Cơ quan công tố hình sự ở Hoa Kỳ
10:46' 23/6/2010
Tại Hoa Kỳ, cả chính quyền liên bang và chính quyền các bang đều có quyền truy tố tội phạm, đều có hệ thống pháp luật, hệ thống toà án, công tố, cảnh sát riêng. Loại tội cụ thể nào được truy tố theo luật của liên bang hoặc luật của các bang phụ thuộc vào nhiều yếu tố, rất phức tạp.[2]


Các quy định của luật pháp và thực tiễn áp dụng cho thấy, các tội phạm do cơ quan liên bang truy tố thường là các tội phạm buôn bán, vận chuyển ma tuý, tội phạm có tổ chức, tội phạm về tài chính và gian lận mức độ lớn, những tội phạm xâm hại đến các quyền lợi liên bang như chống lại công chức liên bang, lừa đảo, gian lận… nhằm vào liên bang. Thêm nữa, có một số loại chỉ chính quyền liên bang mới có quyền truy tố, bao gồm các tội phạm trong lĩnh vực hải quan, thuế liên bang, tội gián điệp, phản quốc.

Chính quyền các bang truy tố hầu hết các loại tội phạm nhằm vào cá nhân, như giết người và cố ý gây thương tích, các tội xâm phạm sở hữu như cướp, trộm cắp. Nhìn chung, số vụ án các bang xử lý lớn hơn rất nhiều so với con số của liên bang[3].

Mặc dù các bang có thẩm quyền lớn trong việc truy tố hầu hết các loại tội phạm nêu trên, nhưng họ chỉ có thể điều tra và truy tố các tội phạm xảy ra trên địa bàn lãnh thổ của bang. Thẩm quyền của liên bang thì mở rộng trên phạm vi toàn liên bang. Do vậy, liên bang có khả năng tốt hơn khi điều tra và truy tố các tội phạm phức tạp, xảy ra trên bình diện rộng.

Văn phòng các vấn đề quốc tế (OIA), bộ phận hình sự, Bộ Tư pháp Hoa Kỳ chịu trách nhiệm xử lý tất cả các trường hợp dẫn độ tội phạm với nước ngoài. Khi các chính phủ nước ngoài yêu cầu dẫn độ, họ phải cung cấp chứng cứ cho phía Bộ Tư pháp Hoa Kỳ để Bộ Tư pháp trình bày tại toà khi Quyết định dẫn độ bị kiện, hay bị xem xét tại toà án.

Mặc dù có sự khác nhau trong tố tụng hình sự (TTHS) giữa các bang với nhau, giữa các bang và chính quyền liên bang, nhưng một số các nguyên tắc cơ bản của luật hình sự được áp dụng thống nhất cho các hoạt động điều tra và truy tố của các bang và liên bang.

Thứ nhất, một nguyên tắc thống nhất là việc điều tra và truy tố thuộc trách nhiệm của nhánh quyền lực hành pháp. Công tố viên, nhân viên điều tra và cảnh sát là các thành viên nhánh hành pháp, không nằm trong nhánh quyền lực tư pháp. ở Hoa Kỳ, không có khái niệm một thẩm phán điều tra - vốn tồn tại ở hệ thống pháp luật lục địa, dân sự. Do đó, vai trò của thẩm phán trong hoạt động điều tra tội phạm hình sự bị hạn chế. Tuy nhiên, một số hoạt động điều tra chỉ có thể được tiến hành sau khi có được sự chấp thuận, cho phép của thẩm phán. Chỉ thẩm phán mới có quyền ra lệnh khám xét và thu giữ chứng cứ về tội phạm, mới có quyền ra lệnh ghi âm các cuộc nói chuyện điện thoại, hay ra lệnh triệu tập nhân chứng hay một người nào đó để cung cấp thông tin, tài liệu và nếu từ chối sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự và trong trường hợp đặc biệt, chỉ thẩm phán mới có thể ra lệnh bắt người.[4]

Bất cứ khi nào, một công tố viên (hay một nhân viên cảnh sát, trong trường hợp khẩn cấp) thấy cần thiết phải có một quyết định, hay lệnh của toà án để phục vụ hoạt động điều tra, anh ta phải làm một yêu cầu chính thức gửi toà án và trình bày rõ các tình tiết và chứng cứ minh chứng cho tính cần thiết của yêu cầu đó. Một thẩm phán sẽ chỉ ra lệnh hay quyết định nếu ông ta xác định rằng, các căn cứ nêu ra có cơ sở cho việc ra lệnh. Chẳng hạn, để ra lệnh khám xét, thẩm phán phải xác định rằng các chứng cứ nêu ra cho thấy có căn cứ về một tội phạm đã xảy ra và chứng cứ về tội phạm có thể tìm thấy ở nơi cần khám xét.

Thứ hai, một số thủ tục, nguyên tắc tố tụng hình sự được quy định trong Hiến pháp Mỹ và được áp dụng cho tố tụng hình sự của cả các bang và liên bang. Chẳng hạn, một người bị truy tố về một tội nghiêm trọng có quyền được xét xử bởi một bồi thẩm đoàn và được đại diện bởi một luật sư bào chữa. Tại phiên toà, bị cáo có quyền đối chất chứng cứ với người đã khai báo, làm chứng chống lại anh ta (nguyên tắc chống tự buộc tội - Tu chính án thứ 6). Ngoài ra, không ai có nghĩa vụ phải khai báo chống lại chính mình (Tu chính án thứ 5). Nhìn chung, Hiến pháp quy định không một lệnh nào có thể được ban hành, nếu không dựa trên các bằng chứng đủ để cho thấy có một tội phạm đã xảy ra.

Do đó, một lệnh bắt không được ban hành trừ khi có đủ chứng cứ rõ ràng cho thấy, có một tội phạm đã xảy ra và người bị bắt đã thực hiện hành vi phạm tội đó.

 

I. Các cơ quan tiến hành tố tụng: điều tra, truy tố và xét xử các tội phạm hình sự liên bang

 

1. Bộ Tư pháp

 

Như đã nêu, trách nhiệm điều tra, truy tố tội phạm ở Hoa Kỳ thuộc nhánh quyền lực hành pháp. Tất cả các công tố viên của Hoa Kỳ đều thuộc Bộ Tư pháp. Thêm vào đó, tất cả các nhân viên của Cục điều tra liên bang (FBI), của lực lượng phòng chống ma tuý (DEA), của lực lượng cảnh sát liên bang (U.S. Marshals) và các điều tra viên của lực lượng phòng chống rượu, thuốc lá, vũ khí và chất nổ (BATFE) đều trực thuộc Bộ Tư pháp[5] và toàn bộ các lực lượng này đều thuộc quyền tổng chỉ huy của Bộ trưởng Bộ Tư pháp (ATTORNEY GENERAL).

            Việc truy tố các tội phạm liên bang ở mỗi toà án của quận nào thuộc trách nhiệm của Chưởng lý liên bang của mỗi quận đó (US Attorney for that district). Chưởng lý liên bang của mỗi quận do Tổng thống bổ nhiệm và thông báo tới Bộ trưởng Bộ Tư pháp.

Có 94 toà án quận ở Mỹ và có 93 Chưởng lý liên bang. Số lượng các Chưởng lý và công tố viên liên bang ở mỗi quận phụ thuộc vào số lượng các vụ việc ở mỗi quận (cả lĩnh vực hình sự và dân sự). Chẳng hạn, Văn phòng Chưởng lý liên bang quận Nam NewYork (Manhattan) có đội ngũ nhân viên nhiều hơn Văn phòng tư pháp thuộc quận Connecticut. Các nhân viên thuộc Vụ hình sự thuộc Bộ Tư pháp liên bang ở thủ đô có quyền truy tố mọi tội phạm xảy ra trên tất cả các quận toàn nước Mỹ, nhưng đứng đầu đội ngũ công tố viên là 93 giám đốc Chưởng lý liên bang và các chưởng lý dưới quyền, trợ lý chưởng lý liên bang.

 

2. Cơ quan xét xử của liên bang

Có 3 cấp xét xử các vụ án hình sự. Các thẩm phán sau khi được bổ nhiệm, trừ thẩm phán địa phương, có thể giữ nhiệm kỳ suốt đời. Hiến pháp Hoa Kỳ có quy định bảo đảm chế độ bổ nhiệm suốt đời cho các thẩm phán.

 

2.1. Các thẩm phán ở Toà án cấp quận

 

Cấp độ thấp nhất trong hệ thống xét xử là 94 toà án cấp quận. Các thẩm phán ở cấp này là thẩm phán địa phương (cấp thấp nhất của thẩm phán liên bang) hoặc thẩm phán liên bang quận. Tất cả các vụ án hình sự thuộc thẩm quyền liên bang đều được xét xử tại các toà án quận này.

Những vụ án nhỏ, ít nghiêm trọng có thể được xét xử bởi một thẩm phán địa phương. Các vụ còn lại được xét xử bởi một thẩm phán liên bang quận. Tại phiên toà, các thẩm phán sẽ phán quyết các vấn đề về luật và chứng cứ. Nếu không có bồi thẩm đoàn, họ cũng phán quyết cả các vấn đề thực tế, xác định chứng cứ xem đã đủ kết tội hay không. Việc quyết định hình phạt đối với một người đã được định tội thuộc thẩm quyền của các thẩm phán.

Thẩm quyền của các thẩm phán liên bang quận (district) lớn hơn rất nhiều so với các thẩm phán địa phương (magistrate). Tuy nhiên, trong một số trường hợp cần thiết, thẩm phán liên bang quận có thể giao một số việc cụ thể cho các thẩm phán địa phương. Chẳng hạn, theo quy định, tất cả các phiên xử về việc dẫn độ tội phạm (có được dẫn độ một người hay không) thuộc thẩm quyền xử lý của toà án cấp quận, nhưng thẩm phán cấp quận (trên toàn liên bang) xác định việc xét xử những vụ việc đó có thể do các thẩm phán địa phương tiến hành.

Ngoài việc xét xử ở các phiên toà, các thẩm phán liên bang quận còn có quyền ban hành các lệnh bắt, khám xét và kê biên tài sản, cho phép bị cáo tại ngoại và quyết định tất cả các vấn đề pháp lý khác trước khi xét xử.

 

2.2. Các toà án phúc thẩm liên bang

 

Cấp xét xử tiếp theo của hệ thống toà án liên bang là các toà phúc thẩm ở các Hạt. Có 13 Toà phúc thẩm Hạt (Circuit Courts of Appeals). Mỗi một Toà án phúc thẩm phụ trách việc xét xử phúc thẩm các vụ án hình sự mà các tòa cấp quận thuộc phạm vi mình phụ trách. Chẳng hạn, Toà phúc thẩm Hạt số 2 xét xử phúc thẩm các vụ án đã được xét xử bởi các Toà án quận thuộc địa phận các bang Connecticut, NewYork và Vermont.

Người bị xét xử (sơ thẩm) về các tội phạm liên bang có quyền kháng cáo lên các Toà phúc thẩm có thẩm quyền. Tuy nhiên, các Toà phúc thẩm thường có thái độ tôn trọng đối với các tình tiết thực tế (chứng cứ) đã được xem xét ở Toà sơ thẩm và không xem xét mở rộng đối với các vấn đề thực tế, mà tập trung xem xét các vấn đề về luật. Thẩm quyền kháng nghị phúc thẩm của công tố viên bị hạn chế. Chẳng hạn, công tố viên không thể kháng nghị, nếu Toà sơ thẩm đã quyết định bị cáo vô tội.

Phiên xử phúc thẩm được tiến hành bởi hội đồng gồm 03 thẩm phán. Trong một số  ít trường hợp, quyết định của hội đồng 03 thẩm phán có thể được xem xét lại bởi tất cả các thẩm phán của Toà phúc thẩm. ở cấp phúc thẩm, bên nguyên và bên bị phải đệ trình văn bản nên rõ căn cứ pháp luật áp dụng đối với các tình tiết thực tế của vụ án và lý do, lập luận cho yêu cầu kháng cáo, kháng nghị. Hội đồng xét xử sẽ nghe các bên “tranh luận” hay đưa ra các câu hỏi liên quan đến vụ án. Sau đó sẽ đánh giá mọi tình tiết và ra bản án. Thông thường, toà án sẽ ra phán quyết bằng văn bản và giải thích những lý do mà tòa đưa ra quyết định đó.

 

2.3. Toà án tối cao liên bang

            Toà án tối cao có 9 thẩm phán. Trừ trường hợp đặc biệt xét xử sơ thẩm, toà án tối cao là cấp phúc thẩm cuối cùng, xem xét lại các bản án của các Toà phúc thẩm liên bang (của các Hạt) và các bản án của các Toà án tối cao của các bang. Quyết định của toà án tối cao là quyết định cuối cùng. Trong lĩnh vực hình sự, thông thường các bên không có quyền đề nghị Toà tối cao liên bang xem xét lại bản án. Thay vào đó, các bên có thể trông chờ Toà án tối cao xem xét lại bản án thông qua Đơn kiến nghị gửi lên Toà này giải thích lý do tại sao các vấn đề về luật trong vụ án của họ có ý nghĩa quan trọng cần được xem xét tại Toà án tối cao. Chỉ một số lượng rất ít các đơn này được Toà án tối cao chấp nhận. Trong 50 năm qua, Toà án tối cao liên bang chưa xem xét lại bất kỳ vụ án nào về dẫn độ tội phạm.

 

II. Thủ tục tố tụng đối với tội phạm liên bang

 

1. Điều tra và buộc tội

 

Khi một trong các cơ quan điều tra liên bang tin rằng, đã có đủ chứng cứ về một tội phạm liên bang đã xảy ra, nhân viên điều tra sẽ trình bày mọi phát hiện của họ tới Văn phòng Chưởng lý liên bang tại quận đó. Một trong những trợ lý của Chưởng lý liên bang sẽ xem xét mọi tình tiết và hỏi lại cơ quan điều tra để xem đã đủ để kết luận một tội phạm đã xảy ra hay không.

Nếu thấy chứng cứ chưa đủ  cấu thành tội phạm, trợ lý Chưởng lý liên bang sẽ yêu cầu cơ quan điều tra tiếp tục cuộc điều tra hoặc quyết định chuyển vụ việc cho Đại bồi thẩm đoàn (grand jury) và Đại bồi thẩm đoàn sẽ tiến hành điều tra vụ việc đó.

Nếu chứng cứ đã đủ, trợ lý Chưởng lý liên bang sẽ trình bày vụ việc với Đại bồi thẩm đoàn và yêu cầu họ bỏ phiếu thông qua (hay phê chuẩn) quyết định khởi tố - coi như chính thức truy tố. Tuy nhiên, trong một số trường hợp không đủ thời gian để trình bày với Đại bồi thẩm đoàn vì cần bắt giữ người phạm tội ngay, thì trợ lý Chưởng lý liên bang sẽ yêu cầu Toà án ban hành lệnh bắt dựa trên một văn bản đề nghị (có tuyên thệ) trong đó nêu rõ các căn cứ tình tiết, chứng cứ về việc phạm tội của bị can. Sau khi đã xem xét kỹ lưỡng, thẩm phán thấy rằng đã đủ căn cứ theo yêu cầu về chứng cứ, ông ta có thể ra lệnh bắt người đó. Nếu lệnh bắt đã được ban hành theo thủ tục trên, Chưởng lý liên bang sau đó phải trình bày vụ việc với Đại bồi thẩm đoàn và phải có được quyết định phê chuẩn việc khởi tố từ Đại bồi thẩm đoàn.

Đại bồi thẩm đoàn bao gồm 16 - 23 thành viên có trách nhiệm xem xét mọi tình tiết, chứng cứ đưa ra để bỏ phiếu thông qua quyết định buộc tội. Thông thường, Đại bồi thẩm đoàn chỉ nghe thông tin từ phía cơ quan của Chính phủ. Mục tiêu của một cuộc điều tra (ví dụ một cá nhân mà cuộc điều tra hướng tới) có thể không bị triệu tập ra trình bày trước Đại bồi thẩm đoàn, nhưng anh ta có thể tự nguyện trình bày trước Đại bồi thẩm đoàn. Song điều này hiếm khi xảy ra.

Theo quy định, để truy tố một người, ít nhất 12 thành viên của Đại bồi thẩm đoàn phải nhất trí là có đủ tình tiết, chứng cứ chứng tỏ bị can đã phạm tội. Khi Đại bồi thẩm nghị án, các thành viên như công tố viên, điều tra viên và nhân viên thư ký toà án và tất cả những người khác phải rời khỏi phòng của Đại bồi thẩm đoàn.

Theo Hiến pháp, người bị khởi tố về tội có mức hình phạt từ một năm tù trở lên có quyền được quyết định truy tố bởi Đại bồi thẩm đoàn[6]. Đại bồi thẩm đoàn không có quyền phán quyết một người nào đó có tội hay vô tội. Việc đó chỉ được thực hiện tại phiên toà xét xử chính thức sau này.

Công tố viên liên bang không có quyền ra lệnh triệu tập một người nào đó đến để khai báo hoặc cung cấp chứng cứ mà họ đang có, mà Đại bồi thẩm đoàn mới có thẩm quyền ra các lệnh này. Do đó, xét về bản chất, Đại bồi thẩm đoàn có thẩm quyền điều tra. Trong thực tế, các trợ lý Chưởng lý liên bang và các công tố viên liên bang thường ban hành các Lệnh triệu tập nhân danh Đại bồi thẩm đoàn. Còn các Đại bồi thẩm đoàn có thể tự ban hành các Lệnh triệu tập bổ sung nhân chứng theo ý của mình.

Khi nhân chứng được triệu tập ra trước Đại bồi thẩm đoàn, trợ lý Chưởng lý liên bang thường đặt câu hỏi với họ, mặc dù trong nhiều trường hợp, các bồi thẩm cũng đặt câu hỏi. Một nhân chứng khi trình bày trước Đại bồi thẩm đoàn, cũng như nhân chứng trước phiên toà, có thể không bị bắt buộc phải cung cấp chứng cứ nếu chứng cứ đó có thể dẫn đến việc buộc tội chính mình. Như đã nêu trên đây, quyền này được ghi nhận trong Hiến pháp (Tu chính án thứ năm), gọi là Quyền ưu tiên hay Nguyên tắc chống tự buộc tội.

Hoạt động của Đại bồi thẩm đoàn được ghi vào biên bản thông qua nhân viên đánh máy và được giữ bí mật. Nếu một công tố viên hay một thành viên bồi thẩm có bất kỳ bình luận gì trước công chúng về hoạt động của Đại bồi thẩm đoàn sẽ phạm tội hình sự. Công tố viên cũng không được tiết lộ với bất kỳ công tố viên hay điều tra viên nào khác, trừ những người trực tiếp tham gia vụ án, về các hoạt động của Đại bồi thẩm đoàn. Thông tin về hoạt động của Đại bồi thẩm đoàn chỉ có thể được tiết lộ nếu có Lệnh của một Toà án liên bang. Tuy nhiên, điều đó hiếm khi xảy ra. Tất nhiên, những chứng cứ thu được từ bồi thẩm đoàn có thể được sử dụng tại phiên toà xét xử sau này, nếu Đại bồi thẩm đoàn quyết định truy tố. Trong những vụ án lớn và phức tạp, chẳng hạn các vụ gian lận tài chính lớn, sự tham gia từ đầu của Đại bồi thẩm đoàn có ý nghĩa rất lớn đối với hoạt động điều tra. Trong những vụ như vậy, điều tra viên và công tố viên cũng sẽ phối hợp làm việc chặt chẽ ngay từ giai đoạn điều tra ban đầu.

 

2. Bắt giữ

 

Trong hệ thống liên bang, một người có thể bị bắt sau khi Đại bồi thẩm đoàn đã phê chuẩn quyết định khởi tố (truy tố) về một tội. Như đã nêu trên, thẩm phán cũng có thể ra lệnh bắt trước khi có phán quyết phê chuẩn này. Thông thường, trợ lý Chưởng lý liên bang sẽ đề nghị Toà án ra lệnh bắt người có tên trong quyết định truy tố (của bồi thẩm đoàn)[7]. Phụ thuộc vào nhiều tình tiết mà sau khi bị bắt, bị can có thể bị tạm giam hoặc  được nộp tiền bảo lãnh để tại ngoại. Những tình tiết này bao gồm các điều kiện: mức độ nghiêm trọng của vụ việc, tiền án, khả năng bỏ trốn. Thẩm phán sẽ quyết định một người có bị tạm giam hay không hoặc được tại ngoại và nếu tại ngoại thì kèm theo điều kiện gì. Những điều kiện này bao gồm cả yêu cầu bị can, hay người đại diện của bị can, phải đặt bao nhiêu tiền, tài sản và nếu trốn, tiền hoặc tài sản sẽ bị tịch thu.

            Ngay sau khị bị bắt, bị can sẽ được đưa tới một thẩm phán. Thẩm phán sẽ thông báo với bị can về việc bị truy tố, buộc tội và hỏi bị can nhận tội hay không nhận tội đã bị truy tố. Quá trình này được gọi là buộc tội.

 

3. Xét xử

 

Theo Hiến pháp Hoa Kỳ, một người bị truy tố về tất cả các tội, trừ những tội ít nghiêm trọng, có quyền được xét xử bởi một bồi thẩm đoàn. Đây là bồi thẩm đoàn có chức năng xét xử, còn gọi là Tiểu bồi thẩm đoàn (petit jury - khác với Đại bồi thẩm đoàn có chức năng buộc tội nêu trên). Bồi thẩm đoàn này có 12 thành viên là những công dân bình thường và phải cùng đồng thuận phán quyết bị cáo có tội hay không. Tại phiên toà, công tố viên phải chứng minh rằng, một người nào đó đã phạm một tội hình sự. Bị cáo không có nghĩa vụ phải khai báo hay phải yêu cầu có mặt nhân chứng ủng hộ mình[8]. Trái lại, nếu anh ta quyết định khai báo thì sẽ phải tuyên thệ và bị truy tố về tội khai báo gian dối như bất kỳ nhân chứng nào nếu khai báo gian dối.

            Tại phiên toà có bồi thẩm đoàn, bồi thẩm đoàn sẽ xác định chứng cứ nêu ra liệu có đủ thuyết phục để kết tội bị cáo hay không. Bồi thẩm đoàn khi quyết định chỉ được dựa trên các tình tiết, chứng cứ được trình bày tại phiên toà. Nếu bồi thẩm đoàn có quan điểm cá nhân là một người nào đó đã phạm tội (như đã truy tố), nhưng lại xác định rằng chứng cứ của công tố viên nêu ra tại toà chưa đủ cơ sở để chứng minh bị cáo phạm tội, bồi thẩm đoàn phải tuyên vô tội cho bị cáo.

            Thẩm phán chủ toạ điều khiển phiên toà và quyết định những vấn đề về pháp luật, bao gồm cả việc có chấp nhận một chứng cứ nào đó hay không (chẳng hạn quyết định một chứng cứ nào đó có thể được trình bày trước bồi thẩm đoàn hay không). Thẩm phán cũng hướng dẫn bồi thẩm đoàn về các nguyên tắc pháp luật áp dụng trong vụ án để quyết định bị cáo có tội hay vô tội.

            Bị cáo có quyền từ bỏ quyền được xét xử bởi bồi thẩm đoàn. Thẩm phán khi đó sẽ có vai trò của người “xét xử các tình tiết thực tế” và quyết định với các chứng cứ được trình bày đã đủ để cho rằng bị cáo đã phạm tội hay không.

            Thẩm phán có quyền, và thỉnh thoảng, đặt câu hỏi với nhân chứng. Tuy nhiên, việc đặt câu hỏi với nhân chứng là trách nhiệm đầu tiên và cơ bản của công tố viên và luật sư bào chữa. Họ (công tố viên và luật sư) đặt ra hầu hết (nếu không nói là tất cả) các câu hỏi với nhân chứng.

            Một nhân viên toà án sẽ ghi chép lại nguyên bản mọi lời nói, câu hỏi đáp tại phiên toà giữa luật sư, công tố viên, thẩm phán và nhân chứng. Những ghi chép này bao gồm cả các đối thoại, tranh luận giữa công tố viên và luật sư bào chữa tại phòng riêng trước thẩm phán - mà không có sự hiện diện của bồi thẩm đoàn về các vấn đề về luật, chẳng hạn tranh luận về một chứng cứ có được chấp nhận (admissible) và được đưa ra tại phòng xét xử chính thức hay không.

            Nếu bị cáo bị tuyên có tội, trách nhiệm của thẩm phán chủ toạ là quyết định hình phạt. Bị cáo bị kết tội có quyền kháng cáo phúc thẩm lên Toà phúc thẩm Hạt có thẩm quyền. Nếu bị cáo được tuyên vô tội và được thả tự do, công tố viên không có quyền kháng nghị phúc thẩm. Thông thường, bị cáo có thể kháng cáo về hình phạt đã tuyên.  Công tố viên và bị cáo phải quyết định yêu cầu đoạn biên bản phiên toà nào và chứng cứ nào (đã được xem xét tại toà sơ thẩm) cần được Toà phúc thẩm xem lại. Không có chứng cứ mới nào được phép trình ra tòa phúc thẩm.

 

3.1. Không truy tố

 

Một trong những đặc trưng lớn nhất của nền tư pháp Hoa Kỳ là thẩm quyền tuỳ nghi rộng lớn của công tố viên trong các vấn đề hình sự. Chẳng hạn, một công tố viên liên bang có thể quyết định không truy tố một tội phạm, nếu thấy vụ việc quá nhỏ để truy tố theo thẩm quyền liên bang. Chẳng hạn, số lượng ma tuý hay thiệt hại cho nạn nhân không đáng kể. Khi đó, cơ quan điều tra (liên bang) có thể chuyển vụ việc cho một công tố viên của bang (nếu vụ việc đó có thể bị truy tố ở toà án bang) và công tố viên của bang cũng có toàn quyền truy tố hay không truy tố. Tương tự, công tố viên liên bang có thể không truy tố một tội phạm ít nghiêm trọng nếu cho rằng, có giải pháp khác thay thế, chẳng hạn bị cáo đồng ý bồi thường cho nạn nhân.

            Bị cáo bị khởi tố về các tội ít nghiêm trọng, không bạo lực, có thể được xử lý theo các cách thức khác, thông thường là bồi thường, khắc phục hậu quả cho nạn nhân. Nếu bị cáo thực hiện xong các biện pháp đó, họ sẽ không bị truy tố nữa và tránh bị lập lý lịch hình sự.

            Một cách thức nữa mà công tố viên có thể không truy tố hoặc đề nghị Đại bồi thẩm đoàn rút lại quyết định (phê chuẩn) truy tố là mặc dù có đủ chứng cứ để khởi tố và phê chuẩn việc truy tố, nhưng các chứng cứ dù có bổ sung sau này cũng không thể chứng minh được bị cáo phạm tội tại phiên toà xét xử chính thức. Trong những trường hợp như vậy, công tố viên không bị bắt buộc phải đề nghị ra lệnh bắt. Còn nếu công tố viên đã khởi tố, buộc tội, có phê chuẩn từ Đại bồi thẩm đoàn, đã có lệnh bắt bị can từ toà án, (mà sau đó quyết định không truy tố), thì việc đó được coi như lạm dụng quyền tuỳ nghi của công tố viên.

 

3.2. Thoả thuận nhận tội

 

Hầu hết các vụ án hình sự ở Mỹ, trước khi xét xử, thậm chí ngay tại phiên xử, được xử lý /giải quyết theo thủ tục bị cáo nhận tội. Thông thường, việc nhận tội của bị cáo có được sau khi có thương lượng giữa luật sư đại diện cho bị cáo và công tố viên. Thủ tục này được gọi là Thoả thuận nhận tội (hay thú tội). Theo thủ tục này, bị cáo, thường thông qua luật sư, đồng ý nhận tội theo một hay tất cả các tội mà công tố viên khởi tố /buộc tội để đổi lại một số hoạt động nhất định của công tố viên. Công tố viên có thể đồng ý không truy tố một hay một số tội danh đã khởi tố /buộc tội, hay thậm chí sẽ đưa ra đề nghị về mức án với thẩm phán, hoặc không phản đối mức án mà luật sư bào chữa đưa ra[9]. Thoả thuận của công tố viên (với phía bị cáo) có hiệu lực pháp luật trên toàn liên bang. Là một phần của thoả thuận nhận tội, bị cáo có thể đồng ý khai báo sự thật về các tội phạm mà anh ta biết được. Do vậy, công tố viên có thể sử dụng thoả thuận nhận tội để có được lời khai từ những kẻ phạm tội ít nghiêm trọng trong vụ án, để có chứng cứ kết tội những kẻ phạm tội nghiêm trọng hơn.

            Thoả thuận nhận tội phải được lập trước một thẩm phán. Một nhân viên toà án sẽ viết biên bản về tất cả mọi điều nêu ra trong khi thoả thuận. Trước khi thẩm phán chấp thuận thoả thuận, ông ta sẽ đặt câu hỏi với bị can (tại một phiên họp /xử công khai) để đảm bảo rằng, bị cáo hiểu hết về quyền của anh ta không phải nhận tội và có quyền yêu cầu một phiên xét xử chính thức; rằng anh ta nhận tội hoàn toàn tự nguyện, hiểu hết mọi điều khoản trong Thoả thuận và hậu quả của việc nhận tội; rằng anh ta không bị ép buộc hay bị hứa hẹn, lừa dối không đúng pháp luật từ phía công tố; và có cơ sở thực tế của Thoả thuận nhận tội. Nếu thẩm phán không thoả mãn, hài lòng với trả lời từ phía bị can, thẩm phán sẽ không chấp nhận lời nhận tội của bị can.

 

3. 3. Miễn trừ truy tố

           

Để có được chứng cứ cần thiết truy tố một tội phạm liên quan đến các vụ phạm tội có tổ chức là một điều đặc biệt khó khăn. Tính chất bí mật của các tổ chức này và sự  đe dọa sẽ làm cho việc có được chứng cứ - những lời khai cần thiết chống lại những kẻ cầm đầu - là điều đặc biệt khó khăn cho các công tố viên. Nhân chứng ngoài các tổ chức này thông thường rất sợ hãi khi phải khai báo. Những thành viên trong tổ chức thì không chỉ không muốn khai báo, mà còn viện dẫn Tu chính án thứ 5 về nguyên tắc chống tự buộc tội và từ chối khai báo về bất cứ tội phạm nào mà họ tham gia. Quyền lực đặc biệt của công tố viên để miễn trừ truy tố cho các nhân chứng, thường sẽ tạo điều kiện cho họ có được lời khai đặc biệt có giá trị, đặc biệt khi truy tố  các vụ án loại này.

            Thứ nhất, công tố viên sẽ xác định sự hợp tác hoặc những lời khai có giá trị đến mức nào và tầm quan trọng của lời khai hay sự hợp tác của một người nào đó có giá trị, trọng lượng cao hơn yêu cầu, đòi hỏi phải truy tố người đó về những tội nhẹ, ít nghiêm trọng mà họ tham gia. Trong trường hợp đó, công tố viên sẽ đồng ý không truy tố người đó về tội phạm mà họ sẽ khai ra hoặc sẽ hợp tác, chẳng hạn sẽ cung cấp thông tin và hợp tác trong hoạt động điều tra. Do vậy công tố viên sẽ trao (xác nhận) miễn trừ truy tố đối với một số tội mà họ đã phạm.

            Thứ hai, công tố viên có thể xác định phạm vi, mức độ miễn trừ. Trường hợp này được quy định nhằm bỏ qua hay bác lập luận của nhân chứng về nguyên tắc chống tự buộc tội. Trong trường hợp này, công tố viên đề nghị tòa án bắt buộc nhân chứng phải khai báo và nhân chứng sẽ được đảm bảo rằng lời khai đó (và bất kỳ thông tin nào có được từ lời khai đó) sẽ không được sử dụng để truy tố chống lại anh ta. Cách thức miễn trừ này được quy định trong các luật do Quốc hội thông qua, nhằm giải quyết thực tế khó khăn cần có được chứng cứ trong các vụ phạm tội có tổ chức. Công tố viên vẫn có quyền truy tố người đã được hưởng quyền miễn trừ này với điều kiện các chứng cứ (mới) chống lại anh ta không sử dụng hay không có được từ những lời khai trước đó.

 

III. Phân loại nghề nghiệp thẩm phán, công tố viên và luật sư bào chữa

 

1. Điều kiện

           

Tòa án cao nhất của mỗi bang trong năm mươi bang và của quận Columbia thiết lập các tiêu chuẩn cho việc hành nghề luật trong các Tòa án thuộc thẩm quyền. Trong thực tế, tất cả các bang đều đòi hỏi các luật sư tương lai phải có bằng đại học 4 năm (không quy định bắt buộc phải có bằng đại học chuyên ngành cụ thể nào), sau đó phải tiếp tục 3 năm học trong trường chuyên ngành luật. 

            Để được chấp nhận hành nghề luật tại một bang nào đó hoặc tại quận Columbia, một người phải được chấp nhận bởi một Hội đồng xem xét đạo đức của bang đó và phải trải qua một kỳ thi về luật của Hoa Kỳ nói chung bao gồm cả luật hiến pháp, các quy tắc đạo đức nghề luật, luật nội dung và tố tụng của bang đó.

            Những người vượt qua các kỳ thi và có đủ đạo đức để hành nghề luật, sẽ được phép hành nghề luật tại các tòa án. Để được hành nghề tại các tòa án liên bang, họ sẽ phải đăng ký hành nghề tại tòa án cấp quận và các tòa án phúc thẩm cấp Hạt của liên bang. Thông thường họ không phải dự thêm các kỳ thi để hành nghề tại các tòa án liên bang. Rất nhiều luật sư của Mỹ đăng ký thuộc nhiều đoàn luật sư của các bang khác nhau; nhiều bang chấp thuận luật sư của bang này được hành nghề tại bang kia theo nguyên tắc có đi có lại nếu luật sư đã hành nghề một số năm, thông thường là năm năm và có đủ đạo đức phẩm chất.

 

2. Thuật ngữ

           

Khi một người được chấp thuận vào một đoàn luật sư, anh ta được coi là thành viên của đoàn đó và được coi là luật sư hoặc luật gia. ở Mỹ, các khái niệm này có cùng một nghĩa và được sử dụng như nhau. Từ esquire (ngài) đặt đằng sau tên của một người Mỹ có nghĩa người đó là một luật sư. Việc sử dụng từ esquire như vậy tuy không chính thống nhưng lại được áp dụng rất phổ biến. Ngoài ra, khái niệm counsel (luật sư) hay counsellor at law (cố vấn pháp luật) cũng được sử dụng cho các luật sư và cũng được hiểu người được gọi như vậy là một luật sư.

 

3. Phân loại nghề nghiệp

           

Một luật sư (luật gia) có thể đăng ký hành nghề trong khu vực tư nhân, có nghĩa là họ có thể đại diện cho bất kỳ ai nếu được yêu cầu. Một luật sư cũng có thể được thuê làm việc cho chính quyền thành phố, chính quyền bang hay chính quyền liên bang trong hàng loạt các công việc đòi hỏi phải có hiểu biết về pháp luật. Riêng các công tố viên thì luôn là luật gia và là công chức của chính quyền bang, liên bang hay thành phố.

            Các luật sư (luật gia) đang hành nghề tư nhân cũng có thể làm cho các cơ quan của chính phủ, kể cả việc trở thành công tố viên. Ngược lại, các công tố viên có thể rời khỏi cơ quan chính phủ để hành nghề trong khu vực tư nhân và lại trở thành luật sư bào chữa.

            Thẩm phán thì thường được chọn từ hai nguồn: những luật gia đã hành nghề trong khu vực tư nhân và những công tố viên có kinh nghiệm. Đôi khi, cả những luật gia (không phải là công tố viên) đang làm việc cho các cơ quan khác của chính phủ cũng được chọn. Họ cũng thể được chọn từ những giảng viên luật.

Thẩm phán của tòa án các bang thường được bầu và hoạt động theo nhiệm kỳ. Các thẩm phán liên bang và thẩm phán của các tòa cấp quận ở Columbia do tổng thống bổ nhiệm theo khuyến nghị và sự chấp thuận của Thượng viện Mỹ. Các thượng nghị sỹ giới thiệu các ứng cử viên thẩm phán cho các Tòa án liên bang (cấp quận hay hạt) nằm trên địa phận bang của họ. Các thẩm phán liên bang được bổ nhiệm suốt đời. Rất hiếm khi các thẩm phán liên bang từ bỏ nghề xét xử để hành nghề trong khu vực tư nhân.

            Hiệp hội luật sư Hoa Kỳ (ABA) là một tổ chức mang tính chất tư nhân của các luật gia, bao gồm cả những người hành nghề tư nhân, những luật gia làm việc trong khu vực nhà nước (bao gồm cả các công tố viên) và các thẩm phán là thành viên của tổ chức này. ABA tự xếp hạng cho các ứng cử viên vào các vị trí thẩm phán liên bang. Mặc dù việc xếp hạng của ABA là không chính thức, nhưng Thượng viện Mỹ gần như chưa bao giờ chấp thuận một ứng cử viên mà ABA xếp hạng thấp để giới thiệu làm thẩm phán liên bang.

Trung tâm tư pháp liên bang tại thủ đô Washington thực hiện các khóa đào tạo ngắn hạn cho các thẩm phán liên bang mới được bổ nhiệm. Ngoài ra cũng có một trung tâm tại Reno (Nevada) mở cửa cho các thẩm phán từ bất kỳ bang nào. Một điều thú vị là, thẩm phán của Tòa án tối cao liên bang không bắt buộc phải là luật gia, tuy nhiên trong thực tế họ luôn là các luật gia.

 

Trần Đại Thắng 

Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu lập pháp điện tử

 


[1] Nguyên bản Cơ quan công tố hình sự ở Hoa Kỳ: Guide to criminal prosecutions in the United States, trong Websites: ww.oas.org

[2] Cơ sở để xác định thẩm quyền xét xử của liên bang rất phức tạp và chỉ có thể thấy ở Mỹ. Chẳng hạn, một vài loại tội đòi hỏi để được truy tố tại toà án liên bang phải có yếu tố liên bang như sử dụng bưu điện, điện thoại, liên lạc viễn thông, giao thông qua nhiều bang. Thậm chí còn được quy định trong các hiệp định dẫn độ tội phạm với nước ngoài.

[3] Sự kết hợp cả hai cơ chế tư pháp liên bang và bang nêu trên tạo nên tổng thể về hệ thống tư pháp liên bang của Mỹ.

[4] Theo luật liên bang, một nhân viên toà án (a clerk of the court) có thể ra lệnh bắt bị cáo sau khi đã có quyết định truy tố.

[5] Ngoài ra còn có các lực lượng điều tra chuyên trách thuộc các Bộ, ngành khác có thẩm quyền điều tra theo lĩnh vực quản lý ngành, chẳng hạn tất cả các điều tra viên thuộc Văn phòng về các dịch vụ bí mật (điều tra tiền giả), Văn phòng hải quan và nhập cư, lực lượng tuần tra biên phòng… đều thuộc quyền quản lý của Bộ An ninh nội địa. Bộ Ngân khố quốc gia có lực lượng điều tra chuyên tội phạm về thuế.

[6] Tuy nhiên, họ có quyền từ bỏ quyền này và được truy tố theo thủ tục khác, thủ tục  “Information”.

[7] Lệnh bắt người không có ý nghĩa để buộc tội hay truy tố.

[8] Thức tế, công tố viên bị cấm có bất kỳ bình luận nào về việc bị cáo không khai báo, không thể trả lời, và thẩm phán phải thông báo với bồi thẩm đoàn rẳng, việc bị cáo im lặng không được coi là bị cáo phạm tội.

[9] Thẩm phán không có nghĩa vụ phải nghe theo đề nghị của công tố viên về mức hình phạt. Khi đó, thẩm phán sẽ cảnh báo trước với phía bị cáo về mức án có thể sẽ tuyên (trước khi bị cáo chấp nhận thoả thuận), để hai bên công tố và phía bị cáo không hiểu lầm toà án bắt buộc phải theo đề nghị hình phạt của công tố viên. Tuy nhiên, nếu công tố viên từ chối truy tố một tội nào đó, điều đó có ý nghĩa bắt buộc đối với toà án. 

Các tin tiếp
Các tin trước