Bảo vệ quyền con người trong Tố tụng Hình sự
17:3' 11/9/2010

Chúng ta đang xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân. Một nhà nước mà ở đó, quyền con người được tôn trọng và bảo vệ không chỉ dừng lại ở các tuyên bố chính trị, ghi nhận trong Hiến pháp, pháp luật mà còn được bảo vệ trong thực tế. Quyền con người là một giá trị thiêng liêng bất khả tước đoạt. Nó hiện hữu trong nhiều lĩnh vực của đời sống trong đó có lĩnh vực tố tụng hình sự. Không phổ biến, không rộng lớn, không diễn ra hàng ngày hàng giờ như các lĩnh vực hành chính, kinh tế, môi trường…., nhưng  có thể nói, quyền con người trong tố tụng hình sự lại quyền dễ bị xâm phạm và bị tổn thương nhất và hậu quả để lại cũng nghiêm trọng nhất khi nó động chạm đến quyền được sống, quyền tự do và sinh mệnh chính trị của một cá nhân. Bởi lẽ, tố tụng hình sự  với tư cách là quá trình nhà nước đưa một người ra xử lý trước pháp luật khi họ bị coi là tội phạm luôn thể hiện đậm đặc tính quyền lực nhà nước với sức mạnh cưỡng chế nhà nước, với sự thiếu quân bình về thế và lực của các bên tham gia qua hệ TTHS mà sự yếu thế luôn thuộc về những người bị buộc tội. Chính vì vậy, hoạt động tố tụng hình sự, trong bất cứ  nhà nước nào đều được xếp vào “nhóm nguy cơ cao”  khi người ta nói đến vấn đề bảo vệ quyền con người.



Nghiên cứu vấn đề bảo vệ quyền con người trong tố tụng hình sự phải giải quyết một khối lượng công việc khổng lồ. Trong phạm vi tham luận này, chúng tôi chỉ đề cập trực tiếp tới vấn đề này dưới góc độ TTHS bằng việc làm rõ một số vấn đề cơ bản sau:

-         Quyền con người cần được trong lĩnh vực tố tụng hình sự là những quyền nào?

-         Bảo vệ quyền con người trong TTHS là bảo vệ những ai?

-         Bảo vệ quyền con người trong TTHS ở Việt Nam phải tiếp tục giải quyết vấn đề gì trên cả 3 phương diện: lý luận, lập pháp và thực tiễn

Quyền con người trong tố tụng hình sự-  Từ luật quốc tế đến luật Việt Nam

Phát hiện, xử lý tội phạm là công việc của bất kỳ nhà nước nào nhằm bảo vệ lợi ích của nhà nước, của xã hội, của cá nhân trong xã hội đó. Tuy nhiên, con người khi sinh ra ai cũng có quyền sống trong môi trường an toàn trong đó có sự an toàn về pháp lý. Sẽ là một xã hội bất công và quyền con người bị xâm phạm nếu dân chúng luôn cảm thấy bất an bởi cảm giác có thể bị đưa vào vòng quay của TTHHS với tư cách người bị tình nghi, bị can, bị cáo bất cứ lúc nào. Vừa đảm bảo việc phát hiện xử lý tội phạm, vừa phải đảm bảo không xâm phạm quyền con người là một mâu thuẫn mà giải quyết hài hòa mâu thuẫn này đó chính là biểu hiện của một kiểu tố tụng hình sự trong một nhà nước văn minh. Công việc đầu tiên ở đấu cũng đòi hỏi và nhà nước nào cũng có nhiệm vụ phải làm là: Ghi nhận cụ thể những quyền con người nào trong hệ thống pháp luật TTHS của mình. Việc ghi nhận này không phải là sự ban phát từ phía nhà nước mà bắt nguồn từ nhiều yếu tố trong đó có việc thừa nhận những giá trị cao quý nhân loại đã thừa nhận chung. Những giá trị đó là kết quả của cuộc đấu tranh lâu dài, gian khổ, không ngừng nghỉ nghỉ của loài người mới đạt được. Từ chỗ quyền con người trong đó có tính mạng, sức khỏe phẩm giá của con người  bị chà đạp trong các phiên tòa man rợ, phi nhân tính thời trung cổ, phong kiến, phiên tòa “giàn thiêu” giáo hội… cho đến kiểu tố tụng văn minh, nhân đạo trong nhà nước pháp quyền chứng minh thuyết phục cho giá trị của quyền con người trong TTHS. Chúng ta  có thể tìm thấy trong các văn kiện Quốc tế về quyền con người trong TTHS như Tuyên ngôn nhân quyền thế giới năm 1948 (UHDR); Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị năm 1966 (ICCPR),; Những nguyên tắc cơ bản trong việc đối xử với tù nhân; Công ước chống tra tấn, đối xử vô nhân đạo và hạ nhục con người năm 1985….

Nghiên cứu các văn bản này đưa đến một khẳng định quyền con người trong TTHS chẳng qua là sự cụ thể quyền được sống, quyền được tự do, trong lĩnh vực TTHS.  Đây được coi là tiêu chuẩn về nhân quyền trong TTHS. Theo đó, quyền con người trong TTHS bao gồm những quyền sau (Điều 10, 11 UHDR, Điều 14, 15 và 11 ICCPR).

-         Quyền được xét xử công bằng bởi một thủ tục TTHS và tòa án công bằng, công khai

-         Quyền bất khả xâm phạm về tính mạng, sức khỏe, danh dự , nhân phâm và quyền tự do cá nhân khác. Mọi trường hợp áp dụng các biện pháp cưỡng  chế TTHS phải tên cơ sở luật định

-         Quyền được suy đoán vô tội

-         Quyền được bào chữa và biện hộ, quyền không bị xét xử quá mức chạm trễ.

-         Người chưa thành niên phải được áp dụng thủ tục TTHS đặc biệt

-         Quyền kháng cáo bản án để xét xử phúc thẩm, quyền được nhanh chóng minh oan. Quyền không bị kết tội hai lần về cùng 1 hành vi….

-         Các quyền con người trong thi hành án hình sự và sau xét xử..

Những quyền trên là những quyền của người bị buộc tội- đối tượng quan trọng nhất cần bảo vệ trong TTHS. Tuy nhiên, tham gia vào quá trình TTHS không chỉ có những người bị buộc tội mà còn nhiều người khác mà lâu nay khi nghiên cứu về quyền con người trong TTHS, chúng ta hay ít chú ý đó là quyền của nạn nhân của tội phạm (người bị hại), quyền của người làm chứngvà những người liên quan khác, quyền con người của những người tiến hành tố tụng như điều tra viên, công tố viên và thẩm phán. Những người này họ cũng có quyền con người của họ như quyền bất khả xâm phạm về tính mạng, danh dự, nhân phẩm, quyền được bảo vệ các quyền chính trị, dân sự, kinh tế của mình bằng con đường TTHS.

Cho đến nay, Việt Nam chúng ta đã tham gia phần lớn và cam kết thực hiện ở cả hai phương diện lập pháp và cam kết thực hiện thực tiễn các văn kiện về quyền con người  Điều đó được thể hiện  trong luật TTHS của nước CHXHCN Việt Nam ở mức độ khác nhau: Có thể trang trọng quy định là nguyên tắc cơ bản, có thể thấp thoáng trong các quy định cụ thể.  Bộ luật TTHS hiện hành  có các nguyên tắc như: Thừa nhận Tòa án là cơ quan duy nhất có quyền xét xử các vụ án hình sự, Nguyên tắc bảo vệ quyền cơ bản của công dân; bảo vệ quyền bất khả xâm phạm về tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm, suy đoán vô tội (tuy còn chưa rõ), quyền bào chữa, quyền kháng cáo, quyền minh oan…

Nghiên cứu quyền con người trong TTHS không thể không đưa ra định nghĩa về nó. Hiện nay, có một số khái niệm về quyền con người trong TTHS đã được đưa ra nhưng chủ yếu là nhấn mạnh đến quyền của người bị buộc tội mà chưa chú ý đến quyền của những người khác tham gia TTHS. Chúng tôi xin đưa ra khái niệm quyền con người trong TTHS như sau:

Quyền con người trong TTHS là những giá trị thiêng liêng chỉ dành cho con người khi họ tham gia quan hệ pháp luật TTHS mà nhà nước có nghĩa vụ phải ghi nhận trong Hiến pháp,  pháp luật và đảm bảo thực hiện trên thực tế.

2.     Cần phải bảo vệ quyền con người của những ai trong TTHS?

Tố tụng hình sự, xét cho cùng là quá trình giải quyết trên cơ sở pháp luật các xung đột giữa một bên là nhà nước với một bên là người bị cho là thực hiện một hành vi tội phạm. Ở Mỹ người ta thường nói: Vụ án bang NewYork kiện Quarle, vụ bang Colorado kiện Spring….[1]Trong quá trình này luôn cần đến một vị trọng tài đó là tòa án. Trong đó, quyền con người  của bên bị buộc tội luôn phải được quan tâm đầu tiên.

2.1  Bảo về quyền con người của bên bị buộc tội

Người bị buộc tội là khái niệm đang tranh luận trong khoa học luật TTHS. Chúng tôi đồng ý với quan điểm cho rằng người bị buộc tội bao gồm người bị tạm giữ, bị can, bị cáo[2]. Xuất phát từ quan điểm thi hành án không phải là một khâu trong chuỗi các hoạt động tố tụng hình sự mà cần phải tách a thành một hệ thống pháp luật, ngành khoa học nghiên cứu riêng nên vấn đề quyền con người của người bị kết án, tù nhân, người mãn hạn tù… chúng tôi  không bàn ở đây.

2.1.1    Bảo vệ bằng việc quy định các quyền của người bị buộc tội:

Theo quy định của Bộ luật TTHS Việt Nam hiện hành, quyền con người của người bị buộc tội được thể hiện thông qua hệ thống các nguyên tắc đồ sộ của mình và được cụ thể hóa trong các chế định chứng minh, chứng cứ;  các biện pháp ngăn chặn, nghĩa vụ của các cơ quan THTT; trong các quy định về xét xử cua tòa án và vấn đề minh oan cho người bị oan….

Về quyền của người bị tạm giữ , bị can, bị cáo: Bộ luật TTHS Việt nam quy định khá đầy đủ các quyền của người bị buộc tội như: quyền được biết mình bị buộc tội về tội gì? Quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa cho mình. Quyền được được chứng minh sự vô tội của mình bằng việc đưa a tài liệu đồ vật, yêu cầu. Quyền được khiếu nại các quyết định cua các cơ quan tiến hành tố tụng. Quyền được tham gia phiên tòa và tranh luận tại phiên tòa. Quyền không bị xét xử một cách quá chậm trễ thê hiện ở các quy định về thời hạn tạm giữ để khởi tố vụ án, thời hạn điều tra, thời hạn xét xử. Ví dụ hết thời hạn tạm giữ nếu cơ quan Điều tra không có căn cứ khởi tố bị can thì phải trả tự do cho người bị tạm giữ. Nếu hết thời hạn điều tra không chứng minh được tội phạm thì phải đình chỉ điều tra, hủy bỏ quyết định khởi tố bị can, trả lại cho họ trạng thái bình thường của người vô tội và xin lỗi công khai, bồi thường nhà nước…

Khi một người bị buộc tội thì họ phải được xét xử tại tòa án độc lập, công khai và công bằng. Cụ thể hóa nguyên tắc này, Hiến pháp cũng như luật TTHS Việt Nam có những quy định chặt chẽ về thủ tục xét xử vụ án hình sự tại tòa án trong đó ghi nhận vai tò cua tòa án trong việc xét xử đồng thời quy định các quyền của bị cáo tại giai đoạn xét xử. Đó là việc quy định cụ thể thời hạn xét xử cho từng loại tội cụ thể. Quy định quyền của bị cáo trước tòa như bào chữa, nhờ người bào chữa, tanh tụng bình đăng với bên buộc tội. Quy định quyền kháng cáo và nguyên tắc hai cấp xét xử. Những quy định này nhằm đảm bảo quyền được xét xử công bằng và có một bản án công bằng của người bị buộc tội.

2.1.2    . Bảo vệ bằng việc quy định nghĩa vụ của các cơ quan tiến hành tố tụng

Khi công tố quyền được phát động, để tạo điều kiện cho các cơ quan THTT thực hiện chức năng phát hiện, xư lý tội phạm, pháp luật cho phép họ được áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong đó hạn chế một số quyền tự do cua người bị tình nghi, bị can, bị cáo. Tuy nhiên, sự hạn chế tự do của người bị buộc tội phải đảm bảo nguyên tắc pháp chế, tránh sự lạm quyền. Pháp luật TTHS Việt Nam quy định khá chặt chẽ các căn cứ để áp dụng biện pháp ngăn chặn như tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú…cũng như các biện pháp cưỡng chế TTHS khác như khám người, khám chỗ ở, tịch thu thư tín…. Tất cả các biện pháp cưỡng chế TTHS trên đòi hỏi các cơ quan THTT không được áp dụng tùy tiện, lạm dụng mà chỉ được thực hiện khi có căn cứ và theo đúng trình tự, thủ tục luật định. Xu hướng chung của TTHS văn minh là hạn chế ở mức thấp nhất việc áp dụng các biện pháp tạm giữ, tạm giam đồng thời mở rộng các biện pháp khác “mềm” hơn như đặt tiền, bảo lãnh…Việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn và cưỡng chế TTHS đòi hỏi các cơ quan THTT vừa đảm bảo nhiệm vụ phát hiện, xử lý tội phạm, vừa không xâm phạm đến quyền con người của người bị buộc tội. Điều quan trọng là cần có chế tài nghiêm khắc xử lý những hành vi bắt tạm giữ, tạm giam quá mức cần thiết hoặc tái pháp luật của những người THTT.

Nguyên tắc suy đoán vô tội chỉ rõ trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về bên buộc tội. Điều đó cũng có nghĩa bên buộc tội nếu không chứng minh được một người nào đó phạm tội thì phải tha bổng và tuyên bố người đó vô tội. Tuy nhiên, không phải khi đã tuyên bố trách nhiệm chứng minh thuộc bên buộc tội thì bên này có thể dùng mọi biện pháp đê thu thập chứng cứ, mọi biện pháp điều tra để phục vụ cho việc chứng minh của mình kể cả những biện pháp xamm phạm đến quyền con người kiểu như: bắt nhầm hơn bỏ sót. Hoạt động chứng minh nói chung và thu thập chứng cứ nói riêng cần phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định của pháp luật tức là phải đảm bảo pháp chế.

Khi bàn đến quyền con người trong TTHS không thể bỏ qua đối tượng đặc biệt và cũng là đối tượng cần có cơ chế bảo vệ đặc biệt đó là người bị buộc tội là người chưa thành niên.  Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, bình đẳng trước tòa và đảm bảo quyền xét xử công bằng là nguyên tắc cua TTHS. Tuy nhiên, công bằng có thê hiêu theo chiếu ngang và chiều  dọc. Theo chiều ngang là đối xử  như nhau với những người có hoàn cảnh và điều kiện như nhau. Theo chiều dọc là đối xử khác nhau với những người có hoàn canh khác nhau. Bộ luật hình sự Việt nam hiện hành đã dành cho người chưa thành niên bị buộc tội một thủ tục TTHS riêng. Đó là những quy định hạn chế tối đa việc áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam. Quy định việc có mặt của người đại diện trong quá tình TTHS, quy định thành phần Hội đồng xét xử phải có Hội thẩm nhân dân là cán bộ đoàn, giáo viên…

2.2. Bảo vệ quyền con người của người bị hại và người làm chứng trong TTHS

Trong TTHS, nạn nhân của tội phạm tham gia tố tụng với tư cách người bị hại không chỉ là quyền mà là nghĩa vụ. Ở phương diện quyền con người nói chung người bị hại đã bị tội phạm xâm phạm bằng cách gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe, danh dự nhân phẩm và tài sản cũng như các quyền lợi ích hợp pháp khác. Trong TTHS, quyền của người của người bị hại biêu hiện ở quyền được yêu cầu các cơ quan THTT bảo vệ quyền con người của mình. Những quyền này được ghi nhận trước hết là quyền tố tụng của họ. Đó là: Quyền được đưa ra các yêu cầu đối với cơ quan THTT. Được đưa ra các tài liệu đồ vật bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của mình. Được tham gia, giám sát các hoạt động TTHS của các cơ quan TTHT. Được khiếu nại, kháng cáo các quyết định bản án của cơ quan điều tra, công tố và tòa án. Đặc biệt, người bị hại có quyền được bảo vệ an toàn trong quá tình tiến hành tố tụng. Được bảo vệ danh dự nhân phẩm, thông tin cá nhân, bí mật đời tư .Ví dụ trong các tội phạm xâm hại tình dục Bộ luật TTHS quy định xử kín.

Trong bất cứ kiểu TTHS, người làm chứng trong vụ án hình sự  đều được đánh giá cao trong việc phát hiện tội phạm. Thậm chí có lúc , có nơi người ta coi lời khai của người làm chứng như một loại chứng cứ “vua”. Tại Anh trong năm 2002-2003, 2.845 vụ án ở Tòa án Hoàng gia và 13.328 vụ án ở tòa án sơ thẩm đã bị hoãn vì nhân chứng vắng mặt, chiếm 22% và 26% số vụ án bị hoãn. Cơ quan kiểm toán quốc gia Anh ước tính mỗi năm các phiên tòa bị hoãn đã gây thiệt hại 41 triệu bảng (hơn 1.000 tỷ đồng), ngoài thiệt hại kinh tế thì thiệt hại về công lý có lẽ to lớn hơn nhiều[3]. Chính vì vậy, bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự nhân phâm và các quyền lợi ích khác của người làm chứng để họ thực hiện tốt vai trò làm chứng của mình là việc cần quan tâm. Bộ luật TTHS 2003 đã có những bước tiến dài trong việc bảo vệ người làm chứng như:  quyền yêu cầu cơ quan triệu tập họ bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản và các quyền, lợi ích hợp pháp của mình; quyền khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của người, cơ quan có thẩm quyển tiến hành tố tụng (điều 55).  Thực tế cho thấy, làm chứng trong vụ án hình sự là nghĩa vụ hết sức nặng nề đối với người làm chứng. Bên cạnh việc phai khai trung thực ác tình tiết cảu vụ án, người làm chứng và gia đình họ phải đối mặt với những đe dọa nguy hiểm từ phía tội phạm và những người liên quan đến tội phạm. Những năm 80, 90 thế kỷ trước ở Hoa Kỳ rất phổ biến hiện tượng “băng nhóm tội phạm đường phố” với thiên hướng bạo lực. Báo cáo của Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoa kỳ J. Keeney lúc đó trước Hạ viện đã thừa nhận “sự sợ hãi của những người có thể trở thành NLC trong vụ án lớn đến mức nó đã hạn chế đáng kể khả năng của các cơ quan bảo vệ pháp luật truy cứu trách nhiệm hình sự những kẻ tội phạm bạo lực. Biết về sự sợ hãi này cũng như biết về sự bất lực của cơ quan bảo vệ pháp luật trong việc bảo đảm an toàn cho NLC đã làm cho những kẻ phạm tội càng thêm tin tưởng về khả năng không bị pháp luật trừng phạt và càng lộng hành hơn đến nỗi chúng thẳng tay trả thù với cả những NLC gián tiếp[4]. Chính vì vậy bảo vệ quyền con người của người làm chứng là nghĩa vụ của nhà nước và các cơ quan THTT nhằm đảm bao cho quá tình phát hiện xử lý tội phạm được chính xác và toàn diện.

3.     Những giải pháp nhằm bảo vệ tốt hơn quyền con người trong TTHS ơ Việt Nam

Thành tích nhân quyền của Việt Nam đã được thể hiện rõ trong Báo cáo  quốc gia kiểm điểm định kỳ việc thực hiện quyền con người ở Việt Nam. được trình bày tại Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc ở Geneva, Thụy Sỹ ngày 8/5. Theo đó: Nhà nước Việt Nam coi con người là mục tiêu và động lực của mọi chính sách phát triển kinh tế – xã hội và luôn nhất quán trong việc đảm bảo và thúc đẩy các quyền con người”. “Hiến pháp 1992, văn bản có hiệu lực pháp lý cao nhất, đảm bảo mọi công dân có quyền bình đẳng về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, bình đẳng trước pháp luật; quyền tham gia quản lý công việc của Nhà nước và xã hội; quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; quyền tự do đi lại và cư trú trên đất nước Việt Nam; quyền khiếu nại và tố cáo; quyền lao động, học tập, chăm sóc sức khỏe… không phân biệt giới tính, sắc tộc, tôn giáo“[5]. Trong lĩnh vực hình sự, có thể tìm thấy thành tích bảo vệ quyền con người trong các báo cáo thường niên của các cơ quan Tư pháp ở Việt Nam. Ví dụ: Báo cáo năm 2009 của Tòa án nhân dân Tối cao đưa ra đánh giá: Các phán quyết của Toà án căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng, trên cơ sở xem xét khách quan, toàn diện các chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà, nên chất lượng xét xử được đảm bảo.

Tuy nhiên, đánh giá công tác tư pháp , Nghị quyết số 08/NQTW ngày 2/1/2002 của Bộ Chính trị đã nêu rõ: Công tác tư pháp nói chung chưa ngang tầm với yêu cầu và đòi hỏi của nhân dân; còn nhiều trường hợp bỏ lọt tội phạm, làm oan người vô tội, vi phạm các quyền tự do, dân chủ của công dân, làm giảm sút lòng tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước và các cơ quan tư pháp.  Khi còn tình trạng bỏ lọt tội phạm, làm oan người vô tội, vi phạm các quyền tự do, dân chủ của nhân dân thì không thê nói quyền con người trong TTHS đã được đảm bảo tốt nhất.

Để bảo vệ tốt hơn quyền con người trong Tố tụng hình sự chúng tôi xin đưa ra một vài giải pháp sau:

3.1.Về mặt lý luận: Tiếp tục nghiên cứu các vấn đề lý luận về quyền con người trong đó có quyền con người trong TTHS để đưa đến nhận thức đúng đắn về vấn đề quyền con người  như một giá trị của nhân loại. Khả năng, điều kiện tiếp thu các giá trị đó vào hoàn cảnh Việt Nam trên cả phương diện lập pháp và thực tiễn. Tức là cần luận giải tính phổ biến và tính đặc thù của quyền con người nói chung và quyền con người trong TTHS nói riêng. Yêu cầu đối với nghiên cứu lý luận về quyền con người trong TTHS là phải đảm bảo được chiều sâu, tính đa dạng, khách quan của lý luận về quyền con người, phản ánh được thực tiễn sinh động của quá trình TTHS và đảm bảo tính khả thi của các giải pháp

3. 2. Về phương diện lập pháp: Quyền con người trong TTHS chỉ được đặt ra khi nhà nước tiến hành hoạt động tố tụng hình sự: điều tra, truy tố, xét xử. Chính vì vây, bảo vệ quyền con người trong tố tụng hình sự  trước hết đòi hỏi hệ thống pháp luật không chỉ giúp nhà nước phát hiện xư lý tội phạm mà còn không làm oan người vô tội và bảo vệ quyền con người trước hết là những người bị buộc tội. Dưới góc độ bảo vệ quyền con người Luật TTHS Việt Nam cần điều chỉnh theo hướng sau:

- Ghi nhận đầy đủ các quyền con người trong TTHS trên cơ sở các chuẩn mực quốc tế về quyền con người trong TTHS. Trong luật thực định của chúng ta cho thấy còn một số quyền con người của người bị buộc tội chưa được ghi nhận: quyền được im lặng, quyền không buộc phải đưa ra chứng cứ chống lại chính mình, quyền thu thập đưa ra chứng cứ, quyền bào chữa vấn chưa quy định cụ thể. Những hoạt động điều tra trinh sát vẫn chưa được luật hóa tạo điều kiện cho hành vi lạm dụng, thái quá xâm phạm đến quyền tự do cá nhân của con người.

Bên cạnh việc ghi nhận các quyền của người bị buộc tội, điểm yếu nhất của TTHS Việt Nam đó chính là cơ chế để bảo vệ quyền con người. Quyền bào chữa, quyền thu thập đưa ra các chứng cứ của người bào chữa, người bị buộc tội  …được ghi nhận nhưng có chế nào để những người này thực hiện hiện chưa được khai thông.

Bảo vệ quyền con người trong TTHS cũng có nghĩa là nếu người nào có những hành vi xâm phạm đến quyền con người trong TTHS thì có chế tài nghiêm khắc để xử lý. Tức là trả lời cho câu hỏi: nếu không thực hiện thì có làm sao không? vẫn còn để ngỏ. Một vụ án quá hạn điều tra vẫn không ra quyết định đình chỉ và minh oan cho bị cáo, Một vụ án bị chậm trễ đưa ra xét xử, một quyết định áp dụng biện pháp ngăn chặn không hợp lý và hợp pháp ….đều chưa có chế tài cụ thể. Bên cạnh đó, việc bảo vệ người tố giác tội phạm, người làm chứng trong vụ án hình sự chưa được quan tâm đúng mức nên vẫn có những trường hợp họ bị trù dập, bị trả thù, bị đe dọa. Khi người ngay vẫn còn sợ kẻ gian thì không thể nói quyền con người đã được đảm bảo và kéo theo đó chính là chất lượng hoạt động của các cơ quan tư pháp hình sự  không cao.

3.3. Về phương diện thực tiễn: Cần nâng cao nhận thức về quyền con người nói cách khác là tăng cường giáo dục quyền con người cho những người THTT là các điều tra viên, kiêm sát viên, và thẩm phán bởi một điều mà người ta lo ngại nhất khi nói đến vấn đề bảo vệ quyền con người trong tố tụng hình sự đó chính là sự xâm phạm quyền con người từ phía công quyền. sự xâm phạm này không chỉ thể hiện ở việc pháp luật còn khoảng trống mà phần nhiều nằm ở chính hoạt động cụ thể của người THTT.

Đối với người bị buộc tội: Cần nâng cao khả năng tự bảo vệ quyền con người của họ bằng việc tạo điều kiện tốt nhất để họ có thể tiếp cận các dịch vụ pháp lý thực hiện quyền bào chữa của mình trong quá tình tố tụng như thuê người bào chữa, chi phí thu thập chứng cứ, đơn giản hóa các thủ tục tố tụng …Chỉ khi nào thế và lực của hai bên buộc tội và gỡ tội đạt được thế quân bình ở mức tương đối thì quyền con người trong TTHS mới được đảm bảo trên thực tiễn.

Để nhấn mạnh đòi hỏi  của việc bảo vệ quyền con người trong TTHS của nhà nước pháp quyền, chúng tôi xin trích câu nói của Chủ tịch Ủy ban Cảnh sát hình sự quốc tế, ông Florent Louvage đã từng nói cách đây 50 năm: Nhất định phải thành công với bất cứ giá nào là một khẩu hiệu cần phải dẹp đi. Lắm khi một cuộc điều tra thất bại còn hơn thu được kết quả bằng những phương pháp đáng ngờ. Một xã hội văn minh thường cảm thấy bị xúc phạm khi phẩm giá con người bị chà đạp hơn là lỡ để một kẻ phạm tội trốn thoát[6]

ThS Đinh Thế Hưng  - Viện Nhà nước và Pháp luật
(Tham luận tại Hội thảo: Các điều kiện đảm bảo quyền con người ở Việt Nam do Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Viện NN và Phap luật tổ chức ngày 27/8/2010)

 


[1]  P. Reichel- Tư pháp hình sự so sánh, Viện KH Pháp lý, Bộ Tư pháp năm 1999, trang 79

[2]  Phạm Hồng Hải, Bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội, NXB CAND 2004, trang

[3] Nguyễn Thái Phúc, Bảo vệ người làm chứng và quyền miễn trừ làm chứng  trong tố tụng hình sự, Tạp chí Khoa học pháp lý, Đại học luật TP Hồ Chí Minh, số 3 năm 2007.

[4] Nguyễn Thái Phúc, Bảo vệ người làm chứng và quyền miễn trừ làm chứng  trong tố tụng hình sự, Tạp chí Khoa học pháp lý, Đại học luật TP Hồ Chí Minh, số 3 năm 2007.

[5]Báo cáo nhân quyền của Việt Nam,  http://vietnamnet.vn/chinhtri/2009/04/843740/

[6] Nguyễn Quốc Hưng- Hình sự Tố tụng, Nhà sách Khai Trí Sài Gòn 1957

 

Các tin tiếp
Các tin trước
TIÊU ĐIỂM
Xem nhiều nhất