Mỗi ngày, các trung tâm tư vấn pháp luật về hôn nhân và gia đình tiếp không ít người đến than khổ vì tòa không cho ly hôn. Theo luật, muốn được giải quyết ly hôn thì tình trạng hôn nhân của họ phải trầm trọng. Tuy nhiên, thế nào là tình trạng hôn nhân trầm trọng thì ngay chính các thẩm phán cũng còn đang mơ hồ...
Trong quan hệ hôn nhân, khi “cơm không lành, canh chẳng ngọt” có thể xảy ra tình trạng một bên vợ hoặc chồng bỏ đi biệt tích. Thực tế những năm qua, số lượng các vụ án mà đương sự yêu cầu giải quyết ly hôn với người biệt tích chiếm tỷ lệ ngày càng cao trong số các vụ án ly hôn mà các cấp Tòa án thụ lý giải quyết. Tuy nhiên, thủ tục giải quyết ly hôn vẫn còn những vấn đề cần bàn luận.
Có một thực trạng khá phổ biến trong quan hệ hôn nhân hiện nay, đó là khi xảy ra tình trạng “cơm không lành, canh không ngọt”, một bên vợ hoặc chồng thường bỏ đi mất tích. Để chấm dứt quan hệ hôn nhân, người có yêu cầu ly hôn với người mất tích phải khởi kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết. Quy định như vậy, nhưng trên thực tế, khi giải quyết việc ly hôn với người mất tích lại phát sinh vướng mắc.
Trong một vụ án ly hôn, ngoài vấn đề phân chia tài sản, việc giao con cho ai nuôi dưỡng là một trong những nội dung quan trọng nhất Tòa án phải quyết định. Bởi vì, khi cha mẹ ly hôn, người bị tổn thương nhiều nhất vẫn là những đứa con, nhất là khi đang ở lứa tuổi chưa thành niên - lứa tuổi rất cần sự chăm sóc của cả cha và mẹ để có thể phát triển toàn diện.
 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định Tòa án có thẩm quyền giải quyết trường hợp xác định con theo quy định tại Điều 64: Người không được nhận là cha, mẹ của một người có thể yêu cầu Tòa án xác định người đó là con mình. Người được nhận là cha, mẹ của một người có thể yêu cầu Tòa án xác định người đó không phải là con mình.
Người đã đính hôn (hôn ước) sẽ có nghĩa vụ phải thực hiện chuyện hôn nhân (trong tương lai). Nếu một bên đòi hủy bỏ hôn ước mà không có lý do chính đáng sẽ phải có trách nhiệm bồi thường (cái này cũng là một loại trách nhiệm khi vi phạm khế ước).
“Giới là một phạm trù chỉ vai trò và mối quan hệ xã hội giữa nam giới và nữ giới. Nói đến mối quan hệ giới là nói đến cách thức phân định xã hội giữa nam giới và phụ nữ, liên quan đến hàng loạt vấn đề thuộc về thể chế xã hội…”.([1]) Trong xã hội hiện đại ngày nay, sự bất bình đẳng về giới vẫn tồn tại một cách dai dẳng, không chỉ ở các quốc gia kém phát triển mà ở cả những quốc gia phát triển. Sự bất bình đẳng này luôn được bắt nguồn từ những lí do về mặt xã hội. Xoá bỏ sự bất bình đẳng giới là một yêu cầu xã hội được các trào lưu tiến bộ xã hội hết sức coi trọng. Trong quá trình nghiên cứu và giảng dạy môn học Luật hôn nhân và gia đình, sự hiểu biết về giới, vận dụng kiến thức về giới trong chu trình đào tạo khép kín của môn học này là vô cùng cần thiết và bổ ích.
Công ước quốc tế về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW) đã được Đại hội đồng Liên hợp quốc phê chuẩn vào ngày 18/12/1979 và có hiệu lực vào ngày 03/09/1981. Đây là một văn kiện quốc tế tổng hợp nhất về quyền của phụ nữ. Việt Nam là một trong những quốc gia đầu tiên trên thế giới tham gia Công ước này. Nội dung các quyền của phụ nữ thể hiện sự bình đẳng giới được quy định rất cụ thể trong từng điều của Công ước ở tất cả các lĩnh vực khác nhau. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi muốn nhấn mạnh tới quyền bình đẳng trong quan hệ hôn nhân và gia đình mà trọng tâm là quyền xác định cha, mẹ, con trên cơ sở bình đẳng giới.
Trong khoa học pháp lý nói chung và khoa học Luật HN & GĐ nói riêng, việc đưa ra một khái niệm đầy đủ về hôn nhân có ý nghĩa quan trọng. Nó phản ánh quan điểm chung nhất của Nhà nước về hôn nhân; tạo cơ sở lý luận cho việc xác định bản chất pháp lý của hôn nhân; xác định nội dung, phạm vi điều chỉnh của các qui phạm pháp luật HN & GĐ.
Trong hoạt động bảo đảm tiền vay của các tổ chức tín dụng, có nhiều trường hợp, các tổ chức này thực hiện việc cho vay đối với khách hàng vay là người đã có vợ hoặc chồng. Trong những trường hợp này, các cán bộ tín dụng thường gặp khó khăn trong việc xác định số tiền vay và tài sản hình thành từ tiền vay có thuộc tài sản chung của hai vợ chồng hay không? Các hợp đồng tín dụng và hợp đồng bảo đảm bằng tài sản hình thành từ tiền vay chỉ cần sự tham gia ký kết của người đi vay hay cần có sự tham gia ký kết của cả hai vợ chồng? Việc đăng ký giao dịch bảo đảm trong trường hợp này sẽ được thực hiện như thế nào?
Trang123
Xem theo ngày tháng  / /    Xem tiếp
TIÊU ĐIỂM
Xem nhiều nhất