Một số vấn đề về pháp luật tố cáo và giải quyết tố cáo
2:23' 11/10/2009
Tố cáo và giải quyết tố cáo luôn là vấn đề thể hiện sinh động mối quan hệ giữa công dân với Nhà nước. Thông qua tố cáo và giải quyết tố cáo góp phần bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân, ổn định tình hình kinh tế xã hội. Trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân hiện nay, việc hoàn thiện các quy định pháp luật nói chung, các quy định về tố cáo và giải quyết tố cáo nói riêng là yêu cầu mang tính khách quan.

Theo Luật khiếu nại, tố cáo năm 1998 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2004, 2005) thì tố cáo là việc công dân theo thủ tục Luật Khiếu nại, tố cáo quy định báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức. Tuy nhiên, nhiều quy định về tố cáo và giải quyết tố cáo trong Luật khiếu nại, tố cáo chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế công tác giải quyết tố cáo và có những điểm chưa thống nhất với các văn bản pháp luật khác. Cụ thể là:
 
Thứ nhất, về phạm vi điều chỉnh. Theo quy định tại khoản 2 Điều 1 Luật khiếu nại, tố cáo thì công dân có quyền tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về hành vi trái pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức. Cùng với định nghĩa về tố cáo và các quy định tại Chương I, VI, VII của Luật khiếu nại, tố cáo hiện hành thì thấy rằng phạm vi điều chỉnh là việc tố cáo và giải quyết tố cáo trong tất cả các lĩnh vực. Nhưng các quy định về thẩm quyền giải quyết tố cáo và thủ tục giải quyết tố cáo (quy định tại Mục 2, 3 Chương IV Luật khiếu nại, tố cáo) chỉ tập trung vào giải quyết tố cáo trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước. Tố cáo trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước được hiểu là việc công dân báo tin cho cơ quan, người có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật (không phải là tội phạm) xảy ra trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức.
 
Thứ hai, về thẩm quyền giải quyết tố cáo. Việc xác định thẩm quyền giải quyết tố cáo có ý nghĩa quan trọng để các cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận, thẩm tra, xác minh và xử lý tố cáo đúng pháp luât. Thực tế cho thấy, hành vi bị tố cáo rất đa dạng, thuộc nhiều lĩnh vực nên việc giải quyết thuộc thẩm quyền của nhiều cơ quan khác nhau, do vậy cần phải có những nguyên tắc chung nhất để xác định thẩm quyền của các cơ quan trong việc giải quyết tố cáo. Nguyên tắc và thẩm quyền giải quyết tố cáo đã được quy định cụ thể trong Luật khiếu nại, tố cáo và Nghị định số 136/2006/NĐ-CP. Tuy nhiên, Luật Khiếu nại, tố cáo mới chỉ đề cập đến thẩm quyền giải quyết tố cáo trong các cơ quan hành chính nhà nước mà chưa quy định về thẩm quyền giải quyết tố cáo trong các cơ quan tiến hành tố tụng, cơ quan khác của nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế. Luật cũng chưa quy định cụ thể thẩm quyền của các cơ quan hành chính nhà nước trong việc giải quyết tố cáo cũng như trách nhiệm của thanh tra các cấp, các ngành trong việc giúp thủ trưởng cùng cấp giải quyết tố cáo. Do Luật khiếu nại, tố cáo chưa xác định rõ thẩm quyền của các cơ quan trong việc giải quyết tố cáo nên việc tiếp nhận và xử lý tố cáo đã và đang gặp nhiều khó khăn. Đồng thời, theo quy định hiện hành thì không có điểm dừng trong tiếp nhận và xử lý tố cáo của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
 
Thứ ba, về thủ tục tố cáo và giải quyết tố cáo.
 
Luật khiếu nại, tố cáo chỉ quy định các trình tự, thủ tục về phía cơ quan có trách nhiệm giải quyết tố cáo, chưa quy định rõ thủ tục cho công dân khi họ thực hiện quyền tố cáo, do vậy làm hạn chế việc tố cáo các hành vi vi phạm pháp luật.
 
Thực tế hiện nay có nhiều tố cáo về hành vi vi phạm pháp luật đã diễn ra từ lâu, không còn tính nguy hiểm cho xã hội nhưng cơ quan nhà nước vẫn thụ lý và xem xét, giải quyết. Điều này gây tốn kém, lãng phí trong quá trình giải quyết tố cáo. Do vậy, cần phải nghiên cứu để có quy định về thời hiệu tố cáo hành vi vi phạm pháp luật (chưa phải là tội phạm) trong lĩnh vực hành chính để phù hợp với pháp luật hình sự và Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính.
 
Luật đã quy định về việc tố cáo tiếp khi có căn cứ cho rằng việc giải quyết tố cáo không đúng pháp luật hoặc quá thời gian quy định mà tố cáo không được giải quyết thì người tố cáo có quyền tố cáo tiếp với cơ quan, tổ chức, cấp trên trực tiếp người giải quyết tố cáo (Điều 69 Luật Khiếu nại, tố cáo). Tuy nhiên, chưa xác định rõ trường hợp người tố cáo cho rằng việc giải quyết tố cáo trước đó không đúng thì người có thẩm quyền chỉ xem xét, giải quyết những nội dung mới mà người tố cáo tố cáo tiếp, do vậy nhiều khi trên thực tế dẫn đến tình trạng tố cáo tràn lan khi người tố cáo không có bằng chứng mới. Pháp luật khiếu nại, tố cáo cũng chưa xác định rõ về “chứng cứ mới” trong tố cáo tiếp, nó được hiểu là chứng cứ mới về vụ việc bị tố cáo hay là căn cứ về việc giải quyết tố cáo không đúng pháp luật?
 
- Về hình thức tố cáo, theo điểm a, khoản 1 Điều 57 Luật khiếu nại, tố cáo thì công dân có thể tố cáo bằng hình thức gửi đơn hoặc trực tiếp tố cáo với cơ quan, tố chức, cá nhân có thẩm quyền. Pháp luật hiện hành chưa quy định cụ thể các hình thức tố cáo, ngoài tố cáo bằng đơn, trực tiếp đến tố cáo còn có thể tố cáo thông qua điện thoại, email... Kinh nghiệm của một số nước đã quy định cụ thể các hình thức tố cáo nhằm tạo thuận lợi cho người dân báo cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền các hành vi vi phạm pháp luật nói chung cũng như tham nhũng nói riêng, góp phần tăng hiệu quả công tác đấu tranh chống các hành vi vi phạm pháp luật.
 
- Về xác minh, kết luận nội dung tố cáo : Giai đoạn này rất quan trọng, có ảnh hưởng mang tính quyết định đến hiệu quả của việc giải quyết tố cáo. Song pháp luật hiện hành chưa quy định rõ vai trò tích cực của của các cơ quan thanh tra nhà nước trong việc giúp thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp xác minh, kết luận và kiến nghị biện pháp xử lý đối với người tố cáo vi phạm pháp luật. Chưa cụ thể hoá trình tự, thủ tục cũng như thẩm quyền của cơ quan thanh tra trong quá trình kiểm tra, xác minh các vụ việc tố cáo, gây khó khăn trong quá trình thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, xác minh các vụ việc tố cáo. Hơn nữa, nhiều kết luận, kiến nghị của cơ quan thanh tra nhà nước không được thủ trưởng các cơ quan quản lý xử lý xem xét xử lý nghiêm minh.
 
- Về xử lý tố cáo: là công việc quan trọng trong quá trình giải quyết tố cáo. Tuy nhiên, Luật khiếu nại, tố cáo chưa quy định cụ thể về việc xử lý tố cáo. Chưa quy định rõ người có trách nhiệm phải căn cứ vào kết quả xác minh, kết luận về nội dung tố cáo để tiến hành việc xử lý. Trong đó cần xác định rõ, nếu người bị tố cáo không vi phạm pháp luật, không vi phạm các quy định về nhiệm vụ, công vụ thì phải có kết luận rõ và thông báo bằng văn bản cho người bị tố cáo, cơ quan quản lý người bị tố cáo biết, đồng thời xử lý hoặc kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý người cố tình tố cáo sai sự thật. Trường hợp người bị tố cáo có vi phạm pháp luật hoặc vi phạm các quy định về nhiệm vụ, công vụ phải xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính thì xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý, đồng thời áp dụng các biện pháp theo quy định của pháp luật để quyết định, kiến nghị xử lý được chấp hành nghiêm chỉnh. Trong trường hợp hành vi bị tố cáo có dấu hiệu tội phạm thì chuyển hồ sơ vụ việc cho cơ quan điều tra hoặc Viện Kiểm sát để giải quyết.
 
Quy định pháp luật hiện hành chưa phân định rõ về việc xử lý tố cáo với các hình thức tố giác, tin báo tội phạm và các kiến nghị, phản ánh của người dân, gây lúng túng trong việc xử lý đối với đơn thư tố cáo.
 
- Về quyết định xử lý tố cáo: Điều 45 Nghị định số 136/2006/NĐ-CP quy định về việc người giải quyết tố cáo gửi văn bản kết luận vụ việc tố cáo, quyết định xử lý tố cáo cho cơ quan thanh tra, cơ quan nhà nước cấp trên trực tiếp, thông báo cho người tố cáo kết quả giải quyết nếu họ có yêu cầu, trừ những nội dung thuộc danh mục bí mật nhà nước. Tuy nhiên, chưa quy định về việc công khai quyết định xử lý tố cáo, do đó chưa đáp ứng được những thay đổi của các văn bản pháp luật có liên quan, nhất là Luật phòng, chống tham nhũng.
 
Thứ tư, quyền, nghĩa vụ của người tố cáo, người bị tố cáo, người giải quyết tố cáo.
 
Luật khiếu nại, tố cáo đã có quy định về quyền, nghĩa vụ của người tố cáo, người bị tố cáo và người giải quyết tố cáo, song nhìn chung chưa tạo điều kiện thuận lợi cho người dân trong quá trình thực hiện quyền tố cáo, chưa ghi nhận đầy đủ các hình thức để người dân thực hiện quyền tố cáo, vì vậy chưa tạo ra cơ chế khuyến khích, động viên người dân báo cho các cơ quan nhà nước về hành vi vi phạm pháp luật. Quyền, nghĩa vụ của người tố cáo, người bị tố cáo được quy định từ trước đến nay chưa đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế-xã
hội, yêu cầu phòng chống các vi phạm pháp luật.
 
Đối với công dân, Luật khiếu nại, tố cáo chưa quy định rõ công dân được sử dụng nhiều hình thức tố cáo; được nhận thông báo chuyển vụ việc tố cáo sang cơ quan có thẩm quyền giải quyết; được tố cáo tiếp khi có căn cứ cho rằng việc giải quyết tố cáo của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền không đúng pháp luật hoặc quá thời gian quy định mà tố cáo không được giải quyết; được trích thưởng (nếu có) v.v...đồng thời chưa xác định rõ trách nhiệm bồi thường, bồi hoàn thiệt hại do hành vi tố cáo sai sự thật của mình gây ra. Tương tự như vậy, đối với người giải quyết bị tố cáo, Luật khiếu nại, tố cáo cũng chưa quy định đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của người giải quyết tố cáo, người được giao nhiệm vụ xác minh nội dung tố cáo nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người giải quyết tố cáo, người được giao nhiệm vụ xác minh nội dung tố cáo tiến hành các hoạt động cần thiết để thu thập các thông tin, tài liệu làm rõ nội dung tố cáo, kết luận đúng sai về tố cáo. Chưa quy định về kết luận về nội dung tố cáo; quyết định xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật v.v..
 
Thứ năm, về tố cáo không rõ họ tên, địa chỉ.
 
Một vấn đề luôn được đặt ra trong nhiều cuộc hội thảo khoa học liên quan đến khiếu nại, tố cáo và chống tham nhũng là tại sao không giải quyết đối với tố cáo không rõ họ tên, địa chỉ người tố cáo trong khi trên thực tế số lượng đơn tố cáo loại này vẫn chiếm số lương lớn. Có hai luồng quan điểm về vấn đề này. Quan điểm cho rằng không nên giải quyết vì việc này dễ bị lạm dụng, lợi dụng dẫn đến hiện tượng vu khống, vu cáo, xúc phạm uy tín, danh dự của người khác, gây mất đoàn kết nội bộ. Song có quan điểm cho rằng cần phải giải quyết vì nguyên nhân người tố cáo phải giấu tên là do sợ trả thù, nhất là khi người bị tố cáo là người có chức vụ, quyền hạn. Pháp luật khiếu nại, tố cáo hiện hành đã không quy định cụ thể đối với xử lý đơn tố cáo không rõ họ tên, địa chỉ, nếu như đơn có nội dung rõ ràng, người tố cáo đã cung cấp đầy đủ thông tin, tài liệu hoặc các bằng chứng khác được kiểm chứng xác thực thì cơ quan có thẩm quyền có thể thụ lý để giải quyết nhằm  bảo vệ lợi ích Nhà nước và đáp ứng yêu cầu phòng chống các hành vi vi phạm pháp luật. Trên thực tế nhiều vụ việc tố cáo không rõ họ, tên địa chỉ, bút tích của người tố cáo vẫn được một số cơ quan xem xét, giải quyết. Thực tiễn trên gây ra sự thiếu thống nhất trong hoạt động áp dụng pháp luật.
 
Thứ sáu, về các biện pháp bảo vệ người tố cáo
 
Luật khiếu nại, tố cáo chưa có cơ chế bảo vệ người tố cáo khi họ bị đe doạ, trả thù, trù dập hoặc bị phân biệt đối xử; chưa có quy định về việc khen thưởng vật chất đối với người tố cáo mà mới chỉ ghi nhận một số nguyên tắc bảo vệ người tố cáo, xác định trách nhiệm của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc bảo vệ tính mạng, danh sự, sức khoẻ cho người tố cáo; thiếu cơ chế tổ chức thực hiện, do vậy làm ảnh hưởng đến việc thực hiện quyền tố cáo của công dân. Nhiều người không dám tố cáo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền vì sợ bị trả thù, trù dập, một số khác thì tố cáo giấu tên, địa chỉ của mình. Mặt khác, cũng có những trường hợp người tố cáo bị trả thù, trù dập mà người vi phạm không bị xử lý. Tình trạng đó đã và đang làm cản trở việc tố cáo và giải quyết tố cáo./.
 
Hồ Thị Thu An
Thanh tra viên Vụ Pháp chế - Thanh tra Chính phủ
Nguồn Tạp chí Thanh tra
Các tin tiếp
Các tin trước
TIÊU ĐIỂM
Xem nhiều nhất