Pháp luật Tố tụng hình sự - Tránh đẩy bị cáo vào tình trạng bất lợi
17:4' 11/9/2010
Trong pháp luật hình sự nước ta, có rất nhiều quy định và ý tưởng làm luật được coi là tiến bộ. Các nhà làm luật đã rất chú trọng đến việc bảo vệ các giá trị cá nhân và bảo vệ sự yếu thế của cá nhân trong việc tham gia các quan hệ pháp luật hình sự. Như các tư tưởng về: không có luật là không có tội (Điều 2, BLHS), suy đoán vô tội trong pháp luật hình sự… Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn có những nguyên tắc thoáng nghe qua tưởng chừng như khá phù hợp nhưng nếu xem xét kỹ thì nó lại làm ảnh hưởng rất nhiều đến sự tiến bộ của luật hình sự và ảnh hưởng rất lớn đến quyền, lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo khi tham gia vào quan hệ pháp luật này. Trong bài viết này tác giả chỉ xin bình luận về đoạn 2 Điều 10, BLTTHS (Nguyên tắc xác định sự thật của vụ án). Đó là: Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng.

Như chúng ta thấy Luật hình sự là một trong những biện pháp có tính cứng rắn thể hiện thái độ của nhà nước đối với hành vi phạm tội và nó là một biện pháp có tính cưỡng chế lớn nhất của nhà nước, đồng thời việc truy cứu trách nhiệm hình sự chủ yếu được tiếp cận dưới giác độ truy cứu trách nhiệm cá nhân – một mối tương quan có sự chênh lệch rất lớn về sức mạnh (nhà nước – cá nhân). Do đó, chỉ cần một sai sót nhỏ từ phía nhà nước cũng dẫn đến những thiệt rất lớn cho các cá nhân (bị cáo) trong các vụ án hình sự. Điều này muốn nói lên rằng, các nhà làm luật cũng đã hết sức cẩn trọng trong việc giảm thiểu thiệt hại cho các cá nhân bị truy cứu trách nhiệm hình sự bằng cách xây dựng các nguyên tắc có lợi cho bị cáo và làm giảm sự tác động của luật hình sự lên họ. Tuy nhiên, ở đây cũng có những vấn đề cần được xem xét như: quy định về trách nhiệm chứng minh tội phạm như đoạn 2 Điều 10 BLTTHS và viện dẫn đến định nghĩa tại Điều 33 BLTTHS thì rõ ràng các cơ quan tiến hành tố tụng bao gồm: Cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát và Toà án.  

Quy định này vô hình chung đẩy cả 3 cơ quan có sức mạnh khủng khiếp này về cùng một phe là cùng có trách nhiệm chứng minh tội phạm. Điều này dẫn đến một số hệ quả sau:

Thứ nhất, muốn chứng minh được tội phạm thì phương thức tốt nhất là 3 cơ quan này nên tìm cách hợp tác, bắt tay nhau trong việc xác định tội phạm. Nghĩa là đẩy bị cáo vào một thế hết sức bất lợi đó là phải đối đầu cùng một lúc với 3 cơ quan tiến hành tố tụng. Và thực tế chúng ta thấy hiện nay trước khi xử án, bằng các con đường không chính thức 3 cơ quan này đã có những sự tiếp xúc để thực hiện việc thảo luận về kết quả bản án dẫn đến tình trạng án bỏ túi như dư luận đang bức xúc hiện nay;

Thứ hai, trong quá trình xét xử Toà án vốn được coi là người phân xử công minh và nếu thực hiện trình tự tố tụng tranh tụng thì rõ ràng phải yêu cầu Toà án là người đứng giữa cơ quan công tố và bị cáo. Tuy vậy, do quy định của điều luật đã vô tình đẩy Toà án về phía cơ quan công tố trong quá trình xét xử nghĩa là Toà án phải thực hiện công việc “bới lông tìm vết” trong việc xác định tội phạm. Do đó, rõ ràng bị cáo lại càng bị đẩy vào tình trạng bất lợi hơn là phải chịu sự đối lập về vị thế của Toà án trong trường hợp này.

Còn dưới phương diện của tiến trình cải cách tư pháp ở nước ta hiện nay, chúng ta cũng thấy rằng mục tiêu trọng tâm của tiến trình cải cách tư pháp là nâng cao vị thế độc lập của Toà án trong hệ thống tư pháp. Tuy nhiên, nếu không có sự thay đổi trong quy định của điều luật này thì việc yêu cầu trên là không thể thực hiện được.

Trên đây là một số quan điểm và bình luận của tác giả về vị thế của bị cáo từ quy định của đoạn 2, Điều 10 BLTTHS để cùng trao đổi.

Ths. Cao Việt Thăng – Viện Nhà nước và pháp luật
Các ý kiến phản hồi xin cùng được gửi lên blog hoặc gửi về địa chỉ email: caothang@isl.gov.vn
Nguồn: dinhthehung.wordpress.com

Các tin tiếp
Các tin trước
TIÊU ĐIỂM
Xem nhiều nhất