Sau một thời gian ứng dụng Luật Doanh nghiệp (từ Luật Doanh nghiệp năm 1999 cho đến Luật Doanh nghiệp năm 2005 hiện hành), có nhiều ý kiến cho rằng cần xem xét lại một số nội dung quy định trong các văn bản này1. Trong đó, dựa trên cơ sở các chức năng của vốn, nhất là chức năng bảo đảm quyền lợi cho chủ nợ2, có ý kiến cho rằng, nên lặp lại quy định về điều kiện mức vốn tối thiểu khi thành lập doanh nghiệp đối với tất cả các trường hợp đầu tư kinh doanh. Cách thức tiếp cận này là hợp lý, cần được tham khảo. Tuy nhiên, theo chúng tôi, vấn đề cần được nhìn nhận từ vai trò, ý nghĩa của vốn ở từng vị trí của tất cả các bên có liên quan. Trước hết là vai trò của vốn đối với chính doanh nghiệp; thứ hai là ý nghĩa của vốn đối với các đối tác của doanh nghiệp - chủ nợ. Ngoài ra, cũng được nhìn nhận từ phía Nhà nước - với tư cách là chủ nợ lớn nhất và với chức năng điều hòa mối quan hệ giữa hai bên nói trên.
Luật Doanh nghiệp 2005 ra đời tạo nên một luồng sinh khí mới cho nền thương nghiệp nước nhà. Trên cơ sở đó, Nghị định 139/2007/NĐ-CP hướng dẫn thi hành một số điều của luật này được ban hành. Sau ba năm thực hiện, ngày 01/10/2010 Chính phủ ban hành Nghị định 102/2010/NĐ-CP thay thế cho Nghị định 139/2007/NĐ-CP. Được ban hành sau hơn bốn năm thực thi Luật Doanh nghiệp, Nghị định 102/2010/NĐ-CP mang đến niềm hi vọng sẽ có những hướng dẫn tích cực trong việc thi hành Luật Doanh nghiệp. Tuy vậy, trên thực tế, vấn đề tài chính của công ty - mà chủ yếu là vốn của công ty (bao hàm cả công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần) - được hướng dẫn bởi Nghị định cần phải được xem xét lại trên cả phương diện lý luận và thực tiễn.
Giao dịch chứng khoán là một giai đoạn rất quan trọng trong quá trình đầu tư của nhà đầu tư (NĐT) chứng khoán. Chính hoạt động giao dịch chứng khoán là nơi cụ thể hóa các khoản lợi nhuận, các hành vi mua, bán chứng khoán của NĐT chứng khoán. Tuy nhiên, theo nguyên tắc trung gian trên thị trường chứng khoán (TTCK), những NĐT chứng khoán không thể trực tiếp gặp gỡ trao đổi thông tin và mua, bán chứng khoán trực tiếp từ những người có nhu cầu bán, mua chứng khoán khác. Các NĐT chỉ có thể thực hiện hoạt động mua, bán chứng khoán thông qua chủ thể trung gian, công ty chứng khoán (CTCK). Do đó, để thực hiện hoạt động giao dịch chứng khoán, các NĐT chứng khoán phải có tài khoản mở tại một CTCK và tiến hành mọi hoạt động mua, bán, đầu tư chứng khoán thông qua tài khoản này tại các sàn giao dịch của CTCK. Với hình thức này, các NĐT đã không trực tiếp nắm giữ tiền hoặc chứng khoán của mình sở hữu mà tất cả đều ký thác vào tài khoản tại CTCK. Vì thế, về mặt nguyên tắc, rõ ràng các NĐT cần phải được pháp luật bảo vệ trong quá trình giao dịch nhằm giúp NĐT có thể quản lý chặt chẽ tài sản của mình (gồm tiền và chứng khoán trên tài khoản) cũng như đảm bảo CTCK sẽ thực hiện các lệnh khách hàng.
Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ) trong công ty cổ phần (CTCP) gồm tất cả các cổ đông có quyền biểu quyết, là cơ quan có quyền quyết định cao nhất của công ty1. ĐHĐCĐ thông qua các quyết định đối với các vấn đề thuộc thẩm quyền của mình qui định tại Điều 96 Luật Doanh nghiệp (Luật DN) 2005 và Điều lệ CTCP. Luật DN 2005 đã qui định chi tiết về trình tự, thủ tục triệu tập họp; thể thứ tiến hành cuộc họp và thông qua các quyết định của ĐHĐCĐ. Những qui định chi tiết như vậy sẽ góp phần ở mức độ nhất định trong việc bảo vệ quyền lợi cổ đông nói chung và cổ đông thiểu số nói riêng2. Song, không phải mọi quyết định của ĐHĐCĐ cũng đúng qui định của pháp luật và điều lệ công ty3. Một quyết định trái qui định của pháp luật và điều lệ công ty có thể gây thiệt hại nhất định cho công ty và các cổ đông, nhất là cổ đông thiểu số4. Vì thế, quyền yêu cầu hủy quyết định của ĐHĐCĐ trong một số trường hợp nhất định cũng là một quyền quan trọng giúp bảo vệ quyền lợi cổ đông.
Doanh nghiệp ngay từ khi thành lập đã không có sự thỏa thuận rõ ràng về mức góp vốn và cách thức phân chia lợi nhuận, do vậy khi xảy ra tranh chấp các thành viên góp vốn rất khó có đủ chứng cứ để bảo vệ mình trước nội bộ doanh nghiệp hoặc khi tranh chấp tại các cơ quan tố tụng.
Trong thực tiễn ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa, đối tượng của hợp đồng và vấn đề thanh toán là hai nội dung quan trọng nhất. Thanh toán là nghĩa vụ chính của bên mua trong giao dịch mua bán hàng hóa. Thỏa thuận về mức giá mà bên mua phải thanh toán và phương thức thanh toán là nội dung chủ yếu của thỏa thuận thanh toán. Nghĩa vụ cung cấp hàng hóa là nghĩa vụ chủ yếu của bên bán. Các thỏa thuận về tên hàng hóa, chất lượng của hàng hóa là những nội dung chủ yếu liên quan đến đối tượng của hợp đồng. Chất lượng hàng hóa là một trong những nội dung quan trọng cần được xem xét trong hợp đồng mua bán hàng hóa. Tuy nhiên, trong thực tiễn thương mại có nhiều trường hợp điều khoản chất lượng trong hợp đồng chỉ ghi đơn giản: “như Bản đặc điểm kỹ thuật” (as the Specification) và điều này dẫn đến nhiều tranh cãi liên quan đến việc xác định tiêu chuẩn chất lượng của hàng hóa trong hợp đồng khi các bên phát sinh tranh chấp.
Một trong những vấn đề khó khăn và hay gây tranh cãi trong các tranh chấp, đó là việc tính toán số tiền bồi thường thiệt hại mà bên vi phạm phải trả cho bên bị vi phạm. Để đòi bồi thường thành công, các bên cần phải lưu ý tuân thủ một số nguyên tắc cơ bản.
Hợp đồng thương mại quốc tế là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ thương mại quốc tế. Hợp đồng thương mại quốc tế có rất nhiều loại, chẳng hạn như hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, hợp đồng cung ứng dịch vụ, hợp đồng chuyển giao công nghệ... Sau đây là nội dung Hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế, một trong những loại Hợp đồng thương mại quốc tế thường gặp có liên quan trực tiếp đến quá trình sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.
Đã từ lâu pháp luật về hợp đồng chiếm một vị trí rất quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam, bởi vì, hầu hết các giao dịch trong xã hội, dù có mục đích kinh doanh hay nhằm đáp ứng các nhu cầu sinh hoạt thông thường, đều liên quan đến hợp đồng. Chính vì lẽ đó mà các chế định về hợp đồng và các vấn đề liên quan đến hợp đồng trong Bộ luật Dân sự năm 2005 chiếm một vị trí nòng cốt với hơn 300 điều trên tổng số 777 điều. Mục đích của pháp luật về hợp đồng là nhằm bảo vệ quyền tự do ý chí của các bên. Quyền tự do ý chí này chỉ bị hạn chế bởi một số ngoại lệ nhằm bảo vệ trật tự công hoặc nhằm bảo đảm quyền lợi hợp pháp của bên thứ ba.
Trang12345678910
Xem theo ngày tháng  / /    Xem tiếp
TIÊU ĐIỂM
Xem nhiều nhất