là 3 tháng, ở Hà Lan theo luật hiện hành thì chỉ nêu ra “ thời hạn hợp lý” mà cơ quan hành chính phải đưa ra quyết định của mình nhưng hiện nay Nghị viện nước này đang thảo luận dự luận chung về hành chính trong đó đề nghị thời hạn chung là tám tuần.

Các nước Đan Mạch, Pháp, Bồ Đào Nha cho rằng việc không hành động của cơ quan hành chính có thể dẫn đến việc cơ quan này  phải chịu trách nhiệm vật chất nghĩa là có thể bị Toà án hành chính phạt một khoản tiền nhất định.

Ở Italia cũng vậy, pháp luật đưa ra nhiều trường hợp cụ thể mà việc không trả lời của cơ quan hành chính  có nghĩa rằng, nó đã chấp nhận yêu cầu của công dân. Tuy nhiên theo nguyên tắc chung, cơ quan hành chính có nghĩa vụ trả lời các đề nghị của công dân, trừ những yêu cầu rõ ràng là vô lý.

V. CÁC KHIẾU NẠI THEO THỂ THỨC HÀNH CHÍNH ĐỐI VỚI CÁC QUYẾT ĐỊNH HÀNH CHÍNH

Để phản đối một quyết định của cơ quan hành chính mà công dân cho là bất hợp pháp, công dân có thể kiện thẳng ra Toà án hành chính hoặc chỉ kiện một cơ quan hành chính có thẩm quyền cấp trên của cơ quan ra quyết định hành chính bị kiện hoặc kết hợp cả hai thể thức bằng cách: trước hết kiện đến cơ quan hành chính cấp trên, sau đó nếu không được  thoả mãn thì kiện đến Toà án.

Giai đoạn tiền tố tụng hành chính có thể diễn ra trong nội bộ ngành hành chính công - thường là cơ quan hành chính cấp trên có thẩm quyền phán xét quyết định bị kiện của cấp dưới là đúng hay sai - hoặc là một cơ quan khác ít nhiều độc lập với các cơ quan hành chính có thẩm quyền này.

Ở Đức, luật quy định giai đoạn tiền tố tụng hành chính là giai đoạn bắt buộc trước khi kiện ra Toà án hành chính, Trong mọi trường hợp nếu giải pháp đưa ra trong giai đoạn này không thoả đáng, công dân có quyền kiện ra Toà án hành chính. Ngược lại, cơ quan hành chính chỉ có thể bị kiện ra Toà án hành chính nếu họ cho là không đúng nếu cơ quan có thẩm quyền trong giai đoạn này là một uỷ ban độc lập với cơ quan hành chính.

Ở Tây Ban Nha cũng vậy, trước khi kiện ra Toà án hành chính, công dân phải khiếu nại hành chính. Quy định này tạo thuận lợi cho cơ quan hành chính biết được nội dung họ sẽ bị kiện ra Toà án và nó cũng tạo cho cơ quan hành chính có cơ hội tự sửa chữa sai lầm của mình. Đó cũng là một giải pháp tốt để giảm bớt được khối lượng đáng kể các vụ kiện đến Toà án hành chính.

VI. QUYỀN KHIẾU KIỆN ĐỐI VỚI VĂN BẢN PHÁP QUY.

Văn bản pháp quy được hiểu là những văn bản do cơ quan hành chính Nhà nước, thường là ở cấp trung ương ban hành có hiệu lực bắt buộc đối với công dân theo các nguyên tắc chung và trừu tượng các văn bản này thường có giá trị trong một thời gian không xác định.

Nhiều nước cho phép công dân có quyền khiếu kiện văn bản pháp qui nếu cho rằng văn bản đó trái với văn bản cấp trên hoặc trái Hiến pháp. Khi một công dân kiện một văn bản pháp quy nếu Toà án xác định văn bản đó sai luật và huỷ bỏ nó thì đương nhiên văn bản đó cũng mất hiệu lực đối với các công dân khác dù rằng họ không khởi kiện.

Việc huỷ bỏ văn bản pháp quy cũng phải được công bố với hình thức như khi ban hành nó.

Luật Tây Ban Nha cũng vậy, theo Điều 106.1 Hiến pháp và quy định của luật ngày 27-12-1956 về tài phán hành chính: tất cả các hoạt động hành chính đều có thể là đối tượng kiểm tra của cơ quan tài phán hành chính với thời hạn chung là hai tháng. Ngoài ra, văn bản pháp quy có thể không được áp dụng theo yêu cầu của người khiếu nại hoặc nếu Toà án thấy việc đình chỉ áp dụng văn bản này là cần thiết, trong quá trình giải quyết một vụ kiện chống lại một quyết định áp dụng văn bản pháp quy đó. Ngay cả khi đã hết thời hạn có thể kiện ra trước Toà, công dân vẫn có thể yêu cầu Toà án hành chính tuyên bố một văn bản pháp quy nào đó là bất hợp pháp vì vi phạm pháp luật.

Vấn đề này ở Pháp cũng không khác mấy. Một khiếu nại trực tiếp chống lại văn bản pháp quy sẽ được chấp nhận trong thời hạn hai tháng kể từ ngày văn bản đó được công bố. Ở Bồ Đào Nha một văn bản pháp quy có thể bị Toà án huỷ bỏ vì bất hợp pháp nếu có một trong hại điều kiện sau đây:

- Đó là một văn bản có thể áp dụng ngay mà không cần có các quyết định áp dụng tiếp theo.

- Hoặc các quy định của văn bản pháp quy này trước đó đã bị ba lần Toà án tuyên bố không áp dụng vì bất hợp pháp.

C. MỘT SỐ NGUYÊN TẮC TỐ TỤNG HÀNH CHÍNH NHẰM BẢO ĐẢM TÍNH CÔNG BẰNG VÀ HIỆU QUẢ XÉT XỬ HÀNH CHÍNH

I. TẠM ĐÌNH CHỈ QUYẾT ĐỊNH HÀNH CHÍNH KHI BỊ KHỞI KIỆN

Đây là một vấn đề quan trọng và khá phức tạp . Bởi vì sự hoạt động của Toà án hành chính, một mặt bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân nhưng mặt khác nó không được làm ảnh hưởng đến hoạt động của cơ quan quản lý công với nghĩa vụ phải bảo đảm lợi ích của cả cộng đồng. Có hai giải pháp chính được đưa ra:

Pháp luật của Trung Quốc quy định việc khởi kiện hành chính không có hiệu lực đình chỉ hay tạm đình chỉ thi hành quyết định hành chính bị kiện. Tuy nhiên các văn bản cũng quy định các trường hợp ngoại lệ: nếu người kiện có yêu cầu thì Toà án có thể quyết định tạm hoãn thi hành quyết định bị kiện nếu thấy rằng việc thực hiện quyết định đó có thể gây những thiệt hại không thể khôi phục được và việc tạm hoãn đó không gây phương hại đến lợi ích chung của xã hội.

Luật Tố tụng hành chính của Cộng hoà liên bang Đức quy định về nguyên tắc: việc khởi kiện hành chính có hiệu lực làm tạm đình chỉ thi hành quyết định hành chính bị kiện. Nhưng trong một số trường hợp, cơ quan hành chính có thể ra lệnh thi hành ngay lập tức, đó là các trường hợp các yêu cầu về đóng góp và chi phí công, các lệnh không thể trì hoãn và các biện pháp do cảnh sát áp dụng, để đảm bảo phục vụ lợi ích công.

II.QUYỀN HẠN CỦA TOÀ ÁN HÀNH CHÍNH TRONG XÉT XỬ

Quyền hạn của Toà án hành chính ở các nước có quy định khác nhau tuy nhiên đều cố gắng không vi phạm các nguyên tắc về sự phân chia (hay phân công) quyền lực, tài phán  hành chính không lấn sang hoạt động quản lý.

Các nước đều quy định quyền hạn chung nhất của Toà án là:

- Huỷ bỏ một phần hay toàn bộ quyết định bị kiện nếu thấy trái pháp luật.

- Yêu cầu cơ quan hành chính trong một thời hạn nhất định phải thực hiện một nghĩa vụ pháp luật đã được giao nhưng đã chậm  trễ hoặc không thực hiện.

Toà án không có quyền ra một quyết định hành chính thay thế cho cơ quan quản lý mà chỉ có quyền phán quyết và yêu cầu cơ quan này ra quyết định phù hợp với luật. Tuy nhiên ở đây cũng có một số ngoại lệ:

Luât tố tụng hành chính của Trung Quốc quy định: Toà án có quyền sửa đổi việc phạt nếu “rõ ràng” thiếu công bằng, việc sửa đổi ở đây có nghĩa rằng, nói một cách khác bản án của Toà án sẽ thay thế quyết định hành chính.

Theo pháp luật của Đức thì quyền  hạn của Toà án hành chính Đức rộng hơn, ngoài việc huỷ bỏ quyết định hành chính bất hợp pháp; trong một số trường hợp, Toà án có thể sửa đổi quyết định bị kiện (chẳng hạn như xác định một mức trợ cấp hay xác nhận một mối quan hệ pháp lý). Mặt khác, Toà án có quyền ra lệnh cho cơ quan hành chính phải ra một quyết định hoặc thực hiện một hành vi hành chính nào đó nếu cơ quan hành chính đã có đủ tất cả các điều kiện cần thiết để ra quyết định hoặc thực hiện hành vi đó.

III. MỘT SỐ NGUYÊN TẮC NHẰM BẢO ĐẢM TÍNH CÔNG BẰNG TRONG TỐ TỤNG HANH CHÍNH.

Đặc điểm của tố tụng hành chính là, bên bị kiện luôn là cơ quan quản lý Nhà nước và điều đó dẫn đến việc Toà án có thể sẽ gặp khó khăn khi yêu cầu bên bị kiện trả lời những vấn đề đặt ra nhằm làm sáng tỏ vụ kiện. Ở Pháp, người ta đưa ra một nguyên tắc sau: nếu cơ quan Nhà nước đã được Toà án thông báo việc mình bị kiện và yêu cầu trả lời mà quá thời hạn cơ quan Nhà nước vẫn im lặng thì Toà án sẽ coi những lời trình bày của công dân là đúng. Luật tố tụng hành chính của  Trung Quốc quy định nghĩa vụ chứng minh thuộc về cơ quan hành chính, Khác với vụ kiện dân sự, việc thu thập chứng cứ thuộc về nguyên đơn; trong tố tụng hành chính, cơ quan hành chính có nghĩa vụ chứng minh tính đúng đắn của hành vi bị kiện của mình.

Quy định này đã lưu ý cơ quan hành chính khi thực hiện chức trách của mình tránh việc ra các văn bản tuỳ tiện không thuộc thẩm quyền của mình.

Các tranh chấp hành chính chủ yếu là việc xác định tính hợp pháp của các quyết định hành chính bị kiện vì vậy, một số nước đề ra nguyên tắc tố tụng viết (Pháp, Thuỵ Điển), nghĩa là mọi sự tranh luận giải trình giữa các bên đểu thể hiện bằng văn bản. Như vậy giai đoạn thẩm cứu được đặc biệt coi trọng.

Cùng với nguyên tắc tố tụng viết là nguyên tắc tố tụng tranh luận(contracdictoire) có nghĩa là Toà án tạo điều kiện cho các bên biết được các chứng cứ và lập luận của bên kia để họ có thể đưa ra chứng cứ và lời đối đáp của mình. Như vậy, Toà án đưa ra phán quyết căn cứ vào chứng cứ các bên đều biết. Trước toà, họ không có quyền đưa ra chứng cứ mới trừ những trường hợp rất hãn hữu. Luật của Đức lại ngược lại, Toà án bảo đảm cho các bên có quyền đưa ra lập luận của mình tại phiên xét xử.

D. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ VỀ CÁC GIẢI PHÁP GÓP PHẦN BẢO ĐẢM CÔNG LÝ HÀNH CHÍNH VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ XÉT XỬ HÀNH CHÍNH Ở VIỆT NAM

Trên cơ sở tham khảo mô hình và kinh nghiệm của các nước về việc bảo đảm công lý hành chính và tài phán hành chính, căn cứ vào tình hình cụ thể của Việt Nam, xin được kiến nghị một số giải pháp cụ thể như sau:

1. Thiết lập hệ thống cơ quan tài phán hành chính thuộc hệ thống hành pháp nhưng độc lập với các cơ quan quản lý để giải quyết các tranh chấp hành chính. cùng với đó là xây dựng một trình tự giải quyết tại cơ quan tài phán hành chính một cách gọn ghẽ theo những nguyên tắc bảo đảm sự bình đẳng khách quan, minh bạch và công bằng, coi trọng tranh tụng và vai trò của luật sư

2. Ban hành luật tiếp cận thông tin của công dân và có cơ chế hữu hiệu để bảo đảm thực hiện trên thực tế

3. Xây dựng cơ chế kiểm tra có hiệu quả tính hợp pháp của các văn bản pháp luật. Nghiên cứu xây dựng cơ chế bảo hiến.

4. Tổ chức lại Toà hành chính trong các Toà án nhân dân để thực hiện tốt vai trò giám đốc lại các quyết định của cơ quan tài phán hành chính trong trường hợp không có sự đồng thuận giữa cơ quan hành chính và người khiếu nại:

      - Mở rộng thẩm quyền xét xử hành chính đối với mọi khiếu kiện hành chính; cho phép công dân có thể khởi kiện cả các văn bản pháp qui

       -  Nâng cao trình độ của thẩm phán xét xử hành chính, có thể tuyển chọn những người đã kinh qua công tác quản lý sau đó bồi dưỡng kiến thức pháp luật để tham gia xét xử.

       - Sửa đổi bổ sung các quy định về tố tụng hành chính, bảo đảm tính đặc thù của xét xử hành chính khi bên bị kiện luôn là cơ quan công quyền.

      - Qui định về những biện pháp bảo đảm thi hành bản án quyết định của Toà án về các tranh chấp hành chính, trong đó qui định trách nhiệm người đứng đầu cơ quan có nghĩa vụ thi hành, kể các việc phải chịu những hình thức kỷ luật

        - Xây dựng luật bồi thường Nhà nước, trong đó qui định về việc bồi thường những thiệt hại do hoạt động hành chính gây ra.

TS. Đinh Văn Minh - Phó Viện trưởng, Viện Khoa học Thanh tra - Thanh tra Chính phủ.
Nguồn: Viện Nghiên cứu Chính sách, Pháp luật và Phát triển

Các tin tiếp
Các tin trước
TIÊU ĐIỂM
Xem nhiều nhất