Quy trình giải quyết khiếu nại hành chính với việc bảo đảm công lý hành chính
1:26' 31/7/2009
Chuyên đề này chỉ tiếp cận vấn đề bảo đảm công lý hành chính trong phạm vi quy trình giải quyết khiếu nại hành chính của hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước, không xem xét và nghiên cứu việc giải quyết các khiếu kiện hành chính khi chủ thể khiếu nại yêu cầu giải quyết vấn đề của mình tại hệ thống toà án.

I. Nội dung nghiên cứu

Điều 1 Khoản 1 Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998 (sau đây gọi là Luật năm 1998) quy định, công dân, cơ quan, tổ chức có quyền khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước khi có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình; cán bộ, công chức có quyền khiếu nại quyết định kỷ luật của người có thẩm quyền khi có căn cứ cho rằng quyết định đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình.

1. Về quyền của người khiếu nại và người bị khiếu nại

1.1. Quy định pháp luật

Quy định pháp luật về quyền và nghĩa vụ của các bên trong quy trình giải quyết khiếu nại hành chính có bình đẳng hay không ?

Quyền của bên khiếu nại: Quyền của công dân được khiếu nại đối với những việc làm trái pháp luật của cơ quan Nhà nước (bao gồm cả việc làm trái pháp luật của cán bộ, công chức thuộc cơ quan Nhà nước) là một trong những quyền cơ bản của công dân đã được ghi nhận trong Hiến pháp 1992  (Điều 74). Điều 1 Khoản 1 Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998 đã cụ thể hoá quyền khiếu nại này và mở rộng ra đối với cả đối tượng là "cơ quan, tổ chức".

Quyền của bên bị khiếu nại: Quyền của bên khiếu nại được quy định tại Điều 18 Khoản 1 Luật 1998 (được sửa đổi, bổ sung năm 2005)

Nghĩa vụ của bên khiếu nại: Bên cạnh các quyền, người khiếu nại cũng có các nghĩa vụ được quy định tại Điều 17 Khoản 2 Luật 1998.

Nghĩa vụ của bên bị khiếu nại: Người bị khiếu nại, theo quy định tại Điều 18 Khoản 2 Luật 1998.

Luật 2005 đã bổ sung quy định, trong một số trường hợp nhất định, khi người khiếu nại là người chưa thành niên, người bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình thì người đại diện theo pháp luật của họ được quyền thay mặt họ thực hiện việc khiếu nại. Luật 2005 cũng quy định, trường hợp người khiếu nại ốm đau, già yếu, có nhược điểm về thể chất hoặc vì lý do khách quan khác mà không thể tự mình khiếu nại thì được uỷ quyền cho cha, mẹ, vợ, chồng, anh, chị, em ruột, con đã thành niên hoặc người khác để khiếu nại.

Liên quan đến quyền của người khiếu nại, một điều cần lưu ý là Luật sửa đổi năm 2005 đã cho phép người khiếu nại, trong trường hợp không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại (hoặc quá thời hạn luật định mà khiếu nại vẫn chưa được giải quyết), thì có quyền tiếp tục khiếu nại lên cơ quan hành chính cấp trên trực tiếp hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án.

Thực tiễn áp dụng quy định pháp luật

Thực tiễn khảo sát tại một số địa phương cho thấy, quyền của người khiếu nại được quy định tại Điều 17 Khoản 1 điểm d, theo đó, người khiếu nại có quyền được "nhận văn bản trả lời về việc thụ lý để giải quyết khiếu nại; biết thông tin, tài liệu của việc giải quyết khiếu nại; nhận quyết định giải quyết khiếu nại" đã không được thực thi trong thực tế. Điều này đã khiến cho quyền khiếu nại của chủ thể khiếu nại hị ảnh hưởng nghiêm trọng, bởi vì, Điều  40 Luật 2005 quy định, trong trường hợp khiếu nại tiếp thì người khiếu nại phải gửi đơn kèm theo bản sao quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu và các tài liệu liên quan (nếu có) cho người giải quyết khiếu nại lần hai. Thực tiễn cho thấy, vì nhiều nguyên nhân khác nhau, cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu thường né tránh việc giải quyết khiếu nại hoặc ra văn bản giải quyết khiếu nại. Tình trạng chuyển đơn lòng vòng vi phạm thời hạn giải quyết còn rất nhiều.  

Điều 37 Luật 2005 quy định, trong quá trình giải quyết khiếu nại lần đầu, người giải quyết khiếu nại phải "gặp gỡ, đối thoại trực tiếp" với người khiếu nại, người bị khiếu nại để làm rõ nội dung khiếu nại, yêu cầu của người khiếu nại và hướng giải quyết khiếu nại. Thực tiễn khảo sát cho thấy, một số địa phương   chưa làm tốt quy định này.

Nguyên nhân

Luật Khiếu nại, tố cáo quy định người giải quyết khiếu nại lấn đầu chính là người ra quyết định hành chính hoặc có hành vi hành chính dẫn đến tình trạng vừa đá bóng vừa thổi còi, không khách quan trong giải quyết khiếu nại ,không bảo vệ được quyền khiếu nại của người dân nữa.

Ngoài ra, quy trình giải quyết khiếu nại hành chính của pháp luật hiện nay vẫn có những điểm chưa hợp lý. Việc quy định có quyết định giải quyết khiếu nịa lần đầu rồi mới được khiếu kiện ra tòa hoặc được khiếu nại lần hai đã hạn chế quyền khiếu kiện của công dân.

1.2. Đề xuất giải pháp

Chúng tôi cho rằng, quy trình giải quyết khiếu nại hành chính cần được giải quyết bằng con đường toà án để bảo đảm được tính khách quan, vô tư hơn, và trên cơ sở đó bảo đảm quyền tiếp cận công bằng của công dân hơn.

Bên cạnh đó, quy định phải qua giải quyết lần đầu mới đuợc quyền khiếu nại tiếp lên cấp trên hoặc khiếu kiện ra Toà sẽ hạn chế quyền khiếu nại của người dân.

Ngoài ra, cũng cần sửa đổi quy định pháp luật theo hướng nếu quá thời hạn giải quyết khiếu nại lần đầu mà người khiếu nại không được giải quyết (bao hàm cả việc cơ quan chức năng không có hồi âm cho người khiếu nại) thì việc "không hành động" này cũng được xem như đã có quyết định giải quyết lần đầu, để người khiếu nại có cơ sở tiến hành các bước khiếu nại tiếp theo. Liên thông với cơ chế này, cần bãi bỏ quy định tại Điều 40 Luật 2005 về việc khi khiếu nại lần hai, thì người khiếu nại phải có bản sao quyết định giaỉ quyết khiếu nại lần đầu.

2. Về thời hạn, thời hiệu khiếu nại

Điều 34 Luật Khiếu nại, tố cáo 1998 quy định, trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được đơn khiếu nại thuộc thẩm quyền giải quyết của mình và không thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 32 của Luật này, người giải quyết khiếu nại lần đầu phải thụ lý để giải quyết và thông báo bằng văn bản cho người khiếu nại biết; trường hợp không thụ lý để giải quyết thì phải nêu rõ lý do.

Điều 36 Khoản 1 Luật 2005 cũng quy định, thời hạn giải quyết khiếu nại lần đầu không quá 30 ngày, kể từ ngày thụ lý để giải quyết; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết khiếu nại có thể kéo dài hơn, nhưng không quá 45 ngày, kể từ ngày thụ lý để giải quyết. Ở vùng sâu, vùng xa đi lại khó khăn thì thời hạn giải quyết khiếu nại lần đầu không quá 45 ngày, kể từ ngày thụ lý để giải quyết; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết khiếu nại có thể kéo dài hơn, nhưng không quá 60 ngày, kể từ ngày thụ lý để giải quyết.

Luật 2005 cũng quy định rằng, trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày hết thời hạn giải quyết như đã nêu trên mà khiếu nại không được giải quyết hoặc kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu mà người khiếu nại không đồng ý thì có quyền khiếu nại đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần hai hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Toà án; đối với vùng sâu, vùng xa đi lại khó khăn thì thời hạn nói trên có thể kéo dài hơn nhưng không quá 45 ngày (Điều 39).

2.1. Thực tiễn áp dụng quy định pháp luật:

Thực tiễn khảo sát tại một số địa phương cho thấy, trong đa số trường hợp, việc giải quyết khiếu nại tố cáo nói chung và khiếu nại hành chính nói riêng vi phạm quy định về thời hạn. Tình trạng đơn chuyển lòng vòng diễn ra rất nhiều, vi phạm thời hạn giải quyết khiếu nại;

Tình trạng đùn đẩy diễn ra khá phổ biến

2.2. Nguyên nhân

Thứ nhất, do quy trình giải quyết khiếu nại hành chính được quy định rất nhiều bước (khiếu nại lần đầu, khiếu nại lần hai, khiếu kiện ra toà sơ thẩm, kháng cáo ra toà phúc thẩm v.v...) nên trên thực tế, nếu một vụ khiếu nại qua tất cả các bước để đi đến được quyết định cuối cùng sẽ là rất dài.

Thứ hai, nguyên nhân của việc vi phạm về thời hạn khiếu nại không nằm trong chính bản thân quy định pháp luật về khiếu nại, tố cáo mà lại nằm ở các quy định liên quan đến nội dung khiếu nại, ví dụ, các quy định về giá đất đền bù, việc giải toả mặt bằng, thuế.

Đề xuất giải pháp

Thời hiệu khởi kiện 90 ngày trong một số trường hợp có thể chưa hợp lý vì quá ngắn. Chúng tôi cho rằng có thể nới rộng thời hiệu khởi kiện ra hơn để đảm bảo quyền lợi cho người khiếu nại.

Đối với quy định về thời hạn, thời hạn giải quyết khiếu nại hành chính bình thường theo Luật Khiếu nại, tố cáo là 30 ngàyVì vậy, khi quy định về thời hạn giải quyết khiếu nại hành chính không nên chỉ có quy định chung một loại thời hạn cho tất cả các loại việc, mà nên phân loại, một số vụ việc thì thời hạn giải quyết phải nhanh chóng, đảm bảo quyền lợi cho người khiếu nại;

Ngoài ra, về việc áp dụng pháp luật, cần tiến hành một số giải pháp sau đây: Thứ nhất, các địa phương khi triển khai các dự án phải công khai quy hoạch, kế hoạch, công khai chính sách đền bù, phải bàn bạc thấu đáo với dân trước khi tổ chức thực hiện. Thứ hai, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố phải là chủ thể chịu trách nhiệm trực tiếp chỉ đạo, thực hiện việc tổ chức tiếp dân, giải quyết khiếu nại tại cơ sở. Thứ ba, các cơ quan trung ương phải phối hợp chặt chẽ trong công tác tiếp dân, chấm dứt việc trả lời khác nhau làm cho địa phương không có hướng giải quyết. Thứ tư, các cán bộ làm công tác tiếp dân khi nhận đơn khiếu nại phải chuyển ngay cho cơ quan có thẩm quyền giải quyết.

2.3. Quy định pháp luật

Hiện nay chưa có quy định pháp luật điều chỉnh vấn đề này.

2.4. Tình hình thực tiễn

Thực tiễn thời gian qua đã xuất hiện tình trạng khiếu nại, tố cáo đông người diễn ra trên diện rộng ở nhiều tỉnh, thành phố trong cả nước, điển hình là ở các tỉnh, thành phố, gây phức tạp về an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự người thi hành công vụ, gây thiệt hại đến lợi ích của nhà nước, của tập thể và lợi ích hợp pháp của công dân, làm giảm uy tín của Đảng và Nhà nước.

Nguyên nhân

.Chính sách đền bù giải toả chưa thống nhất và hợp lý

.Trách nhiệm của cơ quan chức năng chưa rõ ràng, trình độ chưa tương xứng .

.Việc thực thi nhiệm vụ chưa tốt của một bộ phận cán bộ, công chức.

Ngoài ra, việc tiếp công dân chưa được tổ chức tốt, còn coi nhẹ công tác này; xem thường công tác đối thoại trực tiếp với dân.

Một nguyên nhân không kém phần quan trọng, là chính sách của chúng ta có vấn đề chưa ổn. 80% đơn thư khiếu kiện có nội dung về vấn đề ruộng đất. Điều đó cho thấy các chính sách về đất đai xem ra chưa hợp lý.

Một nguyên nhân khác đến từ khía cạnh chủ quan, đó là lòng tin của người dân đối với cơ quan giỉa quyết khiếu nại tại địa phương đã phần nào bị xói mòn. Thực tế dân tin trung ương hơn địa phương, đây là một biểu hiện tâm lý của dân mà chúng ta không thể không xem nhẹ

Đề xuất giải pháp

Phải xây dựng đội ngũ cán bộ chuẩn và có chế độ chính sách cụ thể đối với cán bộ;

Phải quy định trách nhiệm của cấp lãnh đạo rõ ràng, minh bạch

Vấn đề giải quyết khiếu nại tố cáo phải kịp thời hơn nữa;

Giá cả đền bù phải thống nhất giữa Nhà nước và tư nhân đối với các dự án. Chính phủ cần có quy định và xác định giá đất đền bù cho hợp lý hơn; cần tổng kết và rà soát lại chính sách đền bù tái định cư để quy định cho phù hợp.

Tuyên truyền giải thích pháp luật cho dân cần thực hiện triệt để hơn nữa.

Ngoài ra, về mặt lý luận, Luật Khiếu nại tố cáo cần bổ sung những quy định về giải quyết khiếu nại, tố cáo đông người theo đó, một số vấn đề sau đây phải được làm rõ: Khái niệm pháp lý về khiếu nại đông người, điều kiện để công dân được thực hiện khiếu nại đông người, thủ tục cần thiết khi khiếu nại, tố cáo đông người, quyền và nghĩa vụ của người khiếu nại, tố cáo khi khiếu nại đông người: ngoài nghĩa vụ chung của ngư­ời khiếu nại, tố cáo, khi khiếu nại, tố cáo đông người, công dân còn phải có nghĩa vụ tuân thủ những quy định của pháp luật về bảo đảm trật tự công cộng, nguyên tắc xử lý vi phạm những quy định về khiếu nại, tố cáo đông người v.v...

3. Về vấn đề khiếu nại vượt cấp

3.1. Quy định pháp luật

Tại khoản 4, Điều 6 của Nghị định 136/2006/NĐ-CP như sau: “Đối với đơn khiếu nại thuộc thẩm quyền giải quyết của cấp dưới nhưng quá thời hạn quy định mà chưa được giải quyết thì Thủ trưởng cơ quan nhà nước cấp trên yêu cầu cấp dưới giải quyết, đồng thời có trách nhiệm chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc việc giải quyết của cấp dưới và áp dụng biện pháp theo thẩm quyền để xử lý đối với người thiếu trách nhiệm hoặc cố tình trì hoãn việc giải quyết khiếu nại đó. Trong trường hợp cần áp dụng biện pháp vượt quá thẩm quyền của mình thì kiến nghị cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền để xử lý”.

3.2. Thực tiễn áp dụng quy định pháp luật

Thực tế, theo khảo sát trên phạm vi cả nước, có hàng vạn đơn thư khiếu nại vượt cấp, quá thời hạn vẫn không giải quyết hoặc bị “phớt lờ” không giải quyết nhưng chưa có trường hợp nào bị xử lý theo quy định nêu trên.

Nguyên nhân

Hiện nay có nhiều hiện tượng người dân khiếu nại vượt cấp, nguyên nhân chủ yếu là nhận thức của người dân cho rằng vấn đề giải quyết khiếu nại của cấp dưới không thể tốt bằng cấp trên .

Việc khiếu nại của người dân chậm được giải quyết;

Cơ quan chức năng chưa đối thoại trực tiếp với người dân nên những xung đột cơ bản khó giải quyết;

Việc giải quyết khiếu nại của cơ quan cùng cấp chưa thực sự khách quan.

Pháp luật chưa được thực thi nghiêm túc;

Nhà nước chưa nghiêm túc trong việc xử lý vi phạm. Địa phương chưa giải thích kịp thời và tận tình cho người dân

Đề xuất giải pháp

Để giải quyết dứt điểm tình trạng “phớt lờ” nêu trên, trong cần có chế tài thật nghiêm khắc với trường hợp này và quy định cấp trên khi nhận được đơn khiếu nại vượt cấp thì phải ra ngay văn bản đôn đốc (có quy định thời hạn phải giải quyết xong khiếu nại), tiến hành kiểm tra; Sau khi ra văn bản đôn đốc lần 1 mà cấp dưới vẫn không giải quyết thì ra quyết định xử lý trách nhiệm và giao cho cấp trên trực tiếp của người bị xử lý thụ lý giải quyết đơn khiếu nại đó (riêng đối với Chủ tịch UBND cấp tỉnh, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ vi phạm thì Thanh tra Chính phủ thụ lý giải quyết đơn khiếu nại đó và kiến nghị Thủ tướng xử lý trách nhiệm đối với các chủ thể nêu trên ).  

Đồng thời, cơ quan tài phán còn chịu trách nhiệm giải quyết khiếu nại, tranh chấp của dân và căn cứ kết luận dựa trên tài liệu của các bên liên quan trên cơ sở pháp luật quy định. Chủ quản của cơ quan tài phán sẽ thuộc Quốc hội hoặc thuộc Chính phủ nhưng không thể thuộc địa phương bởi tính khách quan cần thiết khi làm nhiệm vụ.

4. Về sự thống nhất giữa quy trình giải quyết khiếu nại hành chính và những quy định pháp luật khác có liên quan

4.1. Quy định pháp luật

Theo Điều 60 và điều 61 của Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 2004 thì quyết định giải quyết khiếu nại của Bộ trưởng Bộ Tư pháp và quyết định giải quyết khiếu nại của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng là quyết định giải quyết khiếu nại cuối cùng nhưng theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Khiếu nại, tố cáo năm 2005 thì thuật ngữ "Quyết định giải quyết khiếu nại cuối cùng" đã bị bãi bỏ. Như vậy, về quy định pháp luật, giữa Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 2004 đã có sự bất cập so với  Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Khiếu nại, tố cáo năm 2005.

- Xét về thời hạn và thời hiệu giải quyết khiếu nại của Pháp lệnh THADS và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Khiếu nại, tố cáo năm 2005, Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998 là khác nhau.

4.2. Thực tiễn áp dụng quy định pháp luật

Theo quy định tại Pháp lệnh giải quyết vụ án hành chính lại quy định có những vụ việc Toà án không có thẩm quyền giải quyết khiến người dân phải chạy lòng vòng. Hai văn bản này có nhiều chồng chéo khiến cho việc giải quyết khiếu nại tố cáo trở thành không điểm dừng. Khiếu nại và tố cáo là hai lĩnh vực khác nhau, việc quy định chung trong một văn bản tạo nhiều bất cập trong giải quyết, việc tách 2 luật ra là viêc nên làm.Xu hướng tách luật khiếu nại và luật tố cáo sẽ tạo triển vọng cho các cơ quan giải quyết không gặp sự chồng chéo về thẩm quyền giải quyết cũng như giúp ngưòi dân thực hiện tốt hơn quyền khiếu nại tố cáo đúng việc đúng thẩm quyền.Đồng thời cũng nên sửa đổi cả Luật thanh tra cho phù hợp.

4.3. Nguyên nhân

Nguyên nhân của sự bất cập nêu trên là do khi xây dựng Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 2004, các nhà làm luật đã dựa trên các nguyên tắc của Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998 để xây dựng chế định về giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực thi hành án dân sự. Tuy nhiên, cũng chính vào năm 2004, Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998 đã được sửa đổi bổ sung và năm 2005, đạo Luật này lại được sửa đổi, bổ sung một lần nữa. Việc liên tục bổ sung, sửa đổi Luật Khiếu nại, tố cáo khiến cho nhiều văn bản quy phạm pháp luật thuộc các vấn đề chuyên ngành có liên quan đến giải quyết khiếu nại được xây dựng trước thời điểm Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật khiếu nại tố cáo năm 2005 có hiệu lực (01/6/2006) lâm vào tình trạng trở nên bất cập so với Luật Khiếu nại, tố cáo năm 2005, mà cụ thể nhất là Pháp lệnh Thi hành án dân sự và Luật Đất đai. 

4.4. Đề xuất giải pháp

Cần nhanh chóng sửa đổi một số quy định của pháp luật chuyên ngành liên quan đến việc giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực đó, cụ thể là Luật đất đai và Pháp lệnh Thi hành án dân sự.

Người khiếu nại tố cáo gặp nhiều khó khăn khi được yêu cầu cung cấp đầy đủ tài liệu chứng cứ có liên quan đến vụ việc khiếu nại, tố cáo. Hồ sơ khiếu nại tố cáo thưòng không đầy đủ. Việc giải quyết các khiếu nại đối với QĐHC/HVHC còn mang tính bao che.

5. Về quy trình tố tụng sau khiếu nại hành chính

Thực tiễn khảo sát: quy trình đối thoại trong giải quyết khiếu nại phải minh bạch thì mới hiệu quả

Luật quy định về vấn đề giải quyết khiếu nại tố cáo đã đầy đủ nhưng cách thức giải quyết trong thực tế chưa đạt. Luật có chế tài nhưng chưa thực hiện được.. Vai trò phản biện xã hội của Mặt trận và các tổ chức thành viên yếu, nhiều khi còn “sợ thù vặt”.

Pháp luật quy định người khiếu nại trong lần đầu phải gửi đơn đến người có quyết định, hành vi bị khiếu nại. Thực hiện như vậy sẽ không khách quan mà cần phải có cơ quan độc lập với người có quyết định hành chính đó để giải quyết. Theo quy định của pháp luật hiện nay, người có quyết định hành chính, hành vi hành chính là người giải quyết khiếu nại lần đầu, nhưng thực tế nếu để như thế là không khách quan.

Quy định lần một người khiếu nại phải gửi đơn đến người ra quyết định là không hợp lý

Việc giải quyết thiếu công khai, dân chủ, minh bạch.

Trên cơ sở quy định tại Điều 1 Khoản 1 Luật năm 1998, trong phạm vi Báo cáo này, phạm vi đối tượng bị khiếu nại được hiểu là các quyết định hành chính, hành vi hành chính và các quyết định kỷ luật cán bộ, công chức; chủ thể có quyền khiếu nại là công dân, cơ quan, tổ .Chủ thể có quyền giải quyết khiếu nại là cơ quan, tổ chức và cá nhân được pháp luật trao cho thẩm quyền giải quyết khiếu nại.

Trong bối cảnh hiện nay cơ chế giải quyết như vậy là phù hợp nhưng không phát huy hiệu quả. Người Việt Nam có thói quen sợ công quyền hơn sợ pháp luật.

Nên quy định người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại là cấp trên trực tiếp chứ không phải giải quyết lần đầu thuộc thẩm quyền của người có quyết định hành chính và hành vi hành chính, như thế để phù hợp với tâm lý của người khiếu nại.

Từ năm 2005, các quyết định hành chính đều có thể bị kiện ra toà. Từ nay người dân được lựa chọn việc khởi kiện ra toà hành chính, không bị ràng buộc vào thủ tục khiếu nại và được quyền cung cấp chứng cứ, được tranh tụng một cách công khai, bình đẳng trước phiên toà, xoá bỏ được tình trạng vừa đá bóing vừa thổi còi.

Đề xuất cần có mô hình tài phán hành chính độc lập với hệ thống tổ chức hành chính hiện nay.

TS. Nguyễn Thị Thu Vân- Vụ Dân sự, Kinh tế - Bộ Tư pháp
Nguồn: Viện Nghiên cứu Chính sách, Pháp luật và Phát triển

--------------------

1. Luật số 09/1998/QH10.

2. Báo cáo khảo sát tại Đà Nẵng.

3. Báo cáo kết quả khảo sát tại Đà Nẵng.

 4. Báo cáo khảo sát tại Đà Nẵng, Khánh Hoà.

Các tin tiếp
Các tin trước
TIÊU ĐIỂM
Xem nhiều nhất