Kể từ khi Luật khiếu nại, tố cáo được ban hành (năm 1998) đến nay, Quốc hội đã thông qua các Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật khiếu nại, tố cáo năm 2004, 2005, Chính phủ và các cấp, các ngành đă ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật.
Đây là cơ sở pháp lý quan trọng cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong việc xem xét, giải quyết khiếu nại, tố cáo. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết đã phát sinh một số khó khăn, vướng mắc khi xử lý các tình huống liên quan đến việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người khiếu nại cũng như của người giải quyết khiếu nại, như:
Quá trình giải quyết khiếu nại liên quan đến các mặt quản lý nhà nước, nhất là trong công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư giải phóng mặt bằng, có những trường hợp trong thời hạn giải quyết khiếu nại, người khiếu nại là công dân bị mất năng lực hành vi dân sự mà chưa xác định được người đại diện theo pháp luật, hoặc người khiếu nại bị chết mà chưa có cá nhân thừa kế quyền và nghĩa vụ của người khiếu nại; hay người khiếu nại là cơ quan, tổ chức bị chia, tách, sát nhập, giải thể mà chưa xác định được người đại diện cho cơ quan, tổ chức. Do chưa có quy định xử lý tình huống này, nên người giải quyết khiếu nại còn gặp khó khăn.
Tại điểm g khoản 1 Điều 17 Luật Khiếu nại, tố cáo được sửa đổi, bổ sung năm 2005 quy định “Người khiếu nại có quyền rút khiếu nại trong quá trình giải quyết khiếu nại”. ở đây, Luật chỉ quy định về mặt nguyên tắc, nội dung, đến nay chưa có văn bản nào quy định chi tiết, hướng dẫn hình thức rút khiếu nại. Bởi vậy, khi người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại yêu cầu người khiếu nại phải có đơn rút đơn khiếu nại, hoặc ký giấy xác nhận rút đơn khiếu nại để lưu hồ sơ vụ việc thì người khiếu nại không đồng ý, chỉ chấp nhận rút đơn bằng hình thức nói miệng; có trường hợp người khiếu nại đã có đơn rút đơn khiếu nại và được cơ quan có thẩm quyền giải quyết trả lại đơn kèm theo các thông tin, tài liệu do người khiếu nại cung cấp; đồng thời xóa tên vụ khiếu nại trong sổ thụ lý đơn nhưng sau một thời gian ngắn, người khiếu nại tiếp tục gửi đơn tái khiếu. Vì vậy, đã gây không ít khó khăn cho người giải quyết khiếu nại.
Khoản 1 Điều 44 Luật Khiếu nại, tố cáo được sửa đổi, bổ sung năm 2005 quy định người giải quyết khiếu nại có những quyền: Yêu cầu người khiếu nại cung cấp thông tin, tài liệu và bằng chứng về nội dung khiếu nại; Triệu tập người bị khiếu nại, người khiếu nại để tổ chức đối thoại trực tiếp; Xác minh tại chỗ.
Luật quy định như trên, nhưng thực tế trong quá trình giải quyết khiếu nại cho thấy không ít trường hợp người khiếu nại không cung cấp thông tin, tài liệu và bằng chứng về nội dung khiếu nại theo yêu cầu của người giải quyết khiếu nại, hay người khiếu nại đã được triệu tập hợp lệ tới 2, 3 lần để làm rõ những thông tin, tài liệu có liên quan, để gặp gỡ đối thoại trực tiếp nhưng đều vắng mặt hoặc người khiếu nại có các các hành vi trốn tránh, cản trở cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại xác minh tại chỗ để làm rõ những nội dung vi phạm hành chính của người khiếu nại, như vi phạm về trật tự xây dựng, về sử dụng đất đai… Song đến nay chưa có quy định các biện pháp xử lý trách nhiệm người khiếu nại không thực hiện yêu cầu của người giải quyết khiếu nại.
Để tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc nói trên, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan và người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, các cơ quan có thẩm quyền cần nghiên cứu quy định bổ sung biện pháp tạm đình chỉ, đình chỉ việc giải quyết khiếu nại vào Luật khiếu nại, tố cáo. cụ thể:
a. Tạm đình chỉ việc giải quyết khiếu nại trong các trường hợp :
- Người khiếu nại là công dân mất năng lực hành vi dân sự mà chưa xác định được người đại diện theo pháp luật;
- Người khiếu nại chết mà chưa có cá nhân thừa kế quyền và nghĩa vụ của người khiếu nại; hoặc cơ quan, tổ chức chia, tách, sát nhập, giải thể mà chưa xác định được người đại diện theo pháp luật.
b. Đình chỉ việc giải quyết khếu nại trong các trường hợp :
- Người khiếu nại có đơn hoặc ký giấy rút đơn khiếu nại;
- Người khiếu nại đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt;
- Người khiếu nại không cung cấp thông tin, tài liệu và bằng chứng về nội dung khiếu nại theo yêu cầu của người giải quyết khiếu nại.
c. Thẩm quyền ra quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ việc giải quyết khiếu nại
- Thủ trưởng cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại có thẩm quyền ra quyết định tạm đình chỉ, đỉnh chỉ việc giải quyết khiếu nại;
- Hệ quả tạm đình chỉ là tạm ngừng việc giải quyết khiếu nại cho đến khi lý do tạm đình chỉ không còn;
- Hệ quả đình chỉ việc giải quyết khiếu nại là ngừng việc giải quyết khiếu nại. Người khiếu nại không có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền tiếp tục giải quyết vụ khiếu nại đó .
Tạm đình chỉ và đình chỉ việc giải quyết khiếu nại là biện pháp cần thiết được áp dụng trong quá trình giải quyết khiếu nại nhằm bảo đảm các quyền của người giải quyết khiếu nại được tôn trọng thực hiện cũng như để không kéo dài thời hạn giải quyết theo Luật định. Vì vậy, cần được xem xét, bổ sung để góp phần hoàn thiện Luật Khiếu nại, tố cáo./.
Nguyễn Quốc Tuấn - Chánh Thanh tra quận Ba Đình - Hà Nội
Nguồn: Tạp chí Thanh tra