Hoàn thiện mô hình tố tụng hình sự Việt Nam theo yêu cầu cải cách tư pháp
19:3' 5/10/2010
Hình minh họa


1. Những đặc điểm của mô hình tố tụng hình sự Việt Nam

Mô hình tố tụng hình sự (TTHS) nước ta - trong quá trình phát triển - chịu ảnh hưởng lớn từ mô hình TTHS Pháp và Xô viết (hai mô hình TTHS vốn bắt nguồn từ truyền thống luật Châu Âu lục địa) và đã tiếp thu đậm nét những yếu tố của mô hình TTHS thẩm vấn. Hệ thống pháp luật, hệ thống tư pháp của Pháp đã hiện diện ở nước ta trong gần 100 năm - bên cạnh hệ thống pháp luật và hệ thống tư pháp phong kiến bản xứ - đã ảnh hưởng sâu sắc đến truyền thống, tư duy pháp lý ở nước ta. Các Bộ luật TTHS được ban hành và áp dụng trong thời kỳ Pháp thuộc là sự sao chép cơ bản Bộ luật TTHS của Pháp thời đó. Sau năm 1945, từ Hiến pháp năm 1959 đến Hiến pháp năm 1980, tổ chức và hoạt động của hệ thống cơ quan tư pháp và hệ thống pháp luật nước ta chịu sự ảnh hưởng mạnh mẽ của mô hình Xô viết. Trong lĩnh vực TTHS, sự ảnh hưởng này được thể hiện đậm nét trong Bộ luật TTHS đầu tiên của nước ta ban hành năm 1988 và vẫn tiếp tục ảnh hưởng trong Bộ luật TTHS năm 2003.

Đến nay, tuy trong quá trình phát triển, chúng ta đã tiếp thu một số hạt nhân của mô hình TTHS tranh tụng, phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội cụ thể của Việt Nam, nhưng mô hình TTHS ở nước ta về cơ bản vẫn là mô hình TTHS thẩm vấn. Đặc trưng của mô hình TTHS ở nước ta thể hiện qua những điểm cơ bản sau đây:

Thứ nhất, TTHS Việt Nam không coi vụ án hình sự là tranh chấp, xung đột pháp lý giữa các bên

Khác với mô hình TTHS tranh tụng, TTHS Việt Nam không coi vụ án hình sự là tranh chấp, xung đột pháp lý giữa các bên. Vụ án hình sự xảy ra bị xem là đã xâm hại tới trật tự công cộng, lợi ích chung của xã hội và Nhà nước phải có trách nhiệm giải quyết. Việc giải quyết vụ án hình sự hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí của Nhà nước.

Do không coi vụ án hình sự là tranh chấp pháp lý giữa các bên nên TTHS nước ta không giải quyết vấn đề theo cách của mô hình TTHS tranh tụng là trang bị cho các bên “sự cân bằng về vũ khí” trong quá trình giải quyết vụ án, mà giải quyết theo hướng trao trọn vẹn trách nhiệm và thẩm quyền trong việc đi tìm sự thật của vụ án cho các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Trong TTHS Việt Nam, không hình thành một cách rõ nét về các bên, mà thay vào đó là vai trò tích cực, chủ động của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Bị can, bị cáo có vai trò thụ động trong quá trình giải quyết vụ án, phụ thuộc rất lớn vào các cơ quan tiến hành tố tụng và gần như là đối tượng xem xét của các cơ quan tiến hành tố tụng. Người bị hại không có quyền lựa chọn cách thức giải quyết vụ việc. Khởi tố hay không khởi tố vụ án không phụ thuộc vào ý muốn của người bị hại, mà hoàn toàn phụ thuộc vào quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng (trừ một số ít vụ việc theo quy định của pháp luật).

Thứ hai, TTHS  Việt Nam đặt mục tiêu tìm đến chân lý khách quan của sự việc

Mục tiêu xuyên suốt của TTHS nước ta là tìm ra sự thật, tìm đến chân lý khách quan của sự việc. Mục tiêu này chi phối mọi trình tự, thủ tục, cũng như thẩm quyền của các chủ thể trong TTHS.

Cách thức để đạt được mục tiêu này là pháp luật trao trọn vẹn trách nhiệm tìm kiếm chứng cứ, xác định sự thật của vụ án cho các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Cũng xuất phát từ mục tiêu này, trong TTHS Việt Nam không tồn tại chế định “tuỳ nghi truy tố” hay “mặc cả thú tội” như trong mô hình TTHS tranh tụng. Việc phát hiện và xử lý tội phạm mang tính bắt buộc.

Thứ ba, về phương pháp tố tụng sử dụng trong quá trình giải quyết vụ án      

TTHS Việt Nam xác định việc tìm kiếm sự thật vụ án bằng phương pháp điều tra, thẩm vấn. Trong giai đoạn điều tra, Điều tra viên thực hiện mọi biện pháp điều tra do pháp luật quy định để thu thập chứng cứ. Khi hồ sơ vụ án được chuyển sang cho Viện kiểm sát, đề nghị truy tố, Viện kiểm sát tiếp tục kiểm tra hồ sơ vụ án để ra quyết định truy tố hoặc không truy tố người phạm tội. Tại phiên toà, phương pháp điều tra, thẩm vấn vẫn là phương pháp chủ yếu được áp dụng, mà không phải là sự đối tụng, cạnh tranh giữa bên buộc tội và bên bào chữa. Phương pháp điều tra được thực hiện dưới hình thức xét hỏi. Hội đồng xét xử đặt những câu hỏi về từng tình tiết của vụ án nhằm xác minh tính trung thực, tính đúng đắn của các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; thẩm tra các nhân chứng; xem xét những vật chứng liên quan... Sau việc xét hỏi của Hội đồng xét xử, pháp luật quy định thẩm quyền hỏi của Kiểm sát viên, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự.

Thể chế hoá quan điểm của Đảng về tăng cường tranh tụng tại phiên toà, Bộ luật TTHS năm 2003 đã có những sửa đổi, bổ sung trong thủ tục tranh luận tại phiên toà. Phương pháp tố tụng áp dụng trong giai đoạn này là phương pháp tranh tụng. Việc tranh tụng, đối đáp chỉ diễn ra giữa Kiểm sát viên (đại diện cho bên buộc tội) và người bào chữa cùng những người tham gia tố tụng khác. Pháp luật quy định trách nhiệm Kiểm sát viên phải đưa ra những lập luận của mình đối với từng ý kiến. Chủ toạ phiên toà không được hạn chế thời gian tranh luận, tạo điều kiện cho những người tham gia tranh luận trình bày hết ý kiến.

Thứ tư,  TTHS Việt Nam phân chia quá trình giải quyết vụ án thành các giai đoạn tố tụng

TTHS Việt Nam phân chia quá trình giải quyết vụ án hình sự thành các giai đoạn tố tụng (giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử). Ở từng giai đoạn khác nhau, có những thành phần chủ thể khác nhau, nhưng đều hướng đến một mục tiêu chung là làm sáng tỏ sự thật khách quan, tìm đến chân lý của sự việc. Trong mỗi giai đoạn tố tụng có sự phân định tương đối rành mạch về quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của từng cơ quan tiến hành tố tụng, quy định cụ thể và chặt chẽ thời hạn của từng hoạt động tố tụng và thời hạn áp dụng từng biện pháp cưỡng chế tố tụng. Các giai đoạn tố tụng được tiến hành gắn liền và kế tiếp nhau, giai đoạn tố tụng trước làm tiền đề cho giai đoạn tố tụng sau, giai đoạn tố tụng sau kiểm nghiệm lại kết quả đạt được của giai đoạn tố tụng trước. Việc phân chia cụ thể các giai đoạn của TTHS, gắn nhiệm vụ, quyền hạn của từng chủ thể và ấn định thời hạn với từng hoạt động tố tụng tạo cho các các chủ thể tiến hành tố tụng có tính chuyên nghiệp trong hoạt động tố tụng, là điều kiện quan trọng tạo nên hiệu quả hoạt động tố tụng đáp ứng được yêu cầu điều tra, xử lý tội phạm phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh của Việt Nam, hạn chế việc vi phạm quyền của bị can, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác. Đặc biệt, sự tham gia của Viện kiểm sát ở tất cả các giai đoạn tố tụng với hai chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp đã góp phần quan trọng, bảo đảm cho các giai đoạn tố tụng tuân thủ đúng quy định của pháp luật, bảo vệ quyền con người trong quá trình giải quyết vụ án hình sự.

Thứ năm, vị trí, vai trò của các chủ thể trong TTHS

Mô hình TTHS tranh tụng phân chia các chủ thể tố tụng dựa vào tiêu chí là các chức năng cơ bản của TTHS: chức năng buộc tội, chức năng bào chữa và chức năng xét xử, trên cơ sở đó hình thành các bên trong quan hệ tố tụng: bên buộc tội, bên gỡ tội và Toà án trung lập. TTHS Việt Nam phân chia các chủ thể tố tụng thành hai loại: chủ thể tiến hành tố tụng và chủ thể tham gia tố tụng. Chủ thể tiến hành tố tụng bao gồm: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án với các chức danh tố tụng: Thủ trưởng, Phó thủ trưởng Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên; Chánh án, Phó Chánh án Toà án, Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký Toà án. Chủ thể tham gia tố tụng bao gồm: người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự, người làm chứng, người giám định, người phiên dịch.

Chủ thể tiến hành tố tụng được pháp luật trao trọn vẹn thẩm quyền chứng minh trong vụ án hình sự, được độc quyền trong việc thu thập chứng cứ. Những người tham gia tố tụng không có quyền thu thập chứng cứ của vụ án, chỉ có quyền cung cấp tài liệu, đồ vật, đưa ra yêu cầu. Trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án hình sự, cơ quan tiến hành tố tụng luôn ở thế chủ động, từ việc thu thập, kiểm tra, đánh giá các chứng cứ đến việc đưa ra các quyết định tố tụng liên quan đến việc giải quyết vụ án.

Cơ quan điều tra được giao nhiệm vụ tiến hành điều tra, xác minh, thu thập chứng cứ và có vai trò quan trọng trong việc lập hồ sơ vụ án. Giai đoạn điều tra có ý nghĩa cực kỳ quan trọng trong TTHS. Thời hạn điều tra được pháp luật quy định tương đối dài, tạo điều kiện cho cơ quan điều tra tiến hành các hoạt động điều tra, thu thập đầy đủ các chứng cứ của vụ án. Giai đoạn điều tra tạo dựng “hệ thống cơ sở dữ liệu” làm cơ sở cho hoạt động truy tố và xét xử sau này. Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát có nhiệm vụ xác định sự thật của vụ án, tìm kiếm cả chứng cứ buộc tội và gỡ tội.

Viện kiểm sát có vị trí, vai trò đặc biệt trong TTHS, không chỉ thực hiện chức năng công tố, truy tố người phạm tội ra toà, thực hiện việc buộc tội tại phiên toà, mà còn được giao thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong TTHS, nhằm bảo đảm mọi hành vi phạm tội đều phải được xử lý kịp thời, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội. Viện kiểm sát có vai trò và thẩm quyền rất lớn trong hoạt động điều tra. Quan hệ giữa Viện kiểm sát với cơ quan điều tra là quan hệ chế ước và phối hợp. Viện kiểm sát được giao trách nhiệm phê chuẩn các quyết định bắt, tạm giữ, tạm giam trong giai đoạn điều tra và chịu trách nhiệm về các trường hợp oan, sai trong việc bắt, tạm giữ, tạm giam thuộc phạm vi thẩm quyền phê chuẩn của Viện kiểm sát.

Toà án có vai trò tích cực, chủ động trong việc xác định sự thật của vụ án. Toà án hoàn toàn không giữ vai trò trung gian, không phải là “trọng tài” trong “trận đối tụng” giữa bên buộc tội và bên bị buộc tội như trong mô hình TTHS tranh tụng. Việc xét xử tại Toà án là giai đoạn tiếp theo của quá trình đi tìm sự thật vụ án. Toà án đóng vai trò chủ động, tích cực, phối hợp chặt chẽ với Viện kiểm sát trong quá trình đi tìm sự thật khách quan của vụ án. Cũng như Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát, Toà án được giao trách nhiệm chứng minh tội phạm, bảo đảm cho việc xét xử được đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Theo quy định của pháp luật, Toà án tiếp xúc với hồ sơ vụ án từ rất sớm; thời gian nghiên cứu hồ sơ vụ án của Toà án được pháp luật quy định tương đối dài. Qua nghiên cứu hồ sơ vụ án, Toà án có quyền trả lại hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát để điều tra bổ sung khi thấy cần xem xét thêm chứng cứ quan trọng đối với vụ án mà không thể bổ sung tại phiên toà được; khi có căn cứ để cho rằng bị cáo phạm một tội khác hoặc có đồng phạm khác; khi phát hiện có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng. Tại phiên toà, Hội đồng xét xử đóng vai trò tích cực, chủ động trong việc thẩm tra các chứng cứ. Diễn biến tại phiên toà không phải là sự tranh tụng giữa bên buộc tội và gỡ tội mà thực chất là sự tiếp tục của hoạt động điều tra để đi tìm sự thật của vụ án.

Có thể thấy, cách thức tổ chức các cơ quan tư pháp hình sự ở nước ta hiện nay giống như một “đường trục”. Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án tuy có chức năng, nhiệm vụ riêng trong từng giai đoạn tố tụng, nhưng đều có chung nhiệm vụ phát hiện tội phạm, làm sáng tỏ sự thật của vụ án.

Tăng cường vị trí, vai trò của người bào chữa trong các thủ tục tố tụng tư pháp nói chung và tư pháp hình sự nói riêng là một trong những yêu cầu quan trọng của cải cách tư pháp được đề ra trong nhiều Nghị quyết của Đảng. Thể chế hoá chủ trương này, các văn bản pháp luật đã được sửa đổi, bổ sung theo hướng tăng cường các cơ chế bảo đảm để người bào chữa thực hiện ngày càng tốt hơn chức năng bào chữa của mình. Người bào chữa không chỉ bào chữa cho bị can, bị cáo như trước đây, mà còn bào chữa cho người bị tạm giữ. Thời điểm tham gia của người bào chữa được quy định sớm hơn (người bào chữa tham gia tố tụng từ khi khởi tố bị can; trong trường hợp bắt người theo quy định về bắt khẩn cấp hoặc bắt quả tang thì người bào chữa tham gia tố tụng từ khi có quyết định tạm giữ). Nhiều thẩm quyền mới đã được quy định bổ sung cho người bào chữa như: quyền có mặt khi hỏi cung người bị tạm giữ, bị can và có mặt trong các hoạt động điều tra khác; được xem các biên bản về hoạt động tố tụng có sự tham gia của mình và các quyết định tố tụng liên quan đến người mà mình bào chữa...).

Đối lập với vai trò tích cực, chủ động của các cơ quan tiến hành tố tụng là vai trò thụ động của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo. Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo không được xem là một bên trong quan hệ tố tụng như trong mô hình tố tụng tranh tụng và trên thực tế, nhiều trường hợp gần như là đối tượng xem xét của các cơ quan tiến hành tố tụng.

Thứ sáu, việc thực hiện các chức năng cơ bản của TTHS

Dù áp dụng mô hình TTHS nào thì trong TTHS cũng luôn tồn tại ba chức năng cơ bản: buộc tội, bào chữa và xét xử. Vai trò của các chủ thể được phân định theo các chức năng tố tụng. Việc phân định hợp lý thẩm quyền của các chủ thể gắn với các chức năng cơ bản của TTHS là điều kiện quan trọng bảo đảm mục tiêu, hiệu quả của TTHS.

Giống với mô hình TTHS nhiều nước trên thế giới, TTHS Việt Nam quy định Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát thực hiện chức năng buộc tội; chức năng bào chữa do người bị tạm giữ, bị can, bị cáo và người bào chữa của họ thực hiện; xét xử là chức năng thuộc về Tòa án. Song, trong các quy định cụ thể về thẩm quyền, trình tự, thủ tục TTHS và thực tiễn giải quyết vụ án hình sự ở nước ta đang thể hiện sự mâu thuẫn, chồng lấn giữa các chức năng cơ bản của TTHS; yêu cầu về sự bình đẳng giữa các bên trong việc thực thi các chức năng tố tụng của mình, nhất là sự bình đẳng giữa bên buộc tội và bên gỡ tội chưa được bảo đảm; Toà án là cơ quan xét xử, nhân danh công lý ra phán quyết về vụ án, song Toà án lại được giao cả những thẩm quyền khác thuộc chức năng buộc tội và chức năng gỡ tội.

Thứ bảy, trong TTHS Việt Nam luôn tồn tại “hồ sơ vụ án hình sự”

Nếu như trong mô hình TTHS tranh tụng không tồn tại một hồ sơ vụ án chính thức (bên buộc tội tự lập hồ sơ vụ án của mình để thực hiện chức năng buộc tội, bên bào chữa tự lập hồ sơ của mình để thực hiện chức năng gỡ tội), thì trong suốt các giai đoạn của TTHS nước ta luôn tồn tại một hồ sơ vụ án hình sự, được các cơ quan tiến hành tố tụng lập thống nhất từ giai đoạn điều tra. Hồ sơ vụ án hình sự chứa đựng toàn bộ các thông tin, chứng cứ về tội phạm và người phạm tội, được các cơ quan tiến hành tố tụng dựa vào đó để thực hiện các chức năng tố tụng của mình, đồng thời được bổ sung, hoàn thiện qua từng giai đoạn tố tụng.

2. Những ưu điểm, hạn chế của mô hình TTHS Việt Nam

Với các đặc điểm nêu trên, mô hình TTHS nước ta thời gian qua đã phát huy tác dụng tích cực trong công cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật, bảo đảm trật tự an toàn xã hội và từng bước đáp ứng yêu cầu bảo đảm dân chủ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân trong điều kiện trình độ dân trí cũng như kinh tế còn thấp. Cụ thể là:

- Việc phân chia quá trình giải quyết vụ án hình sự thành các giai đoạn tố tụng và tương ứng với mỗi giai đoạn tố tụng đó có sự phân định rành mạch về quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của từng cơ quan tiến hành tố tụng, cũng như quy định chặt chẽ thời hạn tố tụng của mỗi hoạt động tố tụng để cùng hướng đến một nhiệm vụ chung là tìm đến sự thật khách quan của vụ án đã làm cho các hoạt động tố tụng có tính chuyên nghiệp, giai đoạn tố tụng sau kiểm nghiệm lại kết quả của giai đoạn tố tụng trước.

- Việc quy định vai trò tích cực, chủ động của các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc tìm kiếm chứng cứ, xác định sự thật khách quan của vụ án đã cho phép chúng ta kiểm soát được tình hình tội phạm, bảo đảm trật tự an toàn xã hội trong điều kiện kinh tế - xã hội nước ta còn gặp nhiều khó khăn. Tỷ lệ phát hiện tội phạm đạt cao (đạt trên 70%, trong đó án rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng đạt gần 95% số vụ phạm tội xảy ra). Việc bỏ lọt tội phạm và người phạm tội được hạn chế một cách căn bản.

- Sự tham gia của Viện kiểm sát ở tất cả các giai đoạn tố tụng với hai chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp đã góp phần quan trọng bảo đảm cho các giai đoạn tố tụng tuân thủ đúng các quy định của pháp luật, bảo đảm quyền con người trong quá trình giải quyết vụ án hình sự trong điều kiện trình độ dân trí còn thấp, đội ngũ luật sư còn thiếu về lượng và hạn chế về chất lượng (theo thống kê, số vụ án hình sự có luật sư tham gia chỉ chiếm 20% tổng số vụ án đã giải quyết).

- Việc giải quyết vụ án hình sự được tiến hành khẩn trương, nhanh chóng, tiết kiệm thời gian và chi phí tố tụng.

Tuy nhiên, trong quá trình vận hành, mô hình TTHS nước ta đã bộc lộ một số hạn chế, bất cập sau đây:

- Việc tổ chức các hoạt động TTHS ở nước ta cho thấy, đang có sự mâu thuẫn, chồng lấn giữa các chức năng cơ bản của TTHS. Cùng một chủ thể pháp luật, nhưng lại được giao thực hiện đồng thời nhiều chức năng tố tụng khác nhau. Xu hướng phát triển của nền tố tụng dân chủ đòi hỏi các cơ quan tiến hành tố tụng, đặc biệt là Toà án phải là hiện thân của công lý, phải khách quan trong việc đưa ra các phán quyết. Tuy nhiên, Toà án ở nước ta lại có vai trò quá chủ động, tích cực trong phiên toà sơ thẩm và đang được giao thực hiện một số thẩm quyền không phù hợp với chức năng xét xử. Toà án có thẩm quyền trả lại hồ sơ cho Viện kiểm sát để điều tra bổ sung khi thấy thiếu những chứng cứ quan trọng hoặc khi có căn cứ cho rằng bị cáo còn phạm một tội khác hoặc có đồng phạm khác; Hội đồng xét xử được quy định là người hỏi chính và hỏi đầu tiên tại thủ tục xét hỏi và hỏi về toàn bộ các vấn đề của vụ án; có quyền khởi tố vụ án; có quyền xét xử bị cáo vượt ra ngoài giới hạn truy tố của Viện kiểm sát; có quyền tiếp tục xét xử trong trường hợp Viện kiểm sát đã rút toàn bộ quyết định truy tố tại phiên toà v.v..

- Về nguyên lý, bên nào thực hiện việc buộc tội, bên đó phải có trách nhiệm chứng minh, lập luận cho các cơ sở, lý lẽ của việc buộc tội. Tuy nhiên, tại phiên toà sơ thẩm, pháp luật chuyển trách nhiệm chứng minh tội phạm từ bên buộc tội (Viện kiểm sát) sang bên Toà án nên chưa tạo điều kiện để phát huy tính chủ động, tích cực và trách nhiệm của cơ quan buộc tội (Viện kiểm sát) trong việc thực hiện chức năng tố tụng của mình.

- Tính thụ động và bị lệ thuộc của người bào chữa vào các cơ quan tiến hành tố tụng vẫn là điểm dễ nhận thấy trong TTHS nước ta. Pháp luật đang thiếu các cơ chế để người bào chữa thực hiện đầy đủ, có hiệu quả các quyền năng tố tụng đã được luật định và để người bào chữa bảo vệ quyền của mình trước sự vi phạm của các chủ thể khác, đặc biệt là sự vi phạm từ phía các cơ quan tiến hành tố tụng. Cả trên bình diện pháp lý và thực tiễn, người bào chữa chưa được bảo đảm các cơ hội để trở thành một bên bình đẳng với bên buộc tội trong việc thực hiện chức năng bào chữa của mình.

- Mối quan hệ giữa Viện kiểm sát với Cơ quan điều tra là quan hệ phối hợp và chế ước. Viện kiểm sát có vai trò và trách nhiệm quan trọng trong quá trình điều tra. Tuy nhiên, cơ chế để bảo đảm quan hệ phối hợp và chế ước này chưa được quy định chặt chẽ, nhiều yêu cầu của Viện kiểm sát chưa được Cơ quan điều tra thực hiện, song lại không có biện pháp chế tài để xử lý. Thực tế này dẫn đến tình trạng trả hồ sơ giữa các cơ quan tố tụng, kéo dài thời hạn tố tụng, ảnh hưởng đến việc thực hiện mục tiêu chống oan, chống lọt trong TTHS.

- Yêu cầu nâng cao chất lượng tranh tụng tại các phiên toà xét xử, lấy kết quả tranh tụng tại toà làm căn cứ quan trọng để phán quyết bản án ở nhiều lúc, nhiều nơi vẫn mang tính chủ trương, chưa được quán triệt thực hiện nghiêm túc trên thực tế. Ý kiến tranh tụng của luật sư ở một số phiên toà chưa thực sự được xem xét và ghi nhận một cách thoả đáng.

- Việc quá nhấn mạnh phương pháp điều tra, đặc biệt với việc tiếp tục ghi nhận một cách đậm nét phương pháp tố tụng này tại giai đoạn xét xử thông qua việc quy định Hội đồng xét xử là người hỏi chính, hỏi đầu tiên và hỏi về toàn bộ các vấn đề trong vụ án đã dẫn đến sự thụ động của Kiểm sát viên trong việc chứng minh quan điểm buộc tội của mình, hạn chế một cách căn bản tính tích cực của bên bào chữa trong việc lập luận các chứng cứ gỡ tội, phản bác quan điểm của bên buộc tội; hạn chế sự cọ sát giữa chứng cứ, lập luận của bên buộc tội và bên bào chữa.

3. Phương hướng hoàn thiện mô hình TTHS Việt Nam      

Thực tiễn vận hành các mô hình TTHS đã chỉ ra rằng, mỗi mô hình đều có những hạt nhân hợp lý của nó và đều có những hạn chế không tránh khỏi. Việc áp dụng mô hình TTHS thẩm vấn ở nước ta trong suốt thời gian qua đó cho phép chúng ta kiểm soát được tình hình tội phạm, bảo đảm được trật tự, an toàn xã hội; từng bước đáp ứng yêu cầu bảo đảm dân chủ, bảo vệ quyền và lợi ích của những người tham gia tố tụng trong điều kiện trình độ dân trí cũng như kinh tế còn thấp. Nhưng trong điều kiện hiện nay, tình hình kinh tế - xã hội đó có những bước phát triển mới, đòi hỏi của công dân và xã hội đối với các cơ quan tư pháp ngày càng cao; các cơ quan tư pháp phải thật sự là chỗ dựa của nhân dân trong việc bảo vệ công lý, quyền con người, đồng thời phải là công cụ hữu hiệu bảo vệ pháp luật và pháp chế xã hội chủ nghĩa, đấu tranh có hiệu quả với các loại tội phạm và vi phạm pháp luật, những thay đổi này đòi hỏi phải có những cải cách trong TTHS.

Chúng tôi nhận thức rằng, chủ trương tăng cường tranh tụng đề ra trong các Nghị quyết của Đảng là nhằm mở rộng và tăng cường hơn nữa môi trường dân chủ, tính công khai, minh bạch, công bằng của quá trình giải quyết vụ án hình sự; thiết lập các cơ chế để bảo vệ ngày càng tốt hơn quyền con người, bảo đảm quyền dân chủ cho bị can, bị cáo và người đại diện của họ, mở ra các khả năng và điều kiện tốt nhất để họ thực hiện quyền bào chữa; bảo đảm quá trình giải quyết vụ án được khách quan, toàn diện, triệt để, vô tư; bảo đảm việc giải quyết vụ án được đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Chủ trương tăng cường tranh tụng không đồng nhất với việc từ bỏ mô hình TTHS nước ta hiện nay để chuyển sang mô hình TTHS tranh tụng. Cần thiết tiếp tục duy trì và phát huy những ưu điểm vốn có của mô hình TTHS thẩm vấn, tiếp thu những hạt nhân hợp lý của mô hình TTHS tranh tụng, phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam.

Trên cơ sở đó, cần tiếp tục khẳng định và phát huy những nội dung đặc trưng của TTHS thẩm vấn hiện đang phát huy tác dụng tích cực trong mô hình TTHS nước ta, phù hợp với các đặc điểm về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, truyền thống pháp lý của Việt Nam, cụ thể là:

- Tiếp tục xác định Toà án có trách nhiệm trong việc xác định sự thật vụ án. Theo đó, Toà án vẫn nghiên cứu hồ sơ vụ án trước khi mở phiên toà. Tại phiên toà, sau phần thẩm vấn của Kiểm sát viên và người bào chữa mà thấy còn những vấn đề chưa rõ, chưa đủ cơ sở cho việc ra phán quyết thì Thẩm phán yêu cầu Kiểm sát viên, người bào chữa thẩm vấn thêm hoặc trực tiếp tiến hành thẩm vấn bị cáo, nhân chứng và những người tham gia tố tụng khác...

- Tiếp tục khẳng định nhiệm vụ của Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát là đi tìm sự thật vụ án, tìm kiếm cả chứng cứ buộc tội và chứng cứ gỡ tội.

- Tiếp tục khẳng định và tăng cường hơn nữa vai trò của Viện kiểm sát trong TTHS, đặc biệt là trong giai đoạn điều tra vụ án. Viện kiểm sát không chỉ đóng vai trò là một bên trong TTHS (bên buộc tội) như trong mô hình TTHS tranh tụng, mà Viện kiểm sát còn có trách nhiệm bảo đảm chống bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, chống làm oan người vô tội, bảo đảm sự tuân thủ pháp luật của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng trong suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự.

- Tiếp tục ghi nhận giá trị chứng minh của các chứng cứ viết nếu thoả mãn đầy đủ các yêu cầu của chứng cứ về tính khách quan, tính liên quan và tính hợp pháp.

Đồng thời, để tiếp tục thể chế hoá chủ trương của Đảng về tăng cường tranh tụng, cần tiếp thu những hạt nhân hợp lý của mô hình TTHS tranh tụng vào TTHS nước ta, đó là:

- Tạo lập cơ chế để bảo đảm sự bình đẳng thực sự giữa bên buộc tội và bên bào chữa trong việc thực thi các chức năng buộc tội và bào chữa. Đề cao vai trò của người bào chữa trong các giai đoạn tố tụng.

- Quy định đầy đủ các quyền và xây dựng cơ chế bảo đảm thực hiện quyền của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong TTHS; tạo các điều kiện về pháp lý và thực tiễn để bị can, bị cáo và người bào chữa của họ thực hiện quyền chứng minh sự vô tội hoặc giảm tội, giảm nhẹ hình phạt; có biện pháp chế tài để xử lý kịp thời, nghiêm minh hành vi vi phạm quyền của những người tham gia tố tụng, nhất là vi phạm từ phía các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

- Phân định rành mạch các chức năng cơ bản của TTHS: buộc tội, bào chữa và xét xử. Đưa các chủ thể về đúng vị trí, vai trò tố tụng của mình.

- Cải tiến các thủ tục tố tụng tại phiên toà để bảo đảm tranh tụng dân chủ, bình đẳng giữa bên buộc tội và bên bào chữa. Phát huy vai trò, trách nhiệm của Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong việc thực hiện chức năng buộc tội thông qua việc xác định rõ chứng minh tội phạm là nghĩa vụ của bên buộc tội (Viện kiểm sát, Kiểm sát viên). Bên bào chữa được tạo cơ hội bình đẳng như Viện kiểm sát trong việc thực hiện chức năng bào chữa, chứng minh bị can, bị cáo không phạm tội hoặc giảm tội, giảm mức hình phạt. Toà án phải thực sự là hiện thân của công lý, của sự khách quan, vô tư trong quá trình xét xử vụ án. Toà án chỉ thực hiện chức năng xét xử, không thực hiện việc buộc tội bị cáo. Bất cứ thẩm quyền nào của Toà án mâu thuẫn với chức năng xét xử, ảnh hưởng đến tính khách quan của Toà án đều phải bị loại bỏ. Toà án có trách nhiệm tạo điều kiện để các bên tranh tụng dân chủ tại phiên toà; tôn trọng và lắng nghe đầy đủ ý kiến của các bên, ra phán quyết trên cơ sở kết quả tranh tụng dân chủ tại phiên toà.

- Nghiên cứu, tiếp thu một số nguyên tắc đặc trưng của tố tụng tranh tụng phù hợp với yêu cầu dân chủ hoá hoạt động TTHS ở nước ta, bảo đảm ngày càng tốt hơn các quyền con người trong quá trình giải quyết vụ án hình sự như: nguyên tắc tranh tụng, nguyên tắc suy đoán vô tội.


TS. Lê Hữu Thể - Phó Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao; ThS. Nguyễn Thị Thủy - Trưởng phòng Viện Khoa học kiểm sát, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao
Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu lập pháp điện tử
Các tin tiếp
Các tin trước
TIÊU ĐIỂM
Xem nhiều nhất