Bộ luật Hình sự còn một số vướng mắc
10:8' 10/10/2009
Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự (BLHS)được Quốc hội thông qua năm 1999, có hiệu lực thi hành từ ngày 1.1.2010. Được đánh giá là có nhiều điểm mới tiến bộ, nhưng BLHS mới đã bộc lộ một số vướng mắc khi áp dụng.

Điểm mới cơ bản của Bộ luật Hình sự sửa đổi, bổ sung

Luật sửa đổi, bổ sung BLHS đã bỏ án tử hình đối với 8 tội, đó là: hiếp dâm; buôn lậu; lừa đảo; làm, tàng trữ, lưu hành, vận chuyển tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả; tổ chức sử dụng trái phép ma túy; chiếm đoạt tàu bay, tàu thủy; đưa hối lộ; hủy hoại vũ khí quân dụng. Đối với các hành vi phạm tội nêu trên, chỉ áp dụng hình phạt cao nhất là tù chung thân.  Điểm mới nữa của Bộ Luật là nâng mức định lượng với nhiều tội danh theo hướng tăng lên. Cụ thể, nâng mức định lượng từ  500.000 đồng lên 2 triệu đồng để xử lý các loại hành vi lừa đảo; đưa, nhận, môi giới hối lộ; trộm cắp; tham ô; công nhiên chiếm đoạt tài sản; hủy hoại tài sản; lợi dụng chức vụ để trục lợi... Tuy nhiên, số tiền định lượng này chỉ áp dụng cho người phạm tội lần đầu. Nếu người phạm tội thuộc các trường hợp gây hậu quả nghiêm trọng, hoặc đã bị xử phạt hành chính, hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt, chưa được xóa án tích... thì dù số tiền phạm tội chưa tới 2 triệu đồng vẫn có thể bị xử lý hình sự. Đối với tội chiếm giữ trái phép tài sản, luật mới nâng mức vi phạm để truy cứu trách nhiệm từ 5 triệu đồng lên 10 triệu đồng; nâng mức tiền trốn thuế từ 50 triệu đồng lên 100 triệu đồng mới xử lý hình sự…

Một bổ sung quan trọng về tội đánh bạc, đó là quy định số tiền đánh bạc từ 2 triệu đồng trở lên mới có thể bị xử lý hình sự, thay vì quy định chung chung số tiền  “có giá trị lớn” như trước đây. Và để chấm dứt việc tranh cãi tại sao không xử lý hình sự các tổ chức đánh bạc, gá bạc hợp pháp như chơi đua ngựa, dự đoán có thưởng...Luật  quy định phải là tổ chức đánh bạc, gá bạc trái phép mới bị xử lý hình sự ; đồng thời  quy định theo hướng nghiêm khắc hơn đối với các hành vi vi phạm quy định về đất đai: Người nào lợi dụng hoặc lạm dụng chức vụ, quyền hạn giao đất, thu hồi, cho thuê, cho phép chuyển quyền sử dụng, mục đích sử dụng đất trái pháp luật, đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm sẽ bị xử lý hình sự. Chỉ cần thuộc một trong các trường hợp: Gây hậu quả nghiêm trọng; đất có diện tích lớn hoặc giá trị lớn; đã bị xử lý kỷ luật mà còn vi phạm là có thể bị xử lý hình sự. Mức án cao nhất của tội này trong BLHS 1999 là 7 năm tù thì luật sửa đổi, bổ sung nâng lên 12 năm tù; nâng hình phạt bổ sung cho loại tội này lên 100 triệu đồng (trước đây là 50 triệu đồng)…

Vẫn còn vướáng mắc

Những điểm mới nêu trên được đánh giá là điểm tiến bộ của BLHS sửa đổi, bổ sung và sẽ có hiệu lực từ ngày 1.1.2010. Nhưng, Nghị quyết 33/2009/NQ-QH12 được Quốc hội thông qua ngày 19.6.2009 về việc thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS có nêu: Các quy định có lợi cho bị can, bị cáo, người đang chấp hành án sẽ được áp dụng ngay sau khi Chủ tịch nước công bố luật mới. Khi áp dụng BLHS sửa đổi và Nghị quyết 33 vào thực tế đã phát sinh một số điểm bất hợp lý. Cụ thể, đối với loại tội trộm cắp tài sản, nếu giá trị tài sản chiếm đoạt dưới 2 triệu đồng thì không bị xử lý về hình sự. Nhưng người tiêu thụ món đồ trộm cắp ấy thì dù chỉ vài ba trăm ngàn vẫn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự (Tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có- Điều 250 BLHS). Sở dĩ có thể xảy ra điều đó là do trong BLHS sửa đổi, bổ sung đã nâng mức định lượng đối với tội trộm cắp tài sản nhưng vẫn giữ nguyên quy định đối với tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.

Bất hợp lý nữa là các quy định liên quan đến người bị kết án và đang thi hành án. Tại điểm đ khoản 2 Điều 1 của Nghị quyết 33 có nêu: “Trong trường hợp quy định tại các điểm b, c và d khoản này, nếu vụ án đang được điều tra, truy tố, xét xử thì phải đình chỉ; trường hợp người bị kết án đang chấp hành hình phạt hoặc đang được tạm đình chỉ thi hành án, thì họ được miễn chấp hành phần hình phạt còn lại; trường hợp người bị kết án chưa chấp hành hình phạt hoặc đang được hoãn thi hành án, thì họ được miễn chấp hành toàn bộ hình phạt”. Như vậy, do sự biến chuyển của tình hình xã hội (một hành vi trước đây bị coi là nguy hiểm cho xã hội nay đã không còn nguy hiểm nữa), tuỳ từng trường hợp cụ thể, người đang phải chịu án tù giam có thể được miễn chấp hành hình phạt. Tuy nhiên, đối với những người đang áp dụng án treo (một biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện) thì đương nhiên vẫn phải chịu sự giám sát của địa phương cho đến hết thời gian thử thách. Và như vậy, kéo theo nhiều “hệ quả” khác như: họ bị hạn chế quyền công dân trong trong thời gian thử thách; nếu phạm tội mới trong thời gian thử thách, họ có nguy cơ bị “chồng án” theo nguyên tắc tổng hợp hình phạt. Điều này có thể xảy ra vì trong nội dung Nghị quyết 33 không có điều luật nào đề cập đến đối tượng áp dụng án treo. Với bất hợp lý nêu trên, vô hình chung, một người có hành vi ít nguy hiểm cho xã hội hơn (so với người đang phải chịu án tù giam) lại bị áp dụng biện pháp nghiêm khắc hơn.

Quang Minh

Nguồn: Báo Người Đại biểu nhân dân

 

Các tin tiếp
Các tin trước
TIÊU ĐIỂM
Xem nhiều nhất