Thực hiện nguyên tắc xác định sự thật của vụ án, Điều 10 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 (BLTTHS 2003) quy định: “Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng. Bị can, bị cáo có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội”. Đây là nguyên tắc rất quan trọng, thể hiện thái độ của Nhà nước đối với quyền của công dân. Dù với tư cách là bị can, bị cáo nhưng họ cũng cần phải được đối xử một cách công bằng, nhân đạo như một con người, trong đó, nghĩa vụ chứng minh một người có tội hay không thuộc về Nhà nước. Điều luật quy định về “quyền” chứng minh vô tội cho bị can, bị cáo mà không là nghĩa vụ đã thể hiện sự tôn trọng quyền con người và đây là biểu hiện của quyền im lặng tồn tại trong chuẩn mực pháp luật tố tụng hình sự (TTHS) quốc tế (BLTTHS 2003 chưa quy định chính thức quyền im lặng của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo). Tuy nhiên, nguyên tắc tại Điều 10 lại không đặt ra đối với người bị tình nghi (thường được coi là người bị bắt và bị tạm giữ). Sau khi bắt và tạm giữ người, cơ quan điều tra củng cố tài liệu, chứng cứ buộc tội bằng quyết định khởi tố bị can và trình Viện kiểm sát phê chuẩn.
Trong những năm qua, các quy định của Bộ luật Hình sự (BLHS) Việt Nam về tội chứa mại dâm, môi giới mại dâm đã góp phần quan trọng vào công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm này. Tuy nhiên, xuất phát từ thực tiễn hiện nay, các quy định đó còn chưa thật cụ thể và đầy đủ. Nhận thức về tội phạm này có nơi, có lúc còn chưa nhất quán. Trong một số trường hợp, các cơ quan bảo vệ pháp luật vẫn còn lúng túng, chưa có quan điểm thống nhất hoặc mắc phải thiếu sót trong việc giải quyết các vụ án về tội chứa mại dâm, môi giới mại dâm. Để thống nhất trong nhận thức và áp dụng đúng đắn các quy định của BLHS về tội chứa mại dâm, môi giới mại dâm, trong bài viết này, chúng tôi tập trung nghiên cứu một cách khoa học, toàn diện, có hệ thống các vấn đề lý luận và thực tiễn về tội chứa mại dâm, môi giới mại dâm.
Đổi mới tố tụng hình sự, làm cho tố tụng thật sự dân chủ, bảo đảm khách quan, không làm oan người vô tội là một trong những nội dung của công cuộc cải cách tư pháp đã được nghị quyết của Bộ Chính trị đề cập: “Nâng cao chất lượng công tố của kiểm sát viên tại phiên toà, bảo đảm tranh tụng dân chủ với luật sư, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác... khi xét xử, các toà án phải bảo đảm cho mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, thực sự dân chủ, khách quan; thẩm phán và hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; việc phán quyết của toà án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, của người bào chữa, bị cáo... để đưa ra những bản án, quyết định đúng pháp luật...”.
Là một trong những chế định quan trọng của luật hình sự Việt Nam, miễn trách nhiệm hình sự (TNHS) thể hiện chính sách phân hóa TNHS và nguyên tắc nhân đạo của Nhà nước ta đối với người phạm tội, đồng thời động viên, khuyến khích người phạm tội lập công chuộc tội, chứng tỏ khả năng giáo dục, cải tạo, nhanh chóng hòa nhập cộng đồng và trở thành người có ích cho xã hội. Tuy nhiên, miễn TNHS đối với một người có thể sẽ dẫn đến hậu quả gì là vấn đề chưa được khoa học luật hình sự quan tâm nghiên cứu và cũng chưa được các nhà làm luật nước ta giải quyết dứt khoát trên phương diện lập pháp hình sự.
Mặt khách quan của tội phạm là mặt bên ngoài của tội phạm, bao gồm những biểu hiện của tội phạm diễn ra hoặc tồn tại bên ngoài thế giới khách quan1. Trong đó, hành vi khách quan nguy hiểm cho xã hội là một dấu hiệu quan trọng. Vì vậy, hoàn thiện dấu hiệu hành vi trong mặt khách quan của các tội phạm, trong đó có Tội gián điệp là rất cần thiết.
Tội vu cáo xưa cũng na ná như tội vu khống của ta ngày nay, dùng để trừng trị những người đặt chuyện tố cáo bậy bạ để hãm hại người khác.
...Mô hình tố tụng hình sự (TTHS) nước ta - trong quá trình phát triển - chịu ảnh hưởng lớn từ mô hình TTHS Pháp và Xô viết (hai mô hình TTHS vốn bắt nguồn từ truyền thống luật Châu Âu lục địa) và đã tiếp thu đậm nét những yếu tố của mô hình TTHS thẩm vấn. Hệ thống pháp luật, hệ thống tư pháp của Pháp đã hiện diện ở nước ta trong gần 100 năm - bên cạnh hệ thống pháp luật và hệ thống tư pháp phong kiến bản xứ - đã ảnh hưởng sâu sắc đến truyền thống, tư duy pháp lý ở nước ta. Các Bộ luật TTHS được ban hành và áp dụng trong thời kỳ Pháp thuộc là sự sao chép cơ bản Bộ luật TTHS của Pháp thời đó...
Ngay từ thời La mã cổ đại người ta đã khẳng định trách nhiệm chứng minh thuộc về bên tố cáo, thuộc bên khẳng định chứ không phải bên phủ định, những tư tưởng này chỉ được các quan toà áp dụng trong tố tụng dân sự. Đây được coi là cội nguồn của nguyên tắc suy đoán vô tội (presomtion of innonce) 1. Tuy nhiên, chỉ đến khi cách mạng tư sản Pháp 1789 bùng nổ, tư tưởng này mới được mới được ghi nhận như là một nguyên tắc của pháp luật. Tuyên ngôn nhân quyền 1789 long trọng tuyên bố: Mọi người được coi là vô tội cho đến khi bị tuyên bố phạm tội . Nếu xét thấy cần thiết phải bắt giữ thì mọi sự cưỡng bức vượt quá mức cần thiết cho phép đều bị pháp luật xử lý nghiêm khắc2. Suy đoán vô tội đã đựợc luật hình sự của nhiều nhà nước coi là nguyên tắc của tố tụng hình sự, được đánh giá là thành tựu vĩ đại của văn minh pháp lý trong việc bảo vệ quyền con người trong tố tụng hình sự...
... những biện pháp này nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật, (không chỉ pháp luật tố tụng hình sự, mà cả những quy định pháp luật khác có liên quan đến chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của bộ máy tư pháp hình sự); mối quan hệ ngang, dọc và phối hợp, chế ước lẫn nhau giữa các cơ quan Nhà nước trong toàn bộ hệ thống chính trị, các quy định của pháp luật, có tính chất bảo đảm để các Tòa án nói chung và các Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân nói riêng hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Chỉ có thể tiến hành các giải pháp nâng cao hiệu quả xét xử các vụ án hình sự trên cơ sở quy định của pháp luật, với một hệ thống pháp luật thống nhất đồng bộ. Tuy nhiên, trong khuôn khổ bài viết này, chúng tôi chỉ đề cập đến một số giải pháp từ góc độ pháp luật tố tụng hình sự...
.... từ khi bản án, quyết định hoặc những phần của bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật được đưa ra thi hành án cho đến khi bản án, quyết định đó được thi hành xong đều là công việc của Toà án, tức là căn cứ vào các quy định của pháp luật hình sự, Toà án phải thực hiện đầy đủ, nghiêm túc và chính xác nhằm đảm bảo các bản án, quyết định phải đưa ra thi hành được thực hiện nghiêm chỉnh...
Xem theo ngày tháng  / /    Xem tiếp
TIÊU ĐIỂM
Xem nhiều nhất