1. Đặt
vấn đề
Trong Luật La Mã cổ, thuật ngữ
“Praesumptio boni viri” được hiểu là một suy đoán pháp lý “người tham
gia tố tụng được coi là trung thực cho đến khi bị chứng minh họ không
phải là người trung thực”. Suy đoán này được thừa nhận như là một nguyên
tắc của luật tố tụng dân sự trong việc xác định tư cách và quyền bình
đẳng của các đương sự, được áp dụng trong các tranh chấp để buộc các bên
phải đưa ra các chứng cứ chứng minh, chứ không chỉ đưa ra các yêu cầu
tranh chấp.
Trong tố tụng hình sự thì lại
khác. Nhà nước chiếm hữu nô lệ không thừa nhận nô lệ là chủ thể của quan
hệ pháp luật nên vấn đề lỗi của nô lệ không được xem xét đến trong các
quan hệ có liên quan đến lợi ích của nhà nước. Nhà nước phong kiến tiếp
tục kế thừa tư tưởng trên và áp dụng nguyên tắc suy đoán có lỗi. Người
bị buộc tội (người bị tạm giữ, người bị khởi tố hình sự, người bị đưa ra
xét xử) luôn bị coi là có lỗi, cho nên các biện pháp tra tấn, dùng nhục
hình là một công cụ hợp pháp để điều tra vụ án.
Nhà nước tư sản đã đưa ra nhiều tư tưởng tiến bộ về quyền con
người và quyền công dân, một trong những tư tưởng tiến bộ đó là suy đoán
không phạm tội. Nhưng tư tưởng suy đoán không phạm tội trong thời kỳ
đầu của nhà nước tư sản vẫn chưa được coi là một nguyên tắc của luật tố
tụng hình sự mà mới chỉ được thể hiện như là một lập luận để chống lại
các hình thức cưỡng chế khắc nghiệt vẫn còn tồn tại trong nhà nước tư
sản lúc đó. Như vậy, về mặt pháp lý, nguyên tắc suy đoán không phạm tội
(hay ý tưởng của nó) chỉ được ghi nhận khi Bản Tuyên ngôn nhân quyền và
dân quyền của Pháp ra đời năm 1789. Nó đã đặt một nền tảng pháp lý quan
trọng, có ảnh hưởng to lớn đến tư duy pháp lý của nhiều nước về bảo vệ
quyền con người trong tố tụng hình sự của người bị buộc tội.
Nguyên tắc suy đoán không phạm tội đến nay được thừa nhận trong
nhiều điều ước quốc tế. Tuyên ngôn nhân quyền năm 1948 của Liên hợp quốc
và Công ước quốc tế về quyền chính trị và dân sự của Liên hợp quốc năm
1966 đều khẳng định: “Bất kỳ người bị buộc tội nào đều có quyền suy đoán
là không phạm tội cho đến khi lỗi của người đó được xác định theo một
trình tự do pháp luật quy định bằng phiên tòa xét xử công khai của Tòa
án với sự bảo đảm đầy đủ khả năng bào chữa của người đó”. Đây là một
nguyên tắc rất đáng quan tâm trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam
khi chúng ta đang tiến hành xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa.
2. Các quan điểm về
nguyên tắc suy đoán không phạm tội
2.1. Quan điểm không thừa nhận
Những người theo quan điểm này
lập luận rằng, nếu không có lỗi của cá nhân cụ thể trong những sự việc
cụ thể thì không thể có điều tra và xét xử. Ở đây là suy đoán có phạm
tội, là lỗi vô điều kiện của những người bị buộc tội, vì nếu không có
lỗi thì đã không bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Nói cách khác, người
bị buộc tội bị suy đoán là có phạm tội và do vậy, luật cần quy định cho
họ có nghĩa vụ chứng minh sự không phạm tội của mình giống như các cơ
quan tiến hành tố tụng có nghĩa vụ chứng minh lỗi của người bị buộc tội.
Các cơ quan tiến hành tố tụng chỉ cần xác định sự thật khách quan của
vụ án đúng như những gì đã xảy ra trong thực tế là đủ mà không cần đến
nguyên tắc suy đoán không phạm tội. Quan điểm này đồng nhất khái niệm
người bị buộc tội với khái niệm người phạm tội, vi phạm quyền con người
trong tố tụng hình sự của người bị buộc tội nên bị phê phán gay gắt
trong khoa học pháp lý.
2.2. Quan điểm
phản đối
Câu hỏi mà những người thuộc quan điểm này đặt ra là, ai là
người được áp dụng nguyên tắc suy đoán không phạm tội? Nếu là bất kỳ
người nào thì đương nhiên phải chứng minh lỗi của người đó và chừng nào
chưa chứng minh được, chừng đó chưa thể kết luận người đó có lỗi. Còn
nếu không phải là bất kỳ người nào mà là một cá nhân cụ thể và đối với
người đó đã thu thập được những chứng cứ - cơ sở để buộc tội, thì lúc
này áp dụng nguyên tắc suy đoán không phạm tội là không hợp lý và trái
pháp luật. Bởi lẽ, khởi tố bị can lúc này đồng nghĩa với việc truy cứu
trách nhiệm hình sự của người không phạm tội hay sao? Vì vậy, quan điểm
này đồng nhất quyết định khởi tố hình sự với việc khẳng định lỗi của
người bị khởi tố hình sự, mà không nhận thấy tố tụng hình sự là một quá
trình, khởi tố hình sự là một trong những điểm khởi đầu của quá trình tố
tụng hình sự.
2.3. Quan điểm người bị
buộc tội không bị suy đoán không phạm tội cũng như không bị suy đoán có
phạm tội
Người bị buộc tội “chưa” phải là người có tội nhưng cũng không
phải là người không phạm tội. Người bị buộc tội là người trong tình
trạng trung gian giữa không phạm tội và có phạm tội. Tòa án phải tuyên
bố không phạm tội khi không chứng minh được lỗi của bị cáo không phải là
biểu hiện của nguyên tắc suy đoán không phạm tội mà là nhiệm vụ của
pháp luật tố tụng hình sự. Điều này cũng giống như không thể buộc bị cáo
phải chứng minh lỗi của mình vì luật quy định rõ ràng như vậy chứ không
phải vì nguyên tắc suy đoán không phạm tội. Về khía cạnh thực tiễn,
nguyên tắc suy đoán không phạm tội khó có thể được chấp nhận bởi lẽ đa
số các bị cáo (được áp dụng nguyên tắc suy đoán không phạm tội) vẫn bị
Tòa án tuyên bố là có phạm tội. Tỷ lệ bị cáo được Tòa án tuyên bố không
phạm tội so với tỷ lệ bị cáo bị tuyên bố là có phạm tội trong thực tiễn ở
các nước đều không đáng kể. Như vậy thì cần gì phải áp dụng nguyên tắc
suy đoán không phạm tội?
Quan
điểm này không khoa học, vì không thể lập luận chỉ bằng cách viện dẫn
luật hoặc viện dẫn thực tiễn đơn thuần. Điều cần thiết là phải giải
thích được vì sao luật lại quy định hoặc vì sao lại có thực tiễn này. Có
thể luật quy định như vậy chính từ yêu cầu của nguyên tắc suy đoán
không phạm tội; hoặc có thể thực tiễn đòi hỏi phải cần có nguyên tắc suy
đoán không phạm tội. Mặt khác, không thể có cái gọi là người bị buộc
tội là người trong tình trạng trung gian, chỉ là có phạm tội hoặc là
không phạm tội chứ không có lựa chọn thứ ba.
2.4. Quan điểm thừa nhận
Hoạt động tố tụng hình sự khác
với các hoạt động khác của con người - nơi mà hoạt động nhận thức có thể
kết thúc bằng một kết quả nhận thức mới hoặc có thể chưa đem lại kết
quả gì. Hoạt động tố tụng hình sự không thể kết thúc mà không có kết quả
pháp lý cụ thể. Cơ quan tiến hành tố tụng hình sự không thể kết thúc
hoạt động tố tụng mà vấn đề có phạm tội hay không phạm tội của người bị
buộc tội vẫn chưa có kết luận và không thể nói rằng: “chúng tôi không
thể chứng minh được lỗi của người bị buộc tội nhưng chúng tôi lại không
thể tin là người bị buộc tội là không có tội”. Nhiệm vụ của tố tụng hình
sự là khi kết thúc hoạt động tố tụng phải xác định rõ ràng hoặc người
bị buộc tội là người có phạm tội hoặc là người bị buộc tội không phạm
tội (trừ trường hợp đình chỉ vụ án). Như vậy, các cơ quan tiến hành tố
tụng phải xuất phát từ chỗ hoặc là người bị buộc tội được áp dụng nguyên
tắc suy đoán không phạm tội cho đến khi chứng minh được có phạm tội
hoặc là người bị buộc tội bị áp dụng nguyên tắc suy đoán có phạm tội cho
đến khi chứng minh được là không phạm tội. Lịch sử phát triển của tố
tụng hình sự trên thế giới đã không chấp nhận nguyên tắc suy đoán có
phạm tội và đã phát triển theo hướng nhân đạo và ghi nhận nguyên tắc suy
đoán không phạm tội.
Nhà nước ta cũng đã tiếp
thu tư tưởng tiến bộ của nguyên tắc suy đoán không phạm tội và ghi nhận
nguyên tắc này như là một trong những nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình
sự. Tuy tên gọi chưa được trực diện, nhưng nội dung của nó cũng đã phán
ảnh được tinh thần của nguyên tắc suy đoán không phạm tội, đó là:
“không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết
tội của tòa án đã có hiệu lực pháp luật”. Nguyên tắc này được quy định
tại Điều 72 của Hiến pháp năm 1992 và tiếp tục được ghi nhận tại Điều 9
của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 (BLTTHS). Đây là nét son trong lĩnh
vực bảo vệ quyền con người ở Việt Nam. Tuy nhiên, cách diễn đạt trên
chưa thật sự lột tả được bản chất của nguyên tắc suy đoán không phạm
tội. Nó chưa chỉ ra được ai là người được áp dụng nguyên tắc suy đoán
không phạm tội. Điều đó cho thấy, lý luận khoa học tố tụng hình sự của
nước ta đã có bước tiến đáng kể, nhưng nghiên cứu về nguyên tắc suy đoán
không phạm tội còn khiêm tốn.
Là nguyên tắc
hiến định, nguyên tắc suy đoán không phạm tội có ý nghĩa vô cùng quan
trọng trong khoa học tố tụng hình sự. Đối với hoạt động xét xử không có
kim chỉ nam nào tin cậy hơn ngoài việc thừa nhận không điều kiện và hiểu
một cách đúng đắn nguyên tắc suy đoán không phạm tội, một nền tảng của
hoạt động tố tụng hình sự. Bởi lẽ, nguyên tắc này quyết định và chi phối
toàn bộ tính chất hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự.
Tính hiện thực và nhân đạo của nguyên tắc này là nó phản ánh được giá
trị và địa vị của con người trong xã hội công dân.
3. Bản chất của nguyên tắc suy đoán không phạm tội
3.1. Người bị buộc tội được suy đoán không phạm tội cho đến khi
có bản án kết tội có hiệu lực của Tòa án
Người bị buộc tội là người không
phạm tội được coi là chân lý cho đến khi có bản án kết tội của Tòa án
có hiệu lực pháp luật. Chừng nào chưa có bản án kết tội của Tòa án có
hiệu lực pháp luật thì chừng đó, người bị buộc tội vẫn là người không
phạm tội và luôn được thừa nhận là đúng.
Điều 9 của BLTTHS
sử dụng chủ từ vô nhân xưng “không ai” tức là bất kỳ người nào cũng là
chủ thể được suy đoán không phạm tội. Cách sử dụng này chưa lột tả hết
bản chất của nguyên tắc suy đoán không phạm tội và không khẳng định được
ai được suy đoán là không phạm tội? Người nào cần đến suy đoán không
phạm tội? Đương nhiên là và chỉ là những người bị buộc tội, còn người
không bị buộc tội thì họ không cần đến sự suy đoán không phạm tội. Bất
kỳ ai bị buộc tội đều được suy đoán là không phạm tội. Như vậy, người bị
tạm giữ là chủ thể đầu tiên được suy đoán không phạm tội vì họ mới là
người bị tình nghi phạm tội, đương nhiên suy đoán không phạm tội cũng
được áp dụng với người bị khởi tố hình sự, người bị đưa ra xét xử chưa
có bản án kết tội của tòa án đã có hiệu lực pháp luật.
Phải khẳng định rằng, người bị buộc tội không đồng nghĩa với
người phạm tội. Người bị buộc tội mới chỉ là người bị tình nghi về việc
thực hiện những hành vi có dấu hiệu của tội phạm. Trách nhiệm hình sự
chỉ bắt đầu khi bản án kết tội bị cáo có hiệu lực pháp luật chứ không
phải từ thời điểm có quyết định tạm giữ. Người bị buộc tội không phải là
người phạm tội và đây là tình trạng pháp lý khách quan của họ, do vậy
đòi hỏi các cơ quan tiến hành tố tụng, xã hội và mọi người phải nhìn
nhận và đối xử với họ như là người không phạm tội. Đây là nghĩa vụ pháp
lý, trừ một số hạn chế nhất định mà pháp luật cho phép áp dụng với những
người này như các biện pháp ngăn chặn, còn các quyền, lợi ích hợp pháp
khác của họ vẫn phải được pháp luật tôn trọng và bảo vệ. Dù rằng tâm lý
đời thường điều này có thể khó thuyết phục, ví dụ như người cướp giật bị
bắt quả tang, với đầy đủ chứng cứ mà vẫn không bị coi là có tội? Nhưng
suy đoán không phạm tội là tình trạng pháp lý khách quan của người bị
buộc tội dựa trên các quy định của pháp luật. Vì vậy, nó có tính bắt
buộc phải tuân thủ đối với tất cả mọi người, kể các cơ quan tiến hành tố
tụng, những người tiến hành tố tụng. Pháp luật nghiêm cấm đối xử với
người bị buộc tội như là người phạm tội khi mà chưa có bản án của tòa án
kết tội người đó đã có hiệu lực pháp luật. Tình trạng này không phụ
thuộc vào ý chí chủ quan của các cơ quan tiến hành tố tụng và không cản
trở hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc thu thập
chứng cứ để chứng minh tội phạm và người phạm tội. Các cơ quan tiến hành
tố tụng có quyền có chính kiến của mình về lỗi của người bị buộc tội,
nhưng phải thể hiện chính kiến của mình trong nguyên tắc suy đoán không
phạm tội. Suy đoán không phạm tội được thừa nhận cho đến khi có bản án
kết tội của tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Nói cách khác, chỉ có tòa
án mới có quyền tuyên bố một người là người có phạm tội. Đây là một
trong những bảo đảm quan trọng đối với quyền con người của người bị buộc
tội. Bởi lẽ, Tòa án thực hiện chức năng xét xử
với những nguyên tắc dân chủ, công khai tại phiên tòa theo trình tự tố
tụng chặt chẽ được pháp luật quy định. Việc truy cứu trách nhiệm hình sự
và kết tội người nào đó phải tuân thủ các quy định của pháp luật trong
đó bao hàm cả những bảo đảm pháp lý để sao cho trách nhiệm hình sự được
áp dụng với người phạm tội đích thực và phù hợp với mức độ lỗi của người
đó. Suy đoán không phạm tội có nghĩa là lỗi của người bị buộc tội phải
được chứng minh một cách thuyết phục tại phiên tòa. Việc nghi ngờ người
phạm tội là chưa đủ, việc khởi tố hình sự với người đó cũng chưa đủ.
Chừng nào những chứng cứ buộc tội đối với người bị buộc tội chưa được
chứng minh trước phiên tòa và chưa được hội đồng xét xử thừa nhận thì
chừng đó, người bị buộc tội vẫn là người không phạm tội.
Nguyên tắc suy đoán không phạm tội là nền tảng cho những bảo đảm
pháp lý về quyền bào chữa của người bị buộc tội. Nói cách khác, nguyên
tắc suy đoán không phạm tội có mối quan hệ qua lại mật thiết với quyền
bào chữa của người bị buộc tội. Quyền bào chữa của người bị buộc tội chỉ
có thể được thực hiện một cách đầy đủ và hiện thực nếu tuân thủ nguyên
tắc suy đoán không phạm tội. Vi phạm quyền bào chữa của người bị buộc
tội luôn luôn là vi phạm nguyên tắc suy đoán không phạm tội ở trong
chừng mực nhất định. Và ngược lại, vi phạm nguyên tắc suy đoán không
phạm tội tất yếu dẫn đến vi phạm quyền bào chữa của người bị buộc tội.
Nguyên tắc suy đoán không phạm tội có tác dụng định hướng cho
những người tham gia tố tụng trong quan hệ với người bị buộc tội. Nguyên
tắc này loại trừ định kiến, kết tội một chiều trong quá trình điều tra,
truy tố, xét xử. Dù chứng cứ thu thập trong vụ án đến đâu, dù niềm tin
nội tâm của những người tiến hành tố tụng về lỗi của người bị buộc tội
thế nào thì họ vẫn phải có nghĩa vụ làm sáng tỏ các tình tiết, sự kiện
của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ. Nguyên tắc này thể
hiện thái độ trân trọng tới số phận con người, hạn chế những sai lầm
trong hoạt động tư pháp, làm oan người không phạm tội.
Cơ quan thông tin đại chúng có quyền đưa tin về các vụ án. Đó
chính là các cơ quan có thể giúp cho nguyên tắc xét xử công khai và tác
dụng tuyên truyền pháp luật của Tòa án vượt xa không gian chật hẹp của
phòng xử án. Cơ quan thông tin đại chúng không chỉ làm dư luận xã hội
chú ý về những vấn đề nội dung của vụ án mà còn chú ý cả những khía cạnh
khác của hoạt động tố tụng như những khiếm khuyết, sai phạm, văn hóa
ứng xử, sự thiếu khách quan của những người tiến hành tố tụng. Khi thông
tin của cơ quan thông tin đại chúng là xác thực thì những trường hợp
trên có tác dụng tích cực trong việc tuân thủ pháp chế, nâng cao vai
trò, trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng. Nhưng thực tế cho thấy,
có những trường hợp vụ án mới trong giai đoạn điều tra, truy tố và đang
xét xử thì cơ quan thông tin đại chúng đã đăng những bài viết mà trong
đó người bị buộc tội được mô tả, bị miệt thị là “hắn”, “y”, “thị”, “kẻ”,
“tội phạm nguy hiểm” hoặc “đồng bọn”… phải đền tội bằng những hình phạt
nghiêm khắc nhất. Điều muốn nói ở đây là, khi vụ án đang ở trong giai
đoạn điều tra, truy tố hoặc đang xét xử, chưa có bản án có hiệu lực pháp
luật, thì người bị buộc tội vẫn là người không phạm tội mà cơ quan
thông tin đại chúng đã tuyên bản án kết tội đối với người bị buộc tội.
Hội đồng xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, bản án, quyết định
của hội đồng xét xử phải dựa vào các chứng cứ được xem xét công khai tại
phiên tòa, không bị ràng buộc bởi bất kỳ ý kiến đánh giá về chứng cứ,
về tình tiết, sự kiện trong vụ án của bất kỳ ai. Nhưng hội đồng xét xử
bao gồm những con người và họ có thể phải chịu tác động tâm lý từ cơ
quan thông tin đại chúng khi nghị án. Không loại trừ khả năng trong số
những người đọc báo, xem truyền hình, nghe đài có thể có những người
tham gia phiên tòa với tư cách người bị hại, người làm chứng, người giám
định hay người phiên dịch. Liệu có gì bảo đảm rằng những lời khai của
họ hoàn toàn không bị ảnh hưởng chi phối của những thông tin về vụ án mà
họ biết được qua các phương tiện thông tin đại chúng? Và như vậy, quá
trình làm sáng tỏ sự thật của vụ án sẽ trở nên khó khăn hơn. Nhưng vấn
đề cần đặt ra ở đây là, nếu bản án của hội đồng xét xử có những nội dung
giống như cơ quan thông tin đại chúng đã khẳng định, thì trong nhận
thức của công chúng, cơ quan thông tin đại chúng là người xử án, còn hội
đồng xét xử là người chạy theo cơ quan thông tin đại chúng hoặc hội
đồng xét xử đã chịu sự tác động của cơ quan thông tin đại chúng khi thực
hiện chức năng xét xử.
Nguyên tắc suy đoán không
phạm tội là nguyên tắc hiến định không ai được vi phạm, kể cả cơ quan
thông tin đại chúng. Thực tiễn cho thấy, đã có cơ quan thông tin đại
chúng và tác giả bài báo bị Tòa án buộc phải xin lỗi và bồi thường cho
người bị báo gọi là “tên tội phạm” trước khi có bản án kết tội của Tòa
án. Một vấn đề nữa là, cơ quan thông tin đại chúng có quyền chụp hình
người bị buộc tội tại phiên tòa và đăng hình hay không?
Quan điểm thứ nhất phản đối việc
chụp và đăng hình người bị buộc tội nếu không có sự đồng ý của người bị
buộc tội. Ý kiến này còn cho rằng, ở khía cạnh đạo đức không nên bắt
người bị buộc tội phải chịu thêm hình phạt của dư luận bên cạnh hình
phạt của nhà nước.
Quan điểm thứ hai cho rằng cơ quan thông tin đại chúng có quyền chụp và đăng
hình người bị buộc tội vì mục đích là lên án, trừng trị và phòng ngừa
chung.
Quan điểm thứ ba lại trung dung, vừa cho phép, vừa không cho phép việc chụp và
đăng hình người bị buộc tội. Việc chụp hình và đăng hình phải có giới
hạn, khi nào được và khi nào không phải rõ ràng.
Theo bản chất của nguyên tắc suy đoán không phạm tội, chúng tôi
cho rằng, quan điểm thứ nhất là quan điểm hợp lý. Bởi, người bị buộc tội
dù đang đứng trước hội đồng xét xử vẫn là người không phạm tội, cho nên
các quyền về nhân thân, trong đó có quyền của cá nhân đối với hình ảnh
của họ vẫn phải được pháp luật tôn trong và bảo vệ.
3.2. Nguyên tắc suy đoán không phạm tội và nghĩa vụ chứng minh
Theo nguyên tắc xác định sự thật
của vụ án, nghĩa vụ chứng minh lỗi của người bị buộc tội là nghĩa vụ
của các cơ quan tiến hành tố tụng, người bị buộc tội không có nghĩa vụ
chứng minh sự không phạm tội của mình mà đó lại là quyền của người bị
buộc tội.
Trường phái lôgic hình thức cho
rằng, người buộc tội có nghĩa vụ chứng minh và bảo vệ lời buộc tội của
mình, còn người bị buộc tội thì đưa ra lời bào chữa và bảo vệ sự không
phạm tội của mình, nhưng cũng có nghĩa vụ chứng minh cho sự không phạm
tội đó.
Còn theo trường phái “cùng chứng
minh” thì người bị buộc tội cũng phải có nghĩa vụ chứng minh. Nếu không
thừa nhận việc cùng có nghĩa vụ chứng minh thì có thể làm lọt tội phạm.
Trường phái này được áp dụng phổ biến trong thời phong kiến. Người bị
buộc tội cũng phải có nghĩa vụ chứng minh sẽ dẫn tới hệ quả trường hợp
người bị buộc tội không chứng minh được sự không phạm tội của mình sẽ bị
coi là có phạm tội mà không cần có những chứng cứ nào khác.
Trường phái “ai đưa ra lời buộc tội, người đó phải chứng minh là
có phạm tội” thì theo luật La Mã cổ đại, “chứng minh là nghĩa vụ của
người khẳng định chứ không phải nghĩa vụ của người phủ nhận”. Tư tưởng
này lúc đầu chỉ áp dụng trong pháp luật tố tụng dân sự, sau đó dần dần
được áp dụng trong pháp luật tố tụng hình sự. Nhiều nước trên thế giới
quan niệm vụ án hình sự cũng là “vụ kiện”- xung đột lợi ích pháp lý giữa
một bên là nhà nước (người buộc tội) và một bên là người bị buộc tội.
Từ đó hình thành trường phái “ai đưa ra lời buộc tội, người đó phải
chứng minh là có phạm tội”. Theo trường phái này, người bị buộc tội
không có nghĩa vụ chứng minh sự không phạm tội của mình mà đó là quyền
của họ vì người bị buộc tội luôn được suy đoán không phạm tội.
BLTTHS nước ta đã tiếp thu tư tưởng tiến
bộ này, nhưng lại coi đó là nội dung của nguyên tắc xác định sự thật của
vụ án chứ không phải là nội dung của nguyên tắc suy đoán không phạm
tội. Chúng tôi cho rằng điều đó là không hợp lý, bởi vì nội dung của
nguyên tắc xác định sự thật của vụ án không liên quan đến việc phân định
nghĩa vụ chứng minh của các chủ thể trong quan hệ pháp luật tố tụng
hình sự. Như vậy, cần quy định về trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố
tụng phải chứng minh lỗi của người bị buộc tội và người bị buộc tội có
quyền chứng minh mình không phạm tội là nội dung của nguyên tắc suy đoán
không phạm tội:
- Trường hợp người bị buộc tội
không đưa ra chứng cứ, không trả lời câu hỏi của bên buộc tội thì không
có nghĩa là họ đã thừa nhận có phạm tội. Tham gia chứng minh không phạm
tội là quyền của người bị buộc tội, nên sử dụng quyền này hay không, họ
toàn quyền quyết định. Cho nên, người bị buộc tội có thể từ chối khai
báo, từ chối tham gia vào các hoạt động điều tra nào đó hoặc có thể đưa
ra chứng cứ. Không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ quyền của mình
không thể nhìn nhận như sự kiện làm phát sinh hậu quả pháp lý bất lợi
cho người bị buộc tội. Vì vậy, một kết luận quan trọng được rút ra từ
nguyên tắc suy đoán không phạm tội là: “khi không chứng minh được sự
không phạm tội của người bị buộc tội không có nghĩa là việc phạm tội của
người bị buộc tội đã được chứng minh”.
- Trường hợp
người bị buộc tội trình bày lời khai gian dối thì khác với người làm
chứng, người bị buộc tội không phải chịu trách nhiệm hình sự về lời khai
gian dối của mình và luật cũng không quy định tình tiết này là tình
tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với người bị buộc tội.
- Trường hợp người bị buộc tội nhận tội.
Khi vụ án không có người làm chứng thì tình tiết vụ án xảy ra như thế
nào chỉ có người bị buộc tội biết rõ. Do vậy, lời nhận tội của người bị
buộc tội là nguồn chứng cứ vô cùng quan trọng trong việc giải quyết vụ
án. Có lập luận cho rằng, nếu là người bình thường, người bị buộc tội có
bao giờ tự nhận tội để phải chịu hình phạt khi mình không phạm tội hay
không? Từ lập luận này đã hình thành tư duy pháp lý cho rằng lời nhận
tội của người bị buộc tội là lời khai xác thực đáng tin cậy nhất. Luật
Tố tụng hình sự của một số nước đề cao giá trị lời nhận tội của người bị
buộc tội và coi đó như là chứng cứ vua. Khi người bị buộc tội
nhận tội tại phiên tòa thì ngừng tranh luận, đoàn bồi thẩm ngừng hoạt
động và hội đồng xét xử chuyển sang phần nghị án ngay. Quan điểm này là
không khoa học vì thực tiễn cho thấy, có những trường hợp người bị buộc
tội hoàn toàn ý thức về những hậu quả bất lợi đối với mình khi nhận tội,
nhưng vẫn nhận tội mặc dù không phạm tội với nhiều mục đích khác nhau,
như nhận tội thay cho người thân, nhận một tội nhẹ hơn để lẩn tránh việc
phát hiện một tội khác nặng hơn. Hoặc có thể do sự trùng hợp ngẫu
nhiên, người bị buộc tội nhận tội vì nghĩ rằng mình phạm tội để mong
được hưởng tình tiết giảm nhẹ trong khi người bị buộc tội lại là người
hoàn toàn không phạm tội.
Theo BLTTHS, mọi chứng cứ đều có giá trị chứng minh như nhau,
không có chứng cứ nào được xác định là có giá trị chứng minh cao hơn các
chứng cứ khác. Như vậy, khi người bị buộc tội nhận tội tại phiên tòa
thì hội đồng xét xử vẫn tiếp tục xét hỏi bình thường và kiểm tra lời
khai nhận tội của người bị buộc tội với các chứng cứ khác cho tới khi
mọi tình tiết của vụ án được sáng tỏ. Có nghĩa là lúc này nội dung của
nguyên tắc suy đoán không phạm tội vẫn có hiệu lực khi người bị buộc tội
nhận tội. Người bị buộc tội nhận tội không làm chấm dứt nghĩa vụ chứng
minh của bên buộc tội và sự đánh giá chứng cứ của hội đồng xét xử. Sự
kiện này có thể chỉ làm cho nghĩa vụ chứng minh của bên buộc tội được
thực hiện dễ dàng hơn, lời nhận tội của người bị buộc tội chỉ có thể
được coi là chứng cứ nếu phù hợp với các chứng cứ khác của vụ án. Không
được dùng lời nhận tội của người bị buộc tội làm chứng cứ duy nhất để
kết tội.
- BLTTHS quy định trước khi mở
phiên tòa, thẩm phán được phân công thụ lý vụ án trả lại hồ sơ để điều
tra bổ sung khi thấy cần phải xem xét thêm những chứng cứ quan trọng đối
với vụ án mà không thể bổ sung tại phiên tòa được (Điều 179). Tại phiên
tòa, hội đồng xét xử cũng có quyền yêu cầu điều tra bổ sung bằng cách
trả lại hồ sơ về cho Viện kiểm sát (Điều 199). Về lý luận, những quy
định này đã làm cho Tòa án chưa thực sự là cơ quan thực hiện chức năng
duy nhất là xét xử. Tòa án đã làm thay công việc của bên buộc tội, làm
mất tính khách quan, vô tư, trọng tài trong hoạt động xét xử. Viện kiểm
sát là cơ quan buộc tội có trách nhiệm thu thập, đưa ra chứng cứ làm cơ
sở cho việc bảo vệ quyết định truy tố của mình. Quyết định đó cần có
những chứng cứ gì, đã chứng minh được lỗi của người bị buộc tội hay
chưa? nếu chứng cứ không đầy đủ có nghĩa là bên buộc tội chưa chứng minh
được lỗi của người bị buộc tội, không chứng minh được lỗi của người bị
buộc tội thì phải xem là đã chứng minh được sự không phạm tội của người
bị buộc tội. Tòa án phải tuyên bố người bị buộc tội không phạm tội. Tuy
nhiên, trong thực tiễn yêu cầu này không phải lúc nào cũng được tuân
thủ.
Vậy, Tòa án có nghĩa vụ chứng
minh lỗi của người bị buộc tội hay không? Có quan điểm cho rằng căn cứ
vào Điều 10 của BLTTHS về xác định sự thật của vụ án thì Tòa án cũng có
nghĩa vụ chứng minh lỗi của người bị buộc tội. Theo chúng tôi, Tòa án
không có nghĩa vụ chứng minh lỗi của người bị buộc tội mà đó chỉ là
quyền của Tòa án khi thấy cần thiết. Bởi vì, tuy Tòa án cũng là cơ quan
tiến hành tố tụng nhưng không phải là cơ quan thực hiện chức năng buộc
tội, Tòa án chỉ thực hiện chức năng duy nhất là xét xử. Xét xử - trọng
tài là phải xác định được có hay không có các hành vi, tình tiết, sự
kiện của vụ án mà bên buộc tội và bên bị buộc tội đưa ra. Sau đó đánh
giá về các chứng cứ, hành vi, tình tiết, sự kiện đó có những dấu hiệu
đặc trưng của tội nào được quy định trong Bộ luật Hình sự. Tòa án chỉ có
nghĩa vụ chứng minh và trả lời cho các nội dung trong bản án và quyết
định của mình. Ví dụ, khi Tòa án ra bản án tuyên bố người bị buộc tội
phạm tội thì Tòa án phải lập luận, chứng minh, viện dẫn trong bản án vì
sao Tòa án chấp nhận lời buộc tội là có căn cứ và tuyên bố người bị buộc
tội phạm tội. Ngược lại, khi Tòa án ra bản án tuyên bố người bị buộc
tội không phạm tội thì Tòa án cũng phải lập luận, chứng minh, viện dẫn
trong bản án vì sao Tòa án đã không chấp nhận lời buộc tội mà chấp nhận
lời bào chữa.
3.3. Mọi hoài nghi về
người bị buộc tội phải được giải thích theo hướng có lợi cho người bị
buộc tội
Hoài nghi là trạng thái cảm giác thiếu tự
tin, nhận thức chưa đầy đủ, không khẳng định được sự thật hay không sự
thật của một giả thiết nào đó. Nguồn gốc nhận thức của trạng thái hoài
nghi là sự phản ánh không đầy đủ các tình tiết, khía cạnh, các mối liên
hệ cần thiết để có được tri thức toàn diện, bản chất về sự vật, hiện
tượng.
Trong
hoạt động nhận thức, trạng thái hoài nghi có hai tác dụng. Một là, nó
buộc chủ thể hoạt động nhận thức phải thận trọng với những kết luận khi
mà các thông tin chưa xác thực và đầy đủ. Hai là, nó là động lực cho
hoạt động nhận thức tiếp theo để bổ sung những thông tin còn thiếu, để
có tri thức đầy đủ và xác thực hơn về sự vật, hiện tượng.
Trong thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử
cũng xảy ra những tình huống khi những thông tin, chứng cứ về các hành
vi, sự kiện, tình tiết cụ thể của vụ án liên quan đến xác định lỗi của
người bị buộc tội có những mâu thuẫn nên không thể khẳng định được một
cách dứt khoát có hay không có hành vi, tình tiết, sự kiện đó.
Có trường hợp bên buộc tội cho rằng người
bị buộc tội là có phạm tội, còn người bị buộc tội lại phủ nhận lời buộc
tội đó. Những chứng cứ thu thập được trong vụ án không đủ để khẳng định
bên buộc tội là đúng và cũng không đủ để bác bỏ hoàn toàn lời phủ nhận
của người bị buộc tội. Nếu mọi hoài nghi về lỗi của người bị buộc tội
được giải thích về phía có lợi cho bên buộc tội thì từ suy đoán không
phạm tội sẽ trở thành suy đoán có phạm tội. Có nghĩa là người bị buộc
tội bị kết tội thì việc xét xử có khi không đúng người, mục đích của
hình phạt cũng không đạt được, vì người phạm tội đích thực phải bị trừng
phạt chứ không phải người không phạm tội. Xuất phát từ nguyên tắc suy
đoán không phạm tội, mọi hoài nghi về lỗi của người bị buộc tội phải
được giải thích theo hướng có lợi cho người bị buộc tội như là một bảo
đảm quyền con người của người bị buộc tội, đồng thời đó là trách nhiệm
của các cơ quan tiến hành tố tụng phải xác định được sự thật khách quan
của vụ án.
4. Kết
luận
Dưới góc độ bảo vệ quyền con
người trong tố tụng hình sự của người bị buộc tội, căn cứ vào địa vị
pháp lý đặc thù của những người bị buộc tội là người tham gia tố tụng
hình sự “yếu thế” hơn cả, bị mất đi một số quyền mà pháp luật quy định,
lại phải đối trọng với các cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện chức năng
buộc tội là Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát. Họ phải đối mặt với cả bộ
máy cơ quan nhà nước hoạt động có tính chuyên nghiệp, với đội ngũ Điều
tra viên, Kiểm sát viên được đào tạo bài bản, được nhà nước trả lương và
cung cấp trang thiết bị làm việc cần thiết. Họ cũng có thể bị áp dụng
một số biện pháp cưỡng chế và hoàn toàn không có khả năng bình đẳng với
các bên buộc tội trong hoạt động chứng minh ở giai đoạn điều tra (thu
thập, cung cấp chứng cứ). Vì vậy, những người bị buộc tội là những người
có khả năng bị tổn thương các quyền con người trong tố tụng hình sự
nhất khi tham gia tố tụng hình sự. Do vậy, bảo vệ các quyền con người
trong tố tụng hình sự của những người bị buộc tội là đối tượng trọng tâm
của việc bảo vệ quyền con người trong tố tụng hình sự. Để có thể hoàn
thiện các quy định về nguyên tắc suy đoán không phạm tội, chúng tôi đề
nghị cần sửa đổi, bổ sung một số điều trong BLTTHS như sau:
Sửa đổi, bổ sung Điều 9 của BLTTHS
Thứ nhất, sửa tên điều luật “Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình
phạt khi chưa có bản án kết tội của tòa án đã có hiệu lực pháp luật”
thành “nguyên tắc suy đoán không phạm tội”.
Thứ hai, sửa đổi nội dung điều luật “Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có
bản án kết tội của tòa án đã có hiệu lực pháp luật” thành “Người bị buộc
tội (người bị tam giữ, người bị khởi tố hình sự, người bị đưa ra xét
xử) được coi là không có tội và không phải chịu hình phạt cho đến khi có
bản án kết tội có hiệu lực pháp luật của Tòa án”.
Bổ sung vào điều này nội dung: “Trách
nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan tiến hành tố tụng. Người bị
buộc tội có quyền chứng minh là mình không phạm tội.
Mọi hoài
nghi về lỗi của người bị buộc tội mà không thể làm rõ được trong vụ án
phải được giải thích về phía có lợi cho người bị buộc tội”.
Sửa
đổi Khoản 1, Điều 179 của BLTTHS
Sửa
đổi điều khoản này theo hướng chỉ cho phép Thẩm phán được phân công thụ
lý vụ án trả lại hồ sơ vụ án khi Viện kiểm sát có yêu cầu để điều tra
bổ sung trước khi mở phiên tòa. Thẩm phán được phân công thụ lý vụ án
không được quyết định trước về việc đánh giá chứng cứ của vụ án có đủ
hay không, vì sẽ không khách quan. Vấn đề xác định có hay không có các
hành vi, tình tiết, sự kiện của vụ án là thuộc về phần nghị án của hội
đồng xét xử và được tuyên bố, quyết định trong bản án.
Sửa đổi Điều 199 của BLTTHS
Sửa đổi điều này theo hướng không cho phép Hội đồng xét xử có
quyền trả hồ sơ để điều tra bổ sung khi không đủ chứng cứ buộc tội và
không thể bổ sung chứng cứ tại phiên tòa được. Bởi vì, theo quy định của
pháp luật, phiên tòa phải liên tục và khi kết thúc phiên tòa, hội đồng
xét xử phải ra được bản án để quyết định tuyên bố người bị buộc tội có
phạm tội hay không phạm tội, chứ không thể có một quyết định nào khác.
Tóm lại, việc quy định nguyên tắc suy đoán không
phạm tội trong BLTTHS không làm cản trở hoạt động tố tụng hình sự của
các cơ quan tiến hành tố tụng trong lĩnh vực phòng, chống tội phạm,
không là cơ sở để làm lọt tội phạm. Quy định nguyên tắc suy đoán không
phạm tội sẽ làm tăng giá trị con người trong xã hội, làm tăng vai trò,
trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng cũng như những người tiến
hành tố tụng, hạn chế tối đa các trường hợp oan, sai; tôn trọng công
dân, hướng tới xây dựng một nhà nước pháp quyền, nhân đạo, văn hóa, văn
minh và vì con người.
TS. Nguyễn Quang Hiền -
Tòa án nhân dân TP. Hồ Chí Minh
Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu lập pháp điện tử