Tạm đình chỉ hay đình chỉ giải quyết vụ án lao động?
15:2' 21/8/2009
Hòa giải cơ sở là thủ tục tiền tố tụng bắt buộc trong đa phần các tranh chấp lao động cá nhân. Theo quy định của pháp luật, chỉ có một số loại án không nhất thiết phải qua hòa giải cơ sở như tranh chấp về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, sa thải,… song điều đó không có nghĩa là các bên tranh chấp không được đem tranh chấp của mình ra hòa giải cơ sở.



Chính vì vậy, khi tiến hành thụ lý một vụ án lao động, người thụ lý phải kiểm tra xem tranh chấp mà các bên khởi kiện tại Tòa án có phải là tranh chấp lao động cá nhân thuộc trường hợp bắt buộc phải qua hòa giải tại cơ sở không (như tranh chấp về việc thực hiện hợp đồng lao động; tranh chấp về đòi tiền lương, tiền thưởng, tiền bảo hiểm xã hội giữa người lao động đang làm việc với người sử dụng lao động …). Nếu thuộc trường hợp này thì xem xét xem trước khi khởi kiện đến Tòa án, các bên đã yêu cầu Hội đồng hòa giải lao động cơ sở (hòa giải viên lao động) tiến hành hòa giải chưa? Chỉ khi các bên tranh chấp nộp cho Tòa án biên bản hòa giải không thành của Hội đồng hòa giải lao động cơ sở (hòa giải viên lao động) hoặc tài liệu chứng minh họ đã yêu cầu hòa giải nhưng Hội đồng hòa giải lao động cơ sở (hòa giải viên lao động) không tiến hành hòa giải trong thời hạn 3 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu hòa giải, thì Tòa án mới tiến hành thụ lý vụ án (nếu các điều kiện thụ lý khác thỏa mãn). Nếu tranh chấp của các bên là tranh chấp lao động tập thể về quyền thì Tòa án phải kiểm tra xem trước khi khởi kiện đến tòa, các bên đã yêu cầu Chủ tịch UBND cấp quận, huyện giải quyết chưa? Kết quả giải quyết như thế nào?

Tòa án cũng cần lưu ý: việc hòa giải giữa các bên tranh chấp trong quan hệ lao động chỉ được coi là có giá trị pháp lý nếu do các chủ thể có thẩm quyền tiến hành hòa giải.

Nếu các bên trong tranh chấp lao động cá nhân (loại tranh chấp bắt buộc phải qua hòa giải tại cơ sở) khởi kiện đến Tòa án mà chưa qua hòa giải tại cơ sở thì Tòa án sẽ căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 168 BLTTDS để trả lại đơn khởi kiện với lý do sự việc chưa đủ điều kiện khởi kiện. Vấn đề là ở chỗ sau khi thụ lý vụ án, Thẩm phán đọc qua vụ án mới phát hiện thấy rằng vụ việc cần phải qua hòa giải cơ sở nhưng lại chưa qua hòa giải?

Ví dụ: Bà V làm việc tại công ty X theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn. Trong quá trình làm việc bà V có hành vi vi phạm nội quy lao động nên ngày 01/6/2006 giám đốc công ty X đã ra Quyết định xử lý kỷ luật bà V với hình thức chuyển việc làm khác có mức lương thấp hơn trong thời hạn 6 tháng. Bà V không đồng ý với quyết định kỷ luật đó và làm đơn yêu cầu Ban quản lý khu chế xuất hòa giải. Tại cuộc họp hòa giải, do bà V và giám đốc công ty không thỏa thuận được với nhau về nội dung vụ tranh chấp nên Ban quản lý khu chế xuất lập biên bản hòa giải không thành. Cho rằng việc xử lý kỷ luật của Công ty X là trái pháp luật nên bà V đã làm đơn khởi kiện đến Tòa án có thẩm quyền. Sau khi nghiên cứu đơn khởi kiện và giấy tờ tài liệu nộp kèm theo, Tòa án đã thụ lý vụ án. Trong quá trình nghiên cứu hồ sơ, Thẩm phán mới nhận định rằng sự việc trên chưa qua hòa giải cơ sở do Ban quản lý khu chế xuất không có thẩm quyền tiến hành hòa giải. Vậy, Thẩm phán xử lý như thế nào?

Trước khi BLTTDS có hiệu lực pháp luật, Tòa án sẽ căn cứ vào quy định tại điểm d Điều 34 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động để trả lại đơn khởi kiện cho đương sự và xóa sổ thụ lý. Khi trả lại đơn kiện, Tòa án giải thích cho đương sự biết lý do trả lại đơn kiện và ghi rõ trong thông báo trả lại đơn kiện là đương sự được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp tại cơ quan thi hành án1.

Nhưng từ khi BLTTDS có hiệu lực pháp luật, vấn đề này hiện đang tồn tại hai quan điểm với hai cách giải quyết khác nhau.

Quan điểm thứ nhất cho rằng: Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án, xóa tên vụ án đó trong sổ thụ lý, trả lại đơn kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo cho đương sự. Căn cứ vào khoản 2 Điều 192 BLTTDS, lý do chưa đủ điều kiện khởi kiện.

Trong trường hợp trên, tranh chấp giữa bà V và công ty X tranh chấp bắt buộc phải qua hòa giải tại cơ sở. Các bên trong tranh chấp cũng đã yêu cầu hòa giải nhưng chủ thể tiến hành hòa giải lại không phải là chủ thể có thẩm quyền theo quy định của pháp luật, do đó, việc hòa giải không có giá trị pháp lý. Sự việc này được coi như các bên chưa hòa giải tại cơ sở. Các bên khởi kiện đến Tòa án khi chưa có đủ điều kiện khởi kiện.

Việc Tòa án căn cứ vào khoản 2 Điều 192 BLTTDS để ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án là đúng pháp luật. Tuy nhiên, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án này sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi của các bên trong tranh chấp lao động. Bởi vì, đương sự sẽ không có quyền khởi kiện lại2.

Rõ ràng là lỗi dẫn đến việc Tòa án thụ lý vụ án khi chưa đủ điều kiện khởi kiện (chưa hòa giải tại cơ sở) lại không thuộc về người khởi kiện mà thuộc về phía Tòa án. Do đó, việc Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án là đúng pháp luật nhưng lại ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của người khởi kiện. Các bên trong tranh chấp lao động sẽ không có quyền khởi kiện lại và quyền lợi của bên bị vi phạm (thông thường là người lao động) sẽ không được pháp luật bảo vệ.

Quan điểm thứ 2 cho rằng: Tòa án ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án căn cứ khoản 4 Điều 189 BLTTDS vì lý do sự việc được pháp luật quy định là phải do cơ quan, tổ chức khác giải quyết trước mới giải quyết được vụ án.

Những người theo quan điểm này cho rằng: sau khi thụ lý vụ án, Tòa án mới phát hiện sự việc chưa được hòa giải tại cơ sở thì Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án sẽ ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án để yêu cầu các bên đương sự tiến hành hòa giải tranh chấp tại cơ sở. Tiền tạm ứng án phí, lệ phí mà đương sự đã nộp được gửi tại kho bạc nhà nước và được xử lý khi Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án. Tòa án sẽ tiếp tục giải quyết vụ án bị tạm đình chỉ khi lý do tạm đình chỉ không còn.

Việc Tòa án ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án trong trường hợp này sẽ đảm bảo được quyền lợi của các đương sự. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng lại nảy sinh nhiều vướng mắc, bất cập.

Khi Tòa án ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án, yêu cầu các bên trong tranh chấp lao động về hòa giải tại cơ sở sẽ xảy ra các trường hợp sau:

Trường hợp 1: Các bên gửi đơn yêu cầu hòa giải tranh chấp đến Hội đồng hòa giải lao động cơ sở (hòa giải viên lao động) nhưng Hội đồng hòa giải lao động cơ sở (hòa giải viên lao động) không tiến hành hòa giải trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu hòa giải.

Trường hợp 2: Sau khi nhận được đơn yêu cầu hòa giải của các bên tranh chấp, Hội đồng hòa giải lao động cơ sở (hòa giải viên lao động) tổ chức hòa giải. Tại buổi hòa giải các bên trong tranh chấp không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án hoặc một bên tranh chấp đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng. Hội đồng hòa giải lao động cơ sở (hòa giải viên lao động) lập biên bản hòa giải không thành.

Trường hợp 3: Các bên yêu cầu Hội đồng hòa giải lao động cơ sở (hòa giải viên lao động) tiến hành hòa giải. Tại buổi hòa giải các bên tranh chấp đã thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án. Hội đồng hòa giải lao động cơ sở (hòa giải viên lao động) lập Biên bản hòa giải thành.

Đối với trường hợp 1 và 2: hướng giải quyết rất đơn giản. Khi các bên trong tranh chấp lao động, cụ thể là người khởi kiện cung cấp cho Tòa án Biên bản hòa giải không thành của Hội đồng hòa giải lao động cơ sở (hòa giải viên lao động) hoặc giấy tờ, tài liệu chứng minh họ đã yêu cầu Hội đồng hòa giải lao động cơ sở (hòa giải viên lao động) tiến hành hòa giải nhưng những cơ quan này không tiến hành hòa giải trong thời hạn luật định thì Tòa án sẽ tiếp tục giải quyết vụ án đang bị tạm đình chỉ theo thủ tục chung.

Vướng mắc cho phía Tòa án trong thực tiễn xét xử hiện nay lại xuất phát từ trường hợp tranh chấp lao động đã được hòa giải thành tại cơ sở (trường hợp 3). Khi tranh chấp lao động được hòa giải thành tại cơ sở, trên thực tế sẽ xảy ra những hướng sau:

Thứ nhất, Khi Hội đồng hòa giải lao động cơ sở (hòa giải viên lao động lao động) hòa giải thành, người khởi kiện đến Tòa án xuất trình Biên bản hòa giải thành, rút đơn khởi kiện hoặc các bên tranh chấp có văn bản gửi Tòa án thông báo tranh chấp của họ đã được hòa giải thành và họ không yêu cầu Tòa án tiếp tục việc giải quyết vụ án.

Trong trường hợp này, Tòa án sẽ giải quyết như thế nào? Có ý kiến cho rằng Tòa án sẽ căn cứ vào điểm c (hoặc điểm đ) khoản 1 Điều 192 BLTTDS để ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án.

Trước hết cần khẳng định rằng: về nguyên tắc, khi tranh chấp lao động đã được hòa giải thành bởi Hội đồng hòa giải lao động cơ sở (hòa giải viên lao động) thì Tòa án sẽ không có thẩm quyền giải quyết tiếp vụ án. Do vậy, việc Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án khi người khởi kiện rút đơn khởi kiện hoặc các bên tranh chấp có văn bản gửi Tòa án thông báo tranh chấp của họ đã được hòa giải thành và họ không yêu cầu Tòa án tiếp tục việc giải quyết vụ án là hoàn toàn có căn cứ luật định.

Tuy nhiên, theo quan điểm của chúng tôi, trong trường hợp cụ thể này, việc Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án lại có nhiều vướng mắc. Tòa án không thể ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án khi chính vụ án đó đang bị tạm đình chỉ. Nói cách khác, cùng một vụ án Tòa án không thể vừa ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vừa ra quyết định đình chỉ giải quyết. Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án không phải là căn cứ xóa dấu tích tạm đình chỉ vụ án trong sổ thụ lý. Bởi vì, khi ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án, Tòa án sẽ không xóa tên vụ án dân sự bị tạm đình chỉ giải quyết trong sổ thụ lý mà chỉ ghi chú vào sổ thụ lý số và ngày, tháng, năm của quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự đó. Tiền tạm ứng án phí, lệ phí mà đương sự đã nộp được gửi tại kho bạc nhà nước và được xử lý khi Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án dân sự. Tòa án sẽ tiếp tục giải quyết vụ án dân sự bị tạm đình chỉ khi lý do tạm đình chỉ không còn (Điều 190 BLTTDS).

Thứ hai, Sau khi tranh chấp đã được hòa giải thành tại cơ sở, các bên không có ý kiến phản hồi gì đối với Tòa án.

Để giải quyết trường hợp này, có ý kiến cho rằng, Tòa án sẽ phải gửi công văn đến doanh nghiệp nơi xảy ra tranh chấp hoặc Tòa án phải cử cán bộ xuống doanh nghiệp để xác minh về vụ việc. Nếu sau khi xác minh, thấy sự việc đã được hòa giải thành thì Tòa án có thể triệu tập đương sự đến Tòa án và khuyên họ rút đơn khởi kiện (theo điểm c khoản 1 Điều 192) hoặc Tòa án có thể triệu tập cả 2 bên đương sự, yêu cầu họ cùng ký vào đơn yêu cầu Tòa án không tiếp tục giải quyết vụ án (điểm đ khoản 1 Điều 192). Tòa án sẽ ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án.

Cách giải quyết này có vẻ phù hợp với thực tế nhưng lại không đúng quy định của pháp luật. Việc Tòa án tự mình tiến hành các hoạt động xác minh, thu thập chứng cứ khi chưa có đơn yêu cầu của đương sự là vi phạm quy định của pháp luật tố tụng. Giả thiết rằng, Tòa án tiến hành các thao tác “nghiệp vụ” (triệu tập người khởi kiện đến Tòa án và khuyên họ rút đơn khởi kiện hoặc triệu tập cả 2 bên đương sự, yêu cầu họ cùng ký vào đơn yêu cầu Tòa án không tiếp tục giải quyết vụ án) để ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án thì quyết định đình chỉ giải quyết đó cũng không đúng vì tại thời điểm đó, trong sổ thụ lý vẫn đang có ghi chú của quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án. (như đã phân tích ở trường hợp trên)

ý kiến khác lại cho rằng, Tòa án không có tránh nhiệm phải xác minh vụ việc vì việc có tiếp tục yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án nữa hay không là quyền tự định đoạt của các đương sự. Mặt khác, theo quy định của pháp luật Tòa án cũng không có quyền tự xác minh, thu thập chứng cứ.

Chúng tôi đồng ý với cách giải quyết này. Theo quy định của BLTTDS, Tòa án không được tự mình tiến hành hoạt động thu thập chứng cứ. Tòa án chỉ tiến hành thu thập chứng cứ trong trường hợp đương sự không thể tự mình thu thập được và có đơn yêu cầu (Điều 85 BLTTDS). Tuy nhiên, nếu giải quyết theo cách thứ 2 (Tòa án không có bất kỳ một động thái gì) thì không biết đến bao giờ Tòa án mới giải quyết được hậu quả của quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án.

Như vậy, rõ ràng việc Tòa án ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án, yêu cầu các bên tranh chấp về yêu cầu hòa giải tại cơ sở sẽ đảm bảo được quyền lợi cho các bên đương sự nhưng lại có nhiều vướng mắc trong thực tiễn xét xử.

Để tránh những phiền phức trên, trong thực tiễn xét xử hiện nay, nếu Tòa án đã “trót” thụ lý vụ án lao động khi sự việc chưa qua hòa giải tại cơ sở thì nhiều Thẩm phán không lựa chọn giải pháp tạm đình chỉ giải quyết vụ án mà khuyên người khởi kiện rút đơn khởi kiện. Khi người khởi kiện rút đơn khởi kiện, Tòa án sẽ ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án theo điểm c khoản 1 Điều 192 BLTTDS. Sau khi Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án, người khởi kiện sẽ làm đơn yêu cầu hòa giải tranh chấp tại cơ sở. Nếu Hội đồng hòa giải lao động cơ sở (hòa giải viên lao động) hòa giải không thành hoặc không hòa giải trong thời hạn luật định thì người khởi kiện sẽ khởi kiện lại. Tòa án sẽ tiếp tục thụ lý giải quyết vụ án nếu còn thời hiệu khởi kiện.

Có thể khẳng định, cách giải quyết này vừa đảm bảo được quyền lợi của người khởi kiện vừa giúp Tòa án giải quyết dứt điểm vụ án. Tuy nhiên, các Thẩm phán không thể áp dụng được giải pháp này khi thời hiệu khởi kiện đã hết (sau khi thụ lý) hoặc người khởi kiện kiên quyết không rút đơn khởi kiện.

Từ sự phân tích trên, chúng tôi có một số ý kiến đề xuất như sau: Hiện nay trong BLTTDS đang quy định hai cách giải quyết khác nhau đối với cùng một vấn đề (Tòa án thụ lý vụ án khi sự việc chưa đủ điều kiện khởi kiện, cụ thể là chưa qua hòa giải tại cơ sở). Đó là quy định tại khoản 4 Điều 189 (Tòa án ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án) và quy định tại khoản 2 Điều 192 (Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án). Quan điểm của Tòa Lao động - Tòa án Nhân dân tối cao trong trường hợp này là Tòa án căn cứ vào Điều 189 BLTTDS ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án3. Lúc này BLTTDS đã có hiệu lực thực tiễn.

Để đảm bảo sự thống nhất trong công tác giải quyết các tranh chấp lao động, tránh tình trạng các Tòa án ở các địa phương có cách giải quyết khác nhau, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao cần có Nghị quyết hướng dẫn cụ thể về trường hợp này. Trong Nghị quyết hướng dẫn cần quy định rõ: Tòa án sẽ ra quyết định gì (tạm đình chỉ hay đình chỉ) khi sự việc là loại bắt buộc phải qua hòa giải tại cơ sở nhưng các bên chưa qua hòa giải tại cơ sở mà Tòa án đã thụ lý; Theo chúng tôi, Nghị quyết chỉ nên quy định một cách giải quyết.

Nếu quy định theo hướng Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án như hiện nay thì cần có quy định để người khởi kiện có quyền khởi kiện lại trong trường hợp này, nếu thời hiệu khởi kiện vẫn còn, bởi vì việc Tòa án thụ lý khi sự việc chưa qua hòa giải tại cơ sở không phải do lỗi của người khởi kiện.

Nếu quy định theo hướng Tòa án sẽ ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án thì Hội đồng Thẩm phán TANDTC cần quy định rõ hướng giải quyết khi tranh chấp của các bên đã được hòa giải thành tại cơ sở. Trong trường hợp này nên quy định cho phép các Tòa án được ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án khi sự việc đã được hòa giải thành tại cơ sở. Theo chúng tôi, nếu không quy định theo hướng này thì án tạm đình chỉ sẽ bị “treo”, ngay cả trong trường hợp Tòa án không có thẩm quyền giải quyết tiếp vụ án (tranh chấp lao động đã được hòa giải thành). 

Tạp chí số 5/2007 (năm 2007). Tác giả: ThS. Vũ Thị Thu Hiền – Học viện Tư pháp

1. Tham luận của Tòa Lao động – TANDTC về công tác giải quyết, xét xử các vụ án lao động năm 2003 và một số kiến nghị.

2. Đương sự chỉ được quyền khởi kiện lại nếu thuộc 1 trong 3 trường hợp: người khởi kiện rút đơn khởi kiện và được Tòa án chấp nhận, người khởi kiện không có quyền khởi kiện, nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vấn vắng mặt.

3. Tham luận của Tòa Lao động về xét xử các vụ án lao động năm 2004.
Các tin tiếp
Các tin trước
TIÊU ĐIỂM
Xem nhiều nhất