Hệ thống pháp luật của các nước Bắc Âu
0:9' 19/8/2008
Trong quan điểm của nhiều người, pháp luật của các nước phương Tây hoặc thuộc dòng họ pháp luật châu Âu lục địa (Dòng họ Civil Law) hoặc thuộc dòng họ pháp luật Anh - Mỹ (Dòng họ Common Law). Tuy nhiên có thể thấy rằng hệ thống pháp luật của các nước Bắc Âu: Đan Mạch, Phần Lan, Ailen, Na Uy, Thuỵ Điển có những nét riêng khó có thể xếp vào một trong hai dòng họ pháp luật kể trên.

Khái quát chung
Trong quan điểm của nhiều người, pháp luật của các nước phương Tây hoặc thuộc dòng họ pháp luật châu Âu lục địa (Dòng họ Civil Law) hoặc thuộc dòng họ pháp luật Anh - Mỹ (Dòng họ Common Law). Tuy nhiên có thể thấy rằng hệ thống pháp luật của các nước Bắc Âu: Đan Mạch, Phần Lan, Ailen, Na Uy, Thuỵ Điển có những nét riêng khó có thể xếp vào một trong hai dòng họ pháp luật kể trên.

Zweigert và Kotz đưa ra khái niệm “phong cách pháp luật” (được hình thành từ năm nhân tố: nguồn và sự tiến triển của hệ thống pháp luật, tính đặc thù của tư duy pháp lý, các chế định pháp lý đặc thù, bản chất của các nguồn pháp luật và phương thức giải thích chúng, các nhân tố tư tưởng) như tiêu chuẩn của việc phân loại các hệ thống pháp luật và phân biệt các "vùng pháp luật" trong đó có vùng pháp luật Bắc Âu hay còn được gọi là vùng pháp luật Scandinavia (hai cách gọi này đồng nghĩa mặc dù về mặt địa lý Đan Mạch và Ailen nằm ngoài bán đảo Scandinavia)

Khó có thể xếp hệ thống pháp luật của các nước Bắc Âu vào dòng họ pháp luật Anh - Mỹ bởi nhiều lý do, một trong những lý do đó là ở các nước này án lệ không có vai trò quyết định (mà vai trò quyết định của án lệ vốn là một trong những đặc trưng cơ bản của dòng họ pháp luật Anh Mỹ). Cũng khó có thể xếp hệ thống pháp luật của các nước Bắc Âu vào dòng họ pháp luật châu Âu lục địa bởi đặc trưng cho dòng họ này là sự ảnh hưởng của Luật La Mã và vai trò quan trọng của Luật thành văn với các Bộ luật là công cụ chính yếu để hệ thống các quy phạm. Trong sự phát triển của pháp luật ở các nước Bắc Âu, Luật La Mã có ảnh hưởng không đáng kể và ở các nước này đến tận bây giờ vẫn không có các Bộ luật như Bộ luật Dân sự Đức... Zweigert vµ Kotz kết luận rằng do có mối quan hệ chặt chẽ và một số nét “phong cách pháp luật” riêng nên xếp hệ thống pháp luật các nước Bắc Âu vào một nhóm riêng, đồng thời ghi nhận rằng nhóm này có nhiều điểm tương đồng với dòng họ pháp luật châu Âu lục địa bởi pháp luật của các nước Bắc Âu được xây dựng và phát triển tuân theo nguyên tắc về tính tối cao của luật thành văn, sử dụng một cách rộng rãi các cấu trúc và khái niệm pháp lý của dòng họ pháp luật châu Âu lục địa .

Lịch sử phát triển hệ thống pháp luật ở các nước Bắc Âu
Quan hệ chính trị và văn hoá gần gũi đã giải thích những nét tương đồng giữa hệ thống pháp luật của các nước Bắc Âu.

Đến thế kỷ VIII, những người Scandinavia nhận ra rằng việc cướp bóc các vùng nước ngoài giàu có đem lại nhiều lợi nhuận hơn là khai thác biển cả và mảnh đất kém màu mỡ của mình. Người Thuỵ Điển lập nên triều đại Nga đầu tiên, người Đan Mạc và Na Uy tiến về phía Tây đến Scotlen, Anh, Ailen. Dưới thời Canute Đại Đế (995-1035), Anh là một phần của Đế quốc Scandinavia gồm Đan Mạch, Na Uy và một phần Thuỵ Điển. Sau khi Canute Đại Đế chế, Đế quốc Scandinavia tan rã, Đan Mạch, Na Uy, Thuỵ Điển trở thành những vương quốc độc lập, giao tranh lẫn nhau.

Năm 1397, một liên minh giữa Đan Mạch, Thuỵ Điển, Na Uy được thiết lập theo Thoả ước Kalmar. Người đứng đầu Liên minh Kalmar là Margaret, con gái vua Đan Mạch và là quả phụ của vua Na Uy. Các quý tộc Thuỵ Điển trục xuất vua Albert Mecklenburg và bầu Margaret làm Nữ hoàng. Liên minh Kalmar tiếp tục tồn tại về hình thức đến năm 1523 khi Thuỵ Điển tách khỏi Liên minh. Vua Gustay Vasa (1523-1560) đã có công củng cố vương quốc, khiến Thuỵ Điển thành một nước mạnh và thống nhất.
Phần Lan bị Thuỵ Điển xâm chiếm trong thế kỷ XII-XIII, từ năm 1809 là một Đại công quốc do Sa hoàng cai quản. Sau Cách mạng Tháng Mười Nga, Phần Lan được trao trả độc lập.
Đám cưới của Haakon VI (trị vì từ 1355 đến 1380) với công chúa Margaret của Đan Mạch đã gắn bó vận mệnh của Na Uy và Đan Mạch với nhau. Các vua Đan Mạch đã cai trị Na Uy như một phần vương quốc cho đén năm 1814. Cuối thời kỳ các cuộc chiến tranh Napoleon, Na Uy thuộc quyền cai trị của các vua Thuỵ Điển. Năm 1905, vua Oscar II của Thuỵ Điển cho phép một cuộc phân chia hoà bình và Hoàng tử Thuỵ Điển nhường lại ngôi vua Na Uy cho Thái tử Carl của Đan Mạch.
Ailen bị Na Uy kiểm soát từ thế kỷ X, đến năm 1830 bị chuyển cho Đan Mạch cai trị. Năm 1918, Ailen được hoàn toàn độc lập nhưng vua Ailen vẫn là người Đan Mạch và Ailen có chính sách ngoại giao chung với Đan Mạch. Năm 1944, Nghị viện Ailen tuyên bố thành lập nước cộng hoà và cắt đứt các quan hệ chính thức với Đan Mạch.

Cơ sở chung của hệ thống pháp luật các nước Bắc Âu là pháp luật của nước Đức cổ, tuy nhiên sự phát triển của pháp luật ở mỗi nước có những đặc điểm riêng. Bắt đầu từ thế kỷ XII, các quy phạm pháp luật của nước Đức cổ được đưa vào luật của các địa phương và sau đó là luật của các thành phố. Ngay từ những văn bản pháp luật đầu tiên, chính quyền trung ương đã cố gắng thống nhất và nhất thể hoá pháp luật. Trong thế kỷ XIV, Thuỵ Điển đã nhất thể hoá thành công luật của các địa phương thành luật đại phương thống nhất và luật của các thành phố thành luật thành phố thống nhất. Thế kỷ XVII – XVIII sau quá trình chuẩn bị ngắn ngủi, ở Đan Mạch và Na Uy đã ban hành được bộ luật nhất thể hoá Luật Dân sự, Luật Hình sự và Tố tụng. Đan Mạch thông qua Danske Lov (Bộ Luật Đan Mạch) năm 1683 và bộ luật này có hiệu lực ở Na Uy dưới tên Norske Lov (Bộ luật Na Uy) năm 1687. Bộ luật này gồm 6 phần: phần một về tố tụng; phần hai về nhà thờ; phần ba về đẳng cấp quý tộc, thương mại và gia đình; phần bốn về luật hàng hải, phần năm về các quyền tài sản và thừa kế; phần sáu về luật hình sự. Bộ luật Thuỵ Điển (Sveriges Rikes Lag) năm 1734 có kết cấu phức tạp hơn, gồm 1300 điều, chia thành 9 phần: phần một về hôn nhân; phần hai về cha mẹ và con cái, phần ba về thừa kế; phần bốn về bất động sản; phần năm về xây dựng, phần sáu về thương mại; phần bảy về tội phạm; phần tám về thi hành các quyết định của toà án, phần chín về tố tụng và hệ thống tư pháp . Cần xem xét những Bộ luật kể trên như là các Tổng luật - tổng hợp các văn bản pháp luật hiện hành bởi các phần riêng biệt trong các Bộ luật đó không có quan hệ liên quan chặt chẽ.

Cũng giống như Bộ luật Đan Mạch, Bộ luật Thuỵ Điển được viết bằng ngôn ngữ đơn giản, dễ hiểu để điều chỉnh các quan hệ pháp luật cụ thể chứ không có sự khái quát lý thuyết với các khái niệm trừu tượng được trường phái luật tự nhiên áp dụng ở châu Âu lục địa thế kỷ XVIII. Tuy nhiên điều này không có nghĩa là Bộ luật Thuỵ Điển và Đan Mạch tách rời hoàn toàn khỏi pháp luật châu Âu lục địa. Trong thời kỳ vua Thuỵ Điển Gustav II Adolf trị vì, Thuỵ Điển là một cường quốc đóng vai trò chủ yếu trong Liên minh đạo Tin lành trong Cuộc chiến tranh 30 năm (1618 - 1648) và có ảnh hưởng quan trọng ở châu Âu. Việc xác lập quan hệ chính trị và văn hoá với các nước Trung Âu và Đông Âu đã giúp Thuỵ Điển tiếp thu tư duy pháp lý châu Âu lục địa, nhiều sinh viên Thuỵ Điển đã đến học ở các trường đại học Đức. Bởi vậy khi Gustav II Adolf thành lập các toà tối cao ở Stockholm năm 1614 và ở Goteborg năm 1634, thẩm phán của các toà này (khác với các thẩm phán Anh) có kiến thức rất sâu về Luật La Mã . Tuy nhiên có thể nói rằng ảnh hưởng của Luật La Mã đối với Bộ luật Thuỵ Điển 1734 là không đáng kể, ngay cả trong các chế định về hợp đồng và thương mại. Điều này được giải thích là do dưới thời Karl III, Thuỵ Điển đã mất vai trò cường quốc ở châu Âu, pháp luật Thuỵ Điển xa rời pháp lụât châu Âu lục địa và quay về với các giá trị truyền thống của pháp luật địa phương và thành phố.

Sự hợp tác pháp lý của các nước Bắc Âu
Bộ luật Đan Mạch và Bộ luật Thuỵ Điển đã tạo thành cơ sở cho sự phát triển tiếp theo của hai nhánh pháp luật Bắc Âu: nhánh Đan Mạch và nhánh Thuỵ Điển. Tuy nhiên do những nét chung về lịch sử và văn hoá, do sự phát triển các quan hệ thương mại...có thể thấy xu hướng nhất thể hoá và sự hợp tác chặt chẽ trong lĩnh vực pháp luật ở các nước Bắc Âu.

Sự hợp tác này được chính thức bắt đầu năm 1872 khi các nhà luật học Bắc Âu tổ chức đại hội với mục đích hỗ trợ cho việc nhất thể hoá pháp luật Bắc Âu. Đại hội đã thông qua Nghị quyết về sự cấp thiết của việc nhất thể hoá pháp luật về hối phiếu. Năm 1880, Bộ luật chung về hối phiếu cùng một lúc có hiệu lực ở Đan Mạch, Thuỵ Điển và Na Uy. Trong những năm tiếp theo, các nhà làm luật đã dành sự chú ý cho việc nhất thể hoá pháp luật thương mại và các luật chung về nhãn hiệu hàng hoá, về công ty thương mại, về hoạt động thương mại theo uỷ quyền và về séc đã được thông qua. Trong những năm 1891-1893 các nhà làm luật đã đưa cơ sở chung thống nhất cho luật hàng hải Bắc Âu.

Người ta đã thấy rõ ràng rằng việc hợp tác giữa các nước Bắc Âu có ảnh hưởng tích cực đến chất lượng của các luật. Vì ở Thuỵ Điển hiện tại chỉ có 8 triệu dân, ở Đan Mạch, Na Uy và Phần Lan có 5 triệu dân nên khả năng tích luỹ các kinh nghiệm pháp lý bị hạn chế và sự hợp tác giữa các nước tạo điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng các luật. Không phải ngẫu nhiên mà cuối thế kỷ 20, các nước Bắc Âu đã đưa ra những dự án nhất thể hoá pháp luật rất táo bạo. Năm 1899, Giáo sư Đan Mạch Larsen đưa ra đề nghị nhất thể hoá không chỉ luật thương mại mà toàn bộ Phần chung của Luật Dân sự với mục tiêu tiến tới xây dựng Bộ luật Dân sự chung cho tất cả các nước Bắc Âu. Mặc dù về nguyên tắc đề nghị này được Chính phủ các nước tán thành nhưng việc thực hiện nó bị hoãn lại và người ta dành sự chú ý hơn cho việc nhất thể hoá một số chế định về quyền tài sản. Kết quả đầu tiên của những nỗ lực này là dự thảo Luật về mua bán bất động sản có hiệu lực ở Thuỵ Điển năm 1905, ở Đan Mạch năm 1906, ở Na Uy năm 1907 và ở Ailen năm 1922. Một kết quả quan trọng khác của sự hợp tác pháp lý giữa các nước Bắc Âu là việc đưa ra được Luật về hợp đồng và các giao dịch trong lĩnh vực quyền tài sản. Ở Thuỵ Điển, Đan Mạch và Na Uy, Luật này bắt đầu có hiệu lực trong các năm 1915 – 1918, ở Phần Lan Luật này có hiệu lực từ năm 1922. Luật điều chỉnh không phải tất cả những quan hệ được nêu trong chương về giao dịch hợp đồng trong Phần chung của Bộ luật Dân sự Đức mà chỉ gồm 40 đề mục và chỉ điều chỉnh những vấn đề quan trọng nhất của giao dịch hợp đồng bao gồm: ký kết hợp đồng, uỷ quyền và hiệu lực giao dịch hợp đồng.Khi xây dựng những quy phạm nêu trên, các nhà làm luật đã sử dụng học thuyết pháp lý của các nhà pháp điển Đức về lý thuyết chung của Luật Dân sự. Bên cạnh hai kết quả quan trọng kể trên, ở các nước Bắc Âu còn thông qua một loạt các luật theo hình mẫu chung khác như luật về môi giới thương mại, đại diện thương mại, về thanh toán trả góp, về hợp đồng bảo hiểm và về nghĩa vụ tài chính. Tất cả các luật này đều được trải qua giám định so sánh luật với pháp luật châu Âu lục địa đặc biệt là luật Đức và được đối chiếu với cả pháp luật Anh. Về cấu trúc, từ ngữ và phong cách, các luật đã nêu thực tế là không khác luật của các nước châu Âu lục địa. Đồng thời, do sự tương đồng của đa số các thuật ngữ pháp lý, luật gia Đức và Pháp không gặp khó khăn khi nghiên cứu các luật Bắc Âu.

Trên cơ sở của các luật nói trên, ở các nước Bắc Âu thực chất đã hình thành pháp luật dân sự thống nhất .
Mặc dù các đặc điểm dân tộc trong lĩnh vực luật hôn nhân gia đình mạnh hơn trong luật về tài sản, sự hợp tác pháp lý của các nước Bắc Âu đã đạt đến sự thống nhất trong các chế định điều chỉnh địa vị pháp lý của trẻ em, về quyền nuôi con nuôi. Cần ghi nhận rằng những quy định như về quyền bình đẳng của vợ và chồng, bãi bỏ nguyên tắc có lỗi như cơ sở để ly hôn, sự bình đẳng của con sinh ngoài giá thú... được đặt ra trong pháp luật Bắc Âu sớm hơn nhiều trong pháp luật châu Âu lục địa.
Trong vòng hàng thế kỷ, các nước Bắc Âu đã tích cực hợp tác để hoà hợp và nhất thể hoá pháp luật. Sự hợp tác này được đánh giá là rất thành công, có thể được coi là hình mẫu cho sự hợp tác pháp lý trên toàn châu Âu.

Chế định ombudsman - Người thực thi dân chủ
Tên gọi “ombudsman” (thanh tra viên, nghị sĩ kiểm soát hành chính tư pháp, nhân viên kiểm tra những việc làm của cơ quan nhà nước vi phạm đến quyền lợi của cá nhân) bắt nguồn từ thông lệ hiến pháp và hệ thống chính quyền ở vùng Bắc Âu. Ở Thuỵ Điển, chức danh ombudsman tư pháp được Hiến pháp lập ra từ năm 1809 nhưng đến sau Chiến tranh Thế giới II, chế định ombudsman mới được tiếp nhận ở các nước Bắc Âu khác. Điều đặc biệt là tên gọi ombudsman có nguồn gốc Bắc Âu được giữ nguyên trong tiếng Anh và các ngôn ngữ khác khi chế định ombudsman mở rộng sang các nước này. Hiện nay trên thế giới có hơn 58 nước có chế độ ombudsman.

Ở Na Uy, do những phát triển trong lĩnh vực hành chính công, ombudsman đầu tiên được bổ nhiệm bằng một nghị quyết của Quốc hội (Storting) ngày 21/4/1952. Tháng sáu năm 1962, dự luật cá nhân do Chủ tịch Uỷ ban thường trực của Storting về Tư pháp Lars Ramndal đưa ra từ năm 1953 về ombudsman cho khu vực hành chính công được thông qua. Ngay tên gọi của Luật đã ngụ ý ombudsman của Storting đối với khuc vực hành chính công phải được coi là đại diện của cơ quan quyền lực tối cao của đất nước và ombudsman làm việc độc lập với cơ quan mà chức danh này phải giám sát.

Trong những năm 1970, thêm ba ombudsman nữa được bầu ra là ombudsman người tiêu dùng, ombudsman quyền bình đẳng và ombudsman các vấn đề trẻ em. Một số cơ quan mới như Ban Thanh tra Dữ liệu, uỷ ban Ngân hàng, Bảo hiểm và Chứng khoán cũng có chức năng giống ombudsman nhưng tập trung vào hoạt động hành pháp, mang vai trò hành chính nhiều hơn. Ở cấp vùng, một số hạt lập ra ombudsman bệnh nhân chịu trách nhiệm về quyền của bệnh nhân, giải quyết khiếu nại của bệnh nhên nhập viện hoặc đang điều trị. Việc này cho thấy khái niệm ombudsman đã được công nhận từ phái cơ quan có thẩm quyền của Na Uy.
Điều đáng chú ý là ombudsman ít có cơ hội đưa ra quyết định trực tiếp đối với một vấn đề. Chức năng của họ là đưa ra khuyến nghị, đánh giá, phê bình để các cơ quan Nhà nước ghi nhận và làm theo .

Nguồn: Blog TS. Phạm Trí Hùng

Ý KIẾN BẠN ĐỌC VỀ BÀI VIẾT NÀY

Họ và tên : *  
Địa chỉ :  
Email : *  
Ý kiến của bạn : *

Mã bảo vệ :

 

Các tin tiếp