Hoàn thiện dấu hiệu hành vi trong mặt khách quan của tội gián điệp
0:59' 24/10/2010
Mặt khách quan của tội phạm là mặt bên ngoài của tội phạm, bao gồm những biểu hiện của tội phạm diễn ra hoặc tồn tại bên ngoài thế giới khách quan1. Trong đó, hành vi khách quan nguy hiểm cho xã hội là một dấu hiệu quan trọng. Vì vậy, hoàn thiện dấu hiệu hành vi trong mặt khách quan của các tội phạm, trong đó có Tội gián điệp là rất cần thiết.

1. Quy định của pháp luật

Theo Khoản 1, Điều 80 của Bộ luật Hình sự năm 1999 (BLHS), hành vi trong mặt khách quan của Tội gián điệp bao gồm: hoạt động tình báo, phá hoại hoặc gây cơ sở để hoạt động tình báo, phá hoại chống nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa (CHXHCN) Việt Nam; gây cơ sở để hoạt động tình báo, phá hoại theo sự chỉ đạo của nước ngoài; hoạt động thám báo, chỉ điểm, chứa chấp, dẫn đường hoặc thực hiện hành vi khác giúp nước ngoài hoạt động tình báo, phá hoại; cung cấp hoặc thu thập nhằm cung cấp bí mật nhà nước cho nước ngoài; thu thập, cung cấp tin tức, tài liệu khác nhằm mục đích để nước ngoài sử dụng chống nước CHXHCN Việt Nam.

 

2. Hoàn thiện dấu hiệu hành vi trong mặt khách quan của Tội gián điệp

 Trên cơ sở nghiên cứu, phân tích quy định của BLHS về yếu tố mặt khách quan của Tội gián điệp và tham khảo kinh nghiệm lập pháp hình sự của một số nước trên thế giới về tội này, chúng tôi cho rằng, trong quá trình sửa đổi, bổ sung quy định của BLHS về dấu hiệu hành vi trong mặt khách quan của Tội gián điệp, một mặt các nhà lập pháp cần mô tả hành vi phản ánh tính đặc trưng của loại tội này, mặt khác cũng cần quan tâm đến tính thống nhất về kỹ thuật lập pháp đối với Tội gián điệp trong mối quan hệ với các tội xâm phạm an ninh quốc gia trong BLHS. Theo đó, dấu hiệu hành vi trong mặt khách quan của Tội gián điệp cần hoàn thiện theo hướng sau đây:

Một là, không mô tả hành vi phá hoại hoặc gây cơ sở để hoạt động tình báo, phá hoại; gây cơ sở để hoạt động tình báo, phá hoại theo sự chỉ đạo của nước ngoài, hoạt động thám báo trong mặt khách quan của Tội gián điệp

Về hành vi phá hoại.

Trong pháp luật hình sự nước ta, ngoài hành vi hoạt động tình báo, hai mặt hoạt động khác của gián điệp là phá hoại và gây cơ sở được nhà làm luật quy định trong cấu thành Tội gián điệp, còn những mặt hoạt động khác không được quy định trong cấu thành tội phạm này mà quy định trong các điều luật khác tương ứng trong Chương các tội xâm phạm an ninh quốc gia. Đối với hoạt động của gián điệp biệt kích, BLHS quy định thành một tội độc lập là Tội xâm phạm an ninh lãnh thổ (Điều 81).

Theo quy định của BLHS hiện hành, tên gián điệp thực hiện hành vi phá hoại sẽ chỉ bị truy tố, xét xử về một tội là Tội gián điệp còn trường hợp ngoài hoạt động tình báo, tên gián điệp thực hiện thêm những hành vi khác như khủng bố, tổ chức bạo loạn, phá rối an ninh, tuyên tuyền chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam... thì sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự (TNHS) về hai tội. Hơn nữa, trong các Điều 85, 86, 87, 88 tại chương Các tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia đều đề cập hành vi phá hoại, và như vậy, nếu giữ nguyên như quy định trong BLHS hiện hành thì nội dung của các điều luật có sự trùng lặp. Điều đó không hợp lý cả về lý luận và thực tiễn. Vì vậy, chúng tôi cho rằng, trong mặt khách quan của Tội gián điệp không nên mô tả hành vi phá hoại. Người nào thực hiện hành vi phá hoại sẽ bị truy cứu TNHS về một trong các tội phạm tương ứng quy định tại các điều luật nêu trên tùy theo tính chất của hành vi phạm tội. Điều này có ý nghĩa quan trọng đối với thực tiễn áp dụng quy định của BLHS trong quá trình điều tra các vụ án xâm phạm an ninh quốc gia nói chung và điều tra các vụ án gián điệp nói riêng, cụ thể là việc xác định phạm vi giới hạn chứng minh sẽ hẹp và rõ ràng hơn. Khi hành vi “phá hoại” được thực hiện thì cơ quan điều tra chỉ cần xác định đối tượng tác động cụ thể sẽ xác định được tội danh, mà không phải mở rộng thêm nhiều giả thiết chứng minh trong quá trình điều tra.

Và lẽ dĩ nhiên, khi người nào thực hiện hành vi nhận làm việc cho tổ chức tình báo và thực hiện các nhiệm vụ do tổ chức tình báo giao, trong đó có thể thực hiện việc phá hoại thì tùy từng trường hợp cụ thể, họ có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội gián điệp hoặc bị truy cứu thêm về các tội phạm tương ứng.

Về hành vi gây cơ sở để hoạt động tình báo, phá hoại; gây cơ sở để hoạt động tình báo, phá hoại theo sự chỉ đạo của nước ngoài.

Theo quy định của BLHS, đây là một dạng hành vi độc lập và như vậy, khi đối tượng gián điệp thực hiện hành vi này thì tội phạm được coi là hoàn thành. Hành vi gây cơ sở, xét về bản chất là hành vi tìm kiếm, lựa chọn, tuyển mộ người vào tổ chức. Hành vi này thể hiện mặt hoạt động rất quan trọng của gián điệp vì gây cơ sở là yếu tố sống còn đối với sự tồn tại, phát triển của mạng lưới gián điệp và hoạt động của tổ chức gián điệp. Hành vi gây cơ sở thể hiện mối quan hệ giữa hai loại người, đó là người gây cơ sở và người được tuyển dụng. Sau khi được tuyển dụng vào tổ chức gián điệp thì người được tuyển dụng trở thành thành viên của tổ chức, hoạt động theo sự chỉ đạo của nước ngoài. Việc quy định hành vi gây cơ sở trong Tội gián điệp tại Điều 80 của BLHS thể hiện tinh thần kiên quyết và chủ động phòng ngừa trong đấu tranh chống gián điệp. Pháp luật trừng trị người phạm tội ngay từ lúc thực hiện hành vi gây cơ sở và chỉ cần thực hiện hành vi này thì Tội gián điệp đã hoàn thành. Mặc dù vậy, về mặt khoa học chúng tôi cho rằng, việc quy định hành vi gây cơ sở trong tội gián điệp là không cần thiết, bởi lẽ:

- Theo tinh thần nội dung của điều luật thì hành vi gây cơ sở có thể được thực hiện bởi người nước ngoài, người không quốc tịch hoặc do công dân Việt Nam thực hiện theo sự chỉ đạo của nước ngoài. Điều này thể hiện sự trùng lặp về hành vi trong một cấu thành tội phạm. Hơn nữa, đối với người thực hiện hành vi gây cơ sở thì họ đã là tên gián điệp được giao nhiệm vụ hoạt động chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam. Khi nhận làm việc cho tổ chức tình báo, họ đã phạm Tội gián điệp và tội phạm đã ở giai đoạn hoàn thành. Và như vậy, người đã nhận làm việc cho tổ chức tình báo dù đã thực hiện hay chưa thực hiện hành vi gây cơ sở thì cũng đã phạm Tội gián điệp.

Điều bất hợp lý này sẽ được khắc phục nếu Tội gián điệp quy định hành vi “nhận làm việc cho tổ chức tình báo”. Hành vi nhận làm việc cho tổ chức tình báo có thể do công dân Việt Nam, người nước ngoài và người không quốc tịch thực hiện. Người đó có thể thực hiện bất kỳ nhiệm vụ gì của tổ chức tình báo giao cho đều phạm Tội gián điệp chứ không chỉ thực hiện hành vi gây cơ sở. Cách quy định này vừa phục vụ tốt yêu cầu phòng ngừa và đấu tranh chống gián điệp, vừa đảm bảo tính khoa học về kỹ thuật lập pháp hình sự.

- Thực chất hành vi “gây cơ sở” quy định tại điểm a và b, Khoản 1 Điều 80 của BLHS là hành vi tuyển mộ người, phát triển lực lượng, củng cố tổ chức nhằm tiến hành các hoạt động chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam, mà trước hết là tiến hành hoạt động tình báo, phá hoại. Loại hành vi này không chỉ là hành vi phản ánh mặt khách quan của Tội gián điệp mà còn có thể được phản ánh trong mặt khách quan của nhiều cấu thành tội phạm các tội xâm phạm an ninh quốc gia khác. Trong các tội xâm phạm an ninh quốc gia khác, nhà làm luật đã không quy định hành vi này trong mặt khách quan của các cấu thành tội phạm đó. Và như vậy, theo chúng tôi, việc quy định hành vi “gây cơ sở” trong cấu thành tội phạm Tội gián điệp là chưa hợp lý, không bảo đảm tính thống nhất và khoa học về kỹ thuật lập pháp.

- Việc quy định thuật ngữ “theo sự chỉ đạo của nước ngoài” trong điều luật đã dẫn đến một thực trạng là các nhà nghiên cứu cũng như một số tác giả đã cố gắng phân biệt nó với thuật ngữ “câu kết với nước ngoài” trong Tội phản bội Tổ quốc (Điều 78) nhằm xác định tội danh cho phù hợp. Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng, việc phân biệt Tội phản bội Tổ quốc với Tội gián điệp bằng cách giải thích thuật ngữ thì chưa thật sự thuyết phục. Bởi lẽ, sự khác biệt giữa Tội phản bội Tổ quốc và Tội gián điệp không phải là ở tính chất của “mối liên hệ với nước ngoài” mà chính là do tính chất của hành vi phạm tội, tính chất của khách thể và mục đích của người phạm tội. Hơn nữa, trên thực tế, các cơ quan có thẩm quyền chưa có giải thích chính thức về thuật ngữ “nước ngoài” trong các tội xâm phạm an ninh quốc gia nói chung và trong Tội gián điệp nói riêng, nên đã dẫn đến những cách hiểu khác nhau về thuật ngữ này, gây không ít  khó khăn cho quá trình điều tra, chứng minh hành vi phạm tội. Vì vậy, việc không quy định hành vi gây cơ sở nói chung và hành vi gây cơ sở theo sự chỉ đạo của nước ngoài nói riêng, một mặt sẽ bảo đảm tính thống nhất về kỹ thuật lập pháp; mặt khác góp phần bảo đảm nhận thức đúng đắn về hành vi trong mặt khách quan của tội gián điệp, qua đó nâng cao hiệu quả của hoạt động áp dụng pháp luật hình sự trong quá trình điều tra các vụ án xâm phạm an ninh quốc gia.

Về hành vi hoạt động thám báo.

Chúng ta biết rằng, các mặt hoạt động của thám báo chủ yếu là thu thập tình báo chiến thuật và phá hoại cơ sở vật chất, kho tàng, thiết bị quân sự của đối phương. Khi thám báo hoạt động thu thập tình báo thì về bản chất đó là hoạt động tình báo - đây là hành vi đặc trưng của Tội gián điệp, còn trường hợp xâm nhập lãnh thổ và có hành vi làm phương hại cho an ninh lãnh thổ (hoạt động kiểu gián điệp biệt kích) lại là hành vi xâm phạm an ninh lãnh thổ. Như vậy, nếu vẫn quy định hoạt động thám báo là hành vi khách quan của Tội gián điệp sẽ dẫn đến sự trùng lặp. Mặt khác, hoạt động thám báo không phải khi nào cũng phản ánh được đặc trưng, bản chất của Tội gián điệp. Từ sự phân tích trên, theo chúng tôi, nhà làm luật không nên quy định hành vi hoạt động thám báo trong cấu thành Tội gián điệp.

Hai là, không mô tả hành vi của người đồng phạm trong mặt khách quan của Tội gián điệp, bởi lẽ:

Hành vi “chỉ điểm, chứa chấp, dẫn đường hoặc hành vi khác giúp người nước ngoài hoạt động tình báo phá hoại”, về bản chất là hành vi giúp sức. Xét về kỹ thuật lập pháp, các hành vi này đã được mô tả trong chế định đồng phạm (Điều 20 của BLHS) - một chế định bổ sung của chế định tội phạm nên không cần phải mô tả cụ thể các hành vi này trong mặt khách quan của Tội gián điệp mà vẫn có thể truy cứu TNHS đối với người thực hiện một trong các hành vi đó. Hơn nữa, xét về mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội thì hành vi giúp sức thường thấp hơn hành vi của người thực hành. Đặc biệt, do đặc điểm, tính chất của hoạt động gián điệp là bí mật, đơn tuyến nên người giúp sức đối với người hoạt động gián điệp thường chỉ biết về người mà mình giúp đỡ một cách chung chung. Mặt khác, trong nhiều trường hợp, người giúp sức mặc dù biết người mà mình chứa chấp, dẫn đường là gián điệp nhưng việc giúp đỡ của họ không phải vì căm thù chế độ, muốn gây thiệt hại cho chính quyền mà có thể do tình cảm, vật chất... Trong những trường hợp đó mà xác định hành vi giúp sức là hành vi khách quan của Tội gián điệp và áp dụng khung hình phạt như người thực hành (phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình) là chưa bảo đảm nguyên tắc công bằng cũng như nguyên tắc phân hóa trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội. Bên cạnh đó, trong các tội xâm phạm an ninh quốc gia, hành vi giúp sức được nhà làm luật mô tả là hành vi thuộc mặt khách quan của cấu thành tội phạm chỉ trong một tội duy nhất là Tội gián điệp; còn trong các tội khác, hành vi giúp sức không được coi là hành vi khách quan của cấu thành tội phạm cơ bản mà nó có thể được quy định trong cấu thành tội phạm giảm nhẹ với mức hình phạt được quy định thấp hơn như các tội được nêu tại điều 79, 81, 82, 83, 89 của BLHS.

Ba là, không nên quy định hành vi cung cấp hoặc thu thập nhằm cung cấp bí mật nhà nước cho nước ngoài; thu thập, cung cấp tin tức, tài liệu khác nhằm mục đích để nước ngoài sử dụng chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam.

Theo chúng tôi, không quy định các hành vi trên trong cấu thành tội phạm Tội gián điệp vì: 1) những hành vi quy định tại điểm c, Khoản 1 Điều 80 của BLHS thực chất chính là hành vi “hoạt động tình báo” đã được quy định tại điểm a, Khoản 1 Điều 80 của BLHS. Theo quy định của BLHS thì hai hành vi này được phân biệt với nhau ở yếu tố chủ thể. Hành vi quy định tại điểm a, Khoản 1 do người nước ngoài, người không quốc tịch thực hiện, còn hành vi quy định tại điểm c, Khoản 1 do công dân Việt Nam thực hiện. Tuy nhiên, Tội gián điệp có thể do công dân Việt Nam, người nước ngoài, người không quốc tịch thực hiện thì việc giữ nguyên quy định như BLHS hiện hành là có sự trùng lặp không cần thiết. Người nào thực hiện hành vi “cung cấp hoặc thu thập nhằm cung cấp bí mật nhà nước cho nước ngoài; thu thập, cung cấp tin tức, tài liệu khác nhằm mục đích để nước ngoài sử dụng chống nước CHXHCN Việt Nam” đều được coi là thực hiện hoạt động tình báo và người đó sẽ bị truy cứu TNHS về Tội gián điệp; 2) thực tiễn điều tra, truy tố và xét xử các vụ án gián điệp cho thấy, việc xử lý một số đối tượng đã thực hiện hành vi “thu thập, cung cấp tin tức, tài liệu khác nhằm mục đích để nước ngoài sử dụng chống nước CHXHCN Việt Nam” trong thời gian qua ở nước ta không thật sự thuyết phục được dư luận trong nước cũng như ở nước ngoài. Điều này là yếu tố không thuận lợi khi Việt Nam đang thực hiện đường lối đối ngoại rộng mở với các quốc gia trên thế giới; 3) cách quy định như BLHS sẽ gây khó khăn cho quá trình điều tra, chứng minh “mục đích để nước ngoài sử dụng chống nước CHXHCN Việt Nam”, thậm chí có những trường hợp cơ quan điều tra đã không chứng minh được, do người thực hiện hành vi đó chỉ biết cung cấp cho nước ngoài hoặc chỉ vì được trả tiền hậu hĩnh, được cho ra nước ngoài tham quan, du lịch, chữa bệnh, giúp đỡ khi gặp khó khăn trong đời sống gia đình, công tác. Việc nước ngoài có sử dụng tin tức, tài liệu đó hay không, sử dụng vào việc gì thì họ cũng không biết, thậm chí không thể biết. Hơn nữa, tại điểm c, Khoản 1 Điều 80 của BLHS, nhà làm luật tiếp tục sử dụng thuật ngữ “nước ngoài” với tần suất hai lần, trong khi đó lại không có sự giải thích chính thức về thuật ngữ này, do đó đã ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả của hoạt động điều tra các vụ án gián điệp trong thực tế.

Như vậy, trên cơ sở lập luận khoa học về dấu hiệu hành vi trong mặt khách quan của Tội gián điệp theo quy định của BLHS hiện hành, chúng tôi cho rằng, cần hoàn thiện quy định của BLHS hiện hành về dấu hiệu hành vi trong mặt khách quan của tội gián điệp như sau:

“Điều 80. Tội gián điệp

1. Người nào nhằm chống Nhà nước CHXHCN  Việt Nam mà nhận làm việc cho tổ chức tình báo, hoạt động tình báo thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình;…”.

Quy định như trên có ý nghĩa quan trọng ở những phương diện sau đây:

Thứ nhất, bảo đảm được sự nhận thức và áp dụng thống nhất pháp luật hình sự của các cơ quan và người có thẩm quyền đối với một số vấn đề trong BLHS còn bất cập và hạn chế, cụ thể là: xác định những hành vi mang tính đặc trưng nhất của hoạt động gián điệp để phản ánh trong mặt khách quan của Tội gián điệp; qua đó giúp cho việc xác định thời điểm hoàn thành của tội phạm phù hợp với lý luận và thực tiễn;

Thứ hai, thể hiện tính chính xác về mặt khoa học vì dựa trên cơ sở lý luận đúng đắn và các nguyên tắc của pháp luật hình sự như nguyên tắc pháp chế, phân hóa trách nhiệm hình sự, công bằng, nhân đạo. 

Thứ ba, cách quy định như vậy sẽ chặt chẽ, chính xác và rõ ràng hơn, góp phần giúp cho các cơ quan và người tiến hành tố tụng xử lý đúng người, đúng tội, không bỏ lọt tội phạm, làm oan người vô tội.


ThS. Nguyễn Anh Tuấn - Bộ môn Pháp luật, Học viện An ninh nhân dân
Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu lập pháp điện tử
_________________________

(1) Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật hình sự Việt Nam, tập I, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, tr. 91.

Các tin tiếp
Các tin trước
TIÊU ĐIỂM
Xem nhiều nhất