Hậu quả của việc áp dụng miễn trách nhiệm hình sự: Lý luận, thực tiễn và hướng hoàn thiện pháp luật
10:38' 13/11/2010
Là một trong những chế định quan trọng của luật hình sự Việt Nam, miễn trách nhiệm hình sự (TNHS) thể hiện chính sách phân hóa TNHS và nguyên tắc nhân đạo của Nhà nước ta đối với người phạm tội, đồng thời động viên, khuyến khích người phạm tội lập công chuộc tội, chứng tỏ khả năng giáo dục, cải tạo, nhanh chóng hòa nhập cộng đồng và trở thành người có ích cho xã hội. Tuy nhiên, miễn TNHS đối với một người có thể sẽ dẫn đến hậu quả gì là vấn đề chưa được khoa học luật hình sự quan tâm nghiên cứu và cũng chưa được các nhà làm luật nước ta giải quyết dứt khoát trên phương diện lập pháp hình sự.


1. Khái niệm và các đặc điểm cơ bản của miễn trách nhiệm hình sự

     Ở nước ta, khái niệm miễn TNHS chưa được giải thích trong các văn bản pháp luật thực định. Trong khoa học luật hình sự Việt Nam và nước ngoài cũng còn nhiều quan điểm không thống nhất về nội dung và nội hàm khái niệm này1. Chúng tôi cho rằng, dưới góc độ khoa học luật hình sự, miễn TNHS được hiểu là việc không buộc một người đáp ứng những điều kiện nhất định phải gánh chịu hậu quả pháp lý bất lợi do người đó đã thực hiện hành vi phạm tội, mà vẫn bảo đảm yêu cầu đấu tranh phòng và chống tội phạm, cũng như công tác giáo dục, cải tạo người phạm tội.

Dưới góc độ pháp lý - xã hội, miễn TNHS có đặc điểm2:

- Cũng như TNHS, miễn TNHS thể hiện sự phản ứng (lên án) đối với người có hành vi phạm tội từ phía Nhà nước và xã hội.

- Miễn TNHS phản ánh chính sách phân hóa tội phạm và người phạm tội trong luật hình sự Việt Nam. Chính sách phân hóa này “cũng là một cách hiệu nghiệm của việc thực hiện tốt nguyên tắc không để lọt tội phạm và người phạm tội... việc quy định chế định miễn TNHS... chứng tỏ rằng, con đường cơ bản, hậu quả cơ bản của tội phạm là TNHS, hình phạt và chấp hành hình phạt, còn tha miễn chỉ là trường hợp cá biệt, cụ thể, khi hoàn cảnh cụ thể đòi hỏi...”3.

- Miễn TNHS thể hiện nội dung nguyên tắc nhân đạo của luật hình sự Việt Nam là “nghiêm trị kết hợp với khoan hồng”, “trừng trị kết hợp với giáo dục, thuyết phục, cải tạo”. 

- Miễn TNHS có mối quan hệ chặt chẽ và mật thiết với TNHS, nhiều nội dung về miễn TNHS được xuất phát từ TNHS. Ngoài ra, cũng như TNHS, miễn TNHS chỉ áp dụng đối với người mà hành vi của họ đã thỏa mãn các dấu hiệu của một cấu thành tội phạm cụ thể trong Phần các tội phạm của Bộ luật Hình sự (BLHS), nhưng họ lại có những điều kiện nhất định để được miễn TNHS.

- Người được miễn TNHS không phải chịu các hậu quả pháp lý hình sự bất lợi của việc phạm tội, nhưng có thể phải chịu hậu quả bị áp dụng một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế phi hình sự được quy định trong các ngành luật tương ứng khác.

Như vậy, không phải bất kỳ trường hợp nào một người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà luật hình sự quy định là tội phạm, bị xã hội lên án và đáng bị xử lý về hình sự đều phải chịu TNHS, mà có trường hợp xét thấy không cần phải áp dụng TNHS đối với người đó vẫn có thể đáp ứng được yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm, cũng như công tác giáo dục, cải tạo người phạm tội và phù hợp với nguyên tắc nhân đạo của luật hình sự, thì theo quy định của pháp luật, họ được miễn TNHS.

2. Hậu quả của việc áp dụng miễn trách nhiệm hình sự

Theo Từ điển Tiếng Việt, hậu quả là “kết quả không hay về sau”4. Lẽ dĩ nhiên, không thể căn cứ vào Từ điển tiếng Việt để xây dựng thuật ngữ luật hình sự. Song, căn cứ vào các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành và thực tiễn áp dụng, dưới góc độ chung, hậu quả của việc áp dụng miễn TNHS được hiểu là kết quả bất lợi do pháp luật quy định (hoặc do việc miễn TNHS đưa lại) cho người có hành vi phạm tội khi đáp ứng những điều kiện nhất định.

 

Là một chế định của luật hình sự Việt Nam, hậu quả pháp lý trực tiếp của miễn TNHS là một vấn đề quan trọng mà thực tiễn vẫn áp dụng nhưng cần phải làm sáng tỏ trên bình diện khoa học luật hình sự. Xuất phát từ nội dung, cơ sở của TNHS, thì miễn TNHS chỉ áp dụng đối với người mà hành vi của họ đã thỏa mãn các dấu hiệu của một cấu thành tội phạm cụ thể trong Phần các tội phạm của BLHS, nhưng họ lại có những điều kiện nhất định để được miễn TNHS. Từ khái niệm hậu quả của miễn TNHS kết hợp với thực tiễn áp dụng cho thấy vấn đề này cần xem xét dưới hai góc độ sau:

2.1. Hậu quả pháp lý hình sự

Trên cơ sở nghiên cứu các văn bản pháp luật hình sự hiện hành có liên quan đến TNHS và miễn TNHS cho thấy, người được miễn TNHS không phải chịu các hậu quả pháp lý hình sự bất lợi của việc phạm tội như: họ (có thể) không bị truy cứu TNHS, không bị kết tội, không phải chịu hình phạt hoặc biện pháp cưỡng chế về hình sự khác và không bị coi là có án tích... Ở đây là họ có thể không bị truy cứu TNHS... chứ không thể khẳng định một cách dứt khoát rằng, miễn TNHS đối với người phạm tội tức là miễn truy cứu TNHS... Bởi lẽ, theo các quy định của pháp luật Việt Nam, giả thiết rằng nếu ở giai đoạn truy tố hoặc xét xử, người phạm tội mới được Viện kiểm sát hoặc Tòa án áp dụng văn bản (hay bản án) đình chỉ vụ án và miễn TNHS, thì lúc này, việc truy cứu TNHS người đó đã được tiến hành và trải qua một giai đoạn trước đó (giai đoạn điều tra hoặc truy tố), cũng như Cơ quan Điều tra (hoặc Viện kiểm sát) đã đưa người này vào vòng tố tụng rồi.

Như vậy, căn cứ vào các quy định của pháp luật hình sự, người được miễn TNHS không phải chịu bất kỳ hậu quả gì dưới góc độ pháp lý hình sự. Tính cưỡng chế (trấn áp) về mặt hình sự của chế định miễn TNHS khi áp dụng đối với người phạm tội là không có.

2.2. Hậu quả xã hội - pháp lý

Dưới góc độ pháp lý- xã hội nói chung, người được miễn TNHS phải gánh chịu hậu quả xã hội - pháp lý nhất định. Điều này được thể hiện trên các phương diện:

Về mặt xã hội: người được miễn TNHS bị Nhà nước, xã hội và công luận lên án hành vi phạm tội. Diễn biến, phân tích vụ việc, hành vi và quá trình điều tra họ, tùy thuộc vào các giai đoạn TTHS tương ứng (điều tra, truy tố hay xét xử) được dư luận quan tâm vì họ bị coi là người đã thực hiện hành vi phạm tội. Do bị xã hội lên án, người được miễn TNHS cũng coi như phải chịu sự tác động, ảnh hưởng đến tâm lý, tinh thần và danh dự của mình và ở một chừng mực nhất định, họ đã bị “hạ thấp vị thế” trước cơ quan, đơn vị, tổ chức và cộng đồng dân cư.

Về mặt pháp lý: người được miễn TNHS không được bồi thường thiệt hại theo quy định của Điều 27 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009.

Ngoài ra, thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử của các cơ quan tiến hành TTHS ở nước ta trong thời gian qua cho thấy, người được miễn TNHS vẫn có thể phải chịu các biện pháp cưỡng chế phi hình sự thuộc các ngành luật tương ứng, như: bị áp dụng các biện pháp ngăn chặn (bắt, tạm giữ, tạm giam...) theo quy định của pháp luật TTHS; buộc bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật dân sự; xử phạt hành chính theo quy định của pháp luật hành chính; bị xử lý kỷ luật theo quy định của pháp luật lao động;... Những biện pháp này có thể được coi là biện pháp hỗ trợ nhằm giáo dục, cải tạo người phạm tội, cũng như thể hiện sự lên án hành vi phạm tội của họ, dù họ không phải chịu hậu quả pháp lý hình sự về hành vi của mình. Hơn nữa, điều đó cũng thể hiện nguyên tắc công bằng trong luật hình sự Việt Nam. Nghiên cứu ngẫu nhiên 24 vụ án được áp dụng miễn TNHS cho các bị can, bị cáo trong những năm gần đây ở nước ta cho thấy, việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế phi hình sự thuộc các ngành luật tương ứng khác không có sự thống nhất, cụ thể là5:

Đặc biệt, gần đây nhất, bị can V. (công tác ở một Bộ) đã được Viện kiểm sát nhân dân tối cao (VKSNDTC) đình chỉ điều tra và miễn TNHS (Quyết định đình chỉ ngày 28/3/2008) cũng không áp dụng biện pháp cưỡng chế phi hình sự nào khác6, nhưng sau đó, ngày 11/4/2008, VKSNDTC lại có văn bản gửi Bộ chủ quản đề nghị xử lý hành chính về hành vi thiếu trách nhiệm trong một vụ án. Ngày 25/4/2008, ông V. đã có văn bản gửi giải trình và kiến nghị một số vấn đề về tố tụng và xử lý đối với ông. Theo đó, ông V. cho rằng việc VKSNDTC miễn TNHS đối với ông về tội thiếu trách nhiệm nhưng lại kiến nghị Bộ chủ quản xử lý hành chính đối với ông cùng về hành vi này là trái với quy định của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính...

Dưới góc độ pháp lý, chúng tôi cho rằng, việc VKSNDTC kiến nghị Bộ chủ quản xử lý hành chính đối với ông V. là có cơ sở pháp lý và thực tiễn. Bởi lẽ, không xử lý hình sự không có nghĩa là miễn trách nhiệm hành chính. Trong pháp luật, chế tài pháp lý hình sựchế tài pháp lý hành chính là hai loại chế tài khác nhau. Việc không xử lý bằng chế tài hình sự không đồng nghĩa là miễn trách nhiệm hành chính cho ông V. Trách nhiệm hành chính được áp dụng bởi các vi phạm pháp luật hành chính theo pháp luật xử lý hành chính. Thẩm quyền áp dụng các biện pháp xử lý hành chính là của các cơ quan quản lý nhà nước. Do vậy, việc VKSNDTC ra quyết định đình chỉ điều tra đối với ông V. và kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý hành chính ông V. là đúng pháp luật. Thêm nữa, hành vi vi phạm của ông V. chưa có quyết định xử lý nào, nay đề nghị xử lý hành chính là phù hợp. Việc được miễn TNHS chỉ là vấn đề chấm dứt quá trình tố tụng đối với một người, đối với vụ án của các cơ quan tiến hành tố tụng, còn việc các cơ quan quản lý nhà nước xử lý trách nhiệm cán bộ, công chức do cơ quan, đơn vị mình quản lý lại là một việc khác. Ông V. là công chức nhà nước nên khi vi phạm pháp luật, nếu chưa đến mức cần thiết phải truy cứu TNHS thì tùy theo tính chất vi phạm mà ông phải chịu một trong các hình thức kỷ luật. Ông V. được miễn TNHS về hành vi thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng, nhưng về mặt kỷ luật hành chính, ông V. vẫn thuộc trường hợp bị xử lý kỷ luật hành chính đối với hành vi thiếu trách nhiệm được quy định tại khoản 3 Điều 2 Nghị định 35/2005/NĐ-CP ngày 17/3/2005 của Chính phủ về việc xử lý kỷ luật cán bộ, công chức: “...bị cơ quan có thẩm quyền kết luận bằng văn bản về hành vi vi phạm pháp luật”.

Bên cạnh đó, mặc dù trong BLHS hiện hành chưa có quy định, nhưng để thể hiện sự lên án của Nhà nước đối với người được miễn TNHS, Công văn số 24/1999/KHXX ngày 17/3/1999 của TANDTC về việc giải đáp bổ sung một số vấn đề về áp dụng pháp luật, thì “tùy trường hợp cụ thể, người được miễn TNHS có thể bị xử lý hành chính”. Như vậy, việc VKSNDTC đề nghị Bộ chủ quản xử lý hành chính ông V. trong trường hợp đã nêu là có cơ sở pháp lý.

3. Hoàn thiện pháp luật về vấn đề hậu quả của việc áp dụng miễn trách nhiệm hình sự

3.1. Mối quan hệ giữa trách nhiệm hình sự và miễn trách nhiệm hình sự

Hoàn thiện pháp luật hình sự và pháp luật TTHS Việt Nam có liên quan đến việc áp dụng TNHS và miễn TNHS. Trước hết, khái niệm miễn TNHS cũng xuất phát từ khái niệm TNHS. Không thể tồn tại khái niệm miễn TNHS nếu không có khái niệm TNHS7. Cơ sở của miễn TNHS cũng được xuất phát từ cơ sở của TNHS8. “TNHS là trách nhiệm pháp lý đặt ra đối với người phạm tội thì miễn TNHS, miễn hậu quả pháp lý của việc phạm tội cũng chỉ có thể đặt ra đối với người phạm tội. Không thể áp dụng miễn TNHS đối với người không có hành vi thỏa mãn dấu hiệu pháp lý của một cấu thành tội phạm được quy định trong luật hình sự...”9.

Như vậy, trong khoa học luật hình sự và pháp luật thực định tồn tại hai khái niệm cần phải làm sáng tỏ, đó là khái niệm “người phạm tội” và “người có tội”. Thuật ngữ “người phạm tội” dùng để chỉ một người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà luật hình sự quy định là tội phạm. Nói cách khác, hành vi do người đó thực hiện đã thỏa mãn các dấu hiệu của một cấu thành tội phạm nào đó được quy định trong Phần các tội phạm của BLHS và người thực hiện hành vi đó bị đặt vào trường hợp bị nghi là chủ thể của tội phạm. Còn thuật ngữ “người có tội” cũng sử dụng để xác định một người đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà luật hình sự quy định là tội phạm, nhưng họ đã có bản án kết tội có hiệu lực pháp luật của Tòa án, trong đó chứng minh lỗi hình sự của người này. Cho nên, thời điểm phát sinh cơ sở của TNHS là thời điểm một người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà luật hình sự quy định là tội phạm, nhưng có thể TNHS sẽ không được thực hiện trên thực tế, nếu có những điều kiện để miễn TNHS cho người đó theo quy định của BLHS. Tương ứng như vậy, theo chúng tôi, tên tội danh tại Điều 293 (Tội truy cứu TNHS người không có tội) và Điều 294 (Tội không truy cứu TNHS người có tội) BLHS năm 1999 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009) cần phải được nghiên cứu cho đúng với bản chất của hành vi phạm tội do chủ thể nào đó thực hiện trong từng giai đoạn tương ứng khác nhau (bao gồm cả giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử). Theo đó, tên tội danh của các tội trên nên sửa thành: Điều 293. Tội truy cứu TNHS người không phạm tội; Điều 294. Tội không truy cứu TNHS người phạm tội

Đối tượng bị áp dụng TNHS và được áp dụng miễn TNHS đều là người phạm tội, tức là người đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà luật hình sự quy định là tội phạm. Người phạm tội ở đây đã thỏa mãn đầy đủ các dấu hiệu là chủ thể của tội phạm. Trong trường hợp người phạm tội là người phải chịu TNHS, họ phải gánh chịu hậu quả pháp lý bất lợi của việc thực hiện tội phạm, người phạm tội phải chịu mang án tích (nếu bị áp dụng hình phạt) và sẽ bị coi là người có tội. Người được miễn TNHS cũng là người phạm tội nhưng họ lại có những điều kiện để được miễn TNHS nên không phải chịu các hậu quả pháp lý hình sự bất lợi của việc phạm tội do mình thực hiện.

Ngoài ra, nếu TNHS chỉ phát sinh khi có sự việc phạm tội thì trong quá trình thực hiện TNHS, có trường hợp TNHS cũng có thể được chấm dứt ngay không được thực hiện, khi có căn cứ để miễn TNHS cho người phạm tội (các Điều 164, 169, 181, 249 và 314 Bộ luật TTHS năm 2003). Như vậy, căn cứ vào các quy định của pháp luật cho thấy: nếu việc thực hiện TNHS chỉ do duy nhất một cơ quan là Tòa án nhân danh Nhà nước áp dụng, thì trên thực tế hiện nay, nhiều trường hợp việc miễn TNHS đối với một người nào đó không phải và không nhất thiết phải có một quyết định của một cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền của Nhà nước10. Tuy nhiên, việc áp dụng chế định TNHS và chế định miễn TNHS cũng có điểm chung về thẩm quyền áp dụng - Tòa án khi tuyên bố một người có TNHS - có tội hay được miễn TNHS nếu ở giai đoạn xét xử, song hậu quả của hai trường hợp do Tòa án tuyên là khác nhau. Trường hợp thứ nhất (áp dụng TNHS), chủ thể bị coi là có tội và được thể hiện trong bản án kết tội đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án. Trường hợp thứ hai (áp dụng miễn TNHS), chủ thể bị coi là người phạm tội, nhưng họ không phải chịu hậu quả pháp lý của việc phạm tội - có nghĩa được miễn chịu biện pháp cưỡng chế của TNHS và miễn mang án tích. Vì vậy, dưới góc độ pháp lý, để áp dụng TNHS đối với người đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà luật hình sự quy định là tội phạm, thì căn cứ vào nguyên tắc Hiến định về suy đoán vô tội đã được ghi nhận trong đoạn 1 Điều 72 Hiến pháp năm 1992 và Điều 9 Bộ luật TTHS năm 2003 của nước ta rằng: “Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật”, thì TNHS chỉ được chính thức thực hiện khi bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Điều này có nghĩa, từ thời điểm bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật mới có việc áp dụng trên thực tế sự hạn chế hoặc sự tước bỏ quyền, tự do (thậm chí sinh mạng) của người bị kết án. Nói cách khác, theo các quy định của pháp luật nước ta, việc áp dụng TNHS chỉ có thể và do duy nhất một cơ quan có thẩm quyền áp dụng - Tòa án. Từ luận điểm trên đây, dẫn đến một logic đương nhiên rằng: cũng chỉ có Tòa án mới được áp dụng chế định miễn TNHS. Cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát không thể là các cơ quan có thẩm quyền áp dụng miễn TNHS, nhưng điều này lại mâu thuẫn với chính các quy định của pháp luật TTHS hiện hành11. Bởi lẽ, theo quy định của Bộ luật TTHS năm 2003 thì, phụ thuộc vào giai đoạn TTHS tương ứng cụ thể (điều tra, truy tố, xét xử), miễn TNHS có thể được áp dụng bởi các Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án (Điều 164, 169, 181, 249 và 314) ra quyết định đình chỉ điều tra hoặc đình chỉ vụ án khi có đầy đủ những điều kiện luật định. Theo đó, ở đây không chỉ có Tòa án có quyền đánh giá một người có TNHS và được miễn TNHS mà còn có cả các Cơ quan Điều tra và Viện kiểm sát.

3.2. Nội dung hoàn thiện vấn đề hậu quả của việc áp dụng miễn trách nhiệm hình sự trong pháp luật

Từ thực trạng các quy định của pháp luật về mối quan hệ giữa TNHS và miễn TNHS, chúng tôi cho rằng, trong thời gian tới, hoàn thiện vấn đề hậu quả của việc áp dụng miễn TNHS phải:

Một là, ghi nhận thống nhất thẩm quyền xác định có TNHS và miễn TNHS theo hướng việc áp dụng chúng nên giao cho duy nhất một cơ quan là Tòa án áp dụng12 trong Bộ luật TTHS. Bởi lẽ, người phải chịu TNHS hay được miễn TNHS đều là người phạm tội. Họ là chủ thể đã thực hiện hành vi phạm tội do luật hình sự quy định, có lỗi, có đủ năng lực TNHS theo luật định nhưng nội dung và hậu quả pháp lý sau đó đối với hai trường hợp này là khác nhau. Việc Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát ra quyết định đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án đối với các trường hợp tương ứng chỉ là biện pháp “miễn truy cứu TNHS” dưới góc độ TTHS khi có căn cứ để miễn TNHS theo luật hình sự; việc miễn TNHS theo đúng nghĩa là thuộc về luật nội dung và do Tòa án áp dụng. Điều này phù hợp với nội dung Thông tư liên ngành số 05/TTLN ngày 02/6/1990 do Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an), VKSNDTC, TANDTC, Bộ Tư pháp ban hành “Hướng dẫn thi hành chính sách khoan hồng, nhân đạo của Nhà nước đối với người phạm tội ra tự thú” đã nêu rõ căn cứ để miễn truy cứu TNHS đối với người phạm tội trốn khỏi nơi giam. Theo đó, miễn TNHS đối với tội phạm này được dùng với tên gọi “miễn truy cứu TNHS”. Tương ứng như vậy, Tòa án - cơ quan nhân danh Nhà nước ra quyết định đình chỉ vụ án mới có quyền áp dụng chế định miễn TNHS song song với việc xác định có TNHS đối với sinh mệnh - vốn quý nhất của một con người. Vì vậy, để bảo đảm tính thống nhất với Hiến pháp năm 1992, các nhà làm luật nên nghiên cứu vấn đề và sửa đổi như sau: Bộ luật TTHS chuyển sang hướng xây dựng mô hình TTHS theo hướng tranh tụng; sửa đổi, bổ sung quy định ở các giai đoạn điều tra, truy tố (do Cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát áp dụng) là đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án khi có căn cứ để miễn truy cứu TNHS, còn ở giai đoạn xét xử, Tòa án mới có quyền đình chỉ vụ án và miễn TNHS (căn cứ vào luật nội dung - BLHS); sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật (đặc biệt là TTHS) có liên quan đến các vấn đề trên để bảo đảm tối đa các quyền của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, vì nếu đợi đến giai đoạn xét xử Tòa án mới quyết định có miễn TNHS hay không thì rất có khả năng vi phạm các quyền tự do thân thể của công dân từ các cơ quan tiến hành tố tụng. 

Hai là, trong BLHS cũng cần sửa đổi, bổ sung một số nội dung liên quan đến vấn đề hậu quả của việc miễn TNHS như sau:

- Ghi nhận rõ bản chất pháp lý của việc miễn TNHS để phân biệt với những khái niệm khác thông qua việc ghi nhận khái niệm miễn TNHS trong BLHS.

- Khẳng định người được miễn TNHS đương nhiên không phải chịu các hậu quả pháp lý hình sự bất lợi của việc phạm tội do mình thực hiện, như: không bị kết tội, không phải chịu hình phạt hoặc biện pháp cưỡng chế về hình sự khác và không bị coi là có án tích.

- Để tăng cường tính cưỡng chế về hình sự, khả năng cải tạo, giáo dục người phạm tội, cũng như bảo đảm nguyên tắc pháp chế và nguyên tắc công bằng trong luật hình sự Việt Nam, các nhà làm luật nước ta cũng cần phải khẳng định một cách dứt khoát và ghi nhận phạm vi các biện pháp có khả năng sẽ được áp dụng đối với người được miễn TNHS là: “Tùy từng giai đoạn tố tụng tương ứng, các cơ quan tiến hành tố tụng có thể áp dụng hoặc kiến nghị cơ quan, tổ chức hoặc người có thẩm quyền áp dụng một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế về tố tụng hình sự, hành chính, dân sự, lao động hay biện pháp kỷ luật đối với người được miễn trách nhiệm hình sự”.

TS. Trịnh Tiến Việt - Phó Chủ nhiệm Bộ môn Tư pháp Hình sự, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội
Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu lập pháp điện tử


______________________________

(1) Việc phân tích ưu điểm và hạn chế của các quan điểm khác nhau trong và ngoài nước, xem cụ thể hơn: Trịnh Tiến Việt, Về khái niệm miễn TNHS, Tạp chí Khoa học (chuyên san Kinh tế - Luật), số 2/2007, tr. 103-114.

(2) Xem  Trịnh Tiến Việt, Miễn TNHS theo luật hình sự Việt Nam: những đặc điểm xã hội - pháp lý cơ bản, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số 5/2008, tr. 10-17.

(3) Đào Trí Úc (chủ biên), Mô hình lý luận về BLHS Việt Nam (Phần chung), Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1993, tr. 268.

(4) Hoàng Phê (chủ biên), Từ điển Tiếng Việt, Viện Ngôn ngữ học, Nxb. Đà Nẵng và Trung tâm Từ điển học, 2002, tr. 431.

(5) Xem cụ thể hơn: Trịnh Tiến Việt, Những vấn đề lý luận và thực tiễn về miễn TNHS theo luật hình sự Việt Nam, Luận án tiến sĩ luật học, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2008, tr. 139.

(6) Xem: Báo An ninh Thủ đô, thứ bảy ngày 29/3/2008.

(7) Xem Lê Cảm, Trịnh Tiến Việt (2005), Về TNHS và miễn TNHS, Tạp chí Khoa học (chuyên san Kinh tế - Luật), số 2/2005, tr. 3-5.

(8) Phạm Mạnh Hùng, Chế định TNHS trong luật hình sự Việt Nam, Luận án tiến sĩ luật học, Trường đại học Luật Hà Nội, 2004, tr. 47.

(9)Lê Thị Sơn, TNHS và miễn TNHS, Tạp chí Luật học, số 5/1997, tr. 19.

(10) Ví dụ, đó là trường hợp trước khi khởi tố vụ án, khởi tố bị can, đã xác định rõ ràng trường hợp này có căn cứ để miễn TNHS, thì lúc này, các cơ quan tiến hành tố tụng không cần phải ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can nữa.

(11) Lê Cảm, Trịnh Tiến Việt, tlđd, tr. 3-10.

(12) Quan điểm của GS. TSKH. Lê Cảm và tác giả.

Các tin tiếp
Các tin trước
TIÊU ĐIỂM
Xem nhiều nhất