Tội phạm môi trường trong pháp luật hình sự của một số nước Đông Nam Á
15:32' 7/7/2010
Hiện nay tình hình tội phạm môi trường (TPMT) ở Việt Nam đã và đang ngày càng hết sức tinh vi và đa dạng. Theo quy định của pháp luật Việt Nam, TPMT gồm một số hành vi như: Tội gây ô nhiễm không khí, gây ô nhiễm nguồn nước, gây ô nhiễm đất, nhập khẩu công nghệ, máy móc, thiết bị, phế thải hoặc các chất không bảo đảm tiêu chuẩn bảo vệ môi trường... Để giúp bạn đọc có cách nhìn tổng quan về tình hình TPMT, xin giới thiệu bài viết về các quy định TPMT trong pháp luật ở một số nước Đông Nam Á.

Pháp luật Thái Lan

Có thể nói, các tội phạm về môi trường chưa được quy định chi tiết và cụ thể trong Bộ luật hình sự Thái Lan. Tra cứu cả bộ luật này, chúng tôi chỉ thấy 2 điều là Điều 237 và 239 có thể xếp vào tội phạm trong lĩnh vực bảo vệ môi trường (BVMT). Cụ thể, Điều 237 Bộ luật hình sự Thái Lan quy định như sau: “Người nào đưa chất độc hại hoặc các loại chất khác có khả năng gây thiệt hại đến sức khỏe vào trong thực phẩm hoặc nước ở trong giếng, hồ hoặc nơi chứa nước và thực phẩm hoặc nước đó đã tồn tại hoặc đã được cung ứng cho công chúng sử dụng, thì bị phạt tù từ 6 tháng đến 10 năm và phạt tiền từ 1.000 baht đến 20.000 baht” (Đơn vị tiền tệ của Thái Lan). Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 238 Bộ luật hình sự Thái Lan, nếu việc phạm tội kể trên “gây ra chết người, thì người phạm tội sẽ bị phạt tù chung thân hoặc phạt tù từ 5 năm đến 20 năm và một khoản tiền phạt từ 10.000 baht đến 40.000 baht”. Nếu việc vi phạm gây ra thiệt hại nghiêm trọng về thân thể cho người khác thì người phạm tội bị phạt “tù từ 1 đến 10 năm và một khoản tiền phạt từ 2.000 baht đến 20.000 baht”. Ngoài ra, theo quy định tại Điều 239 Bộ Luật hình sự Thái Lan, nếu hành vi phạm tội kể trên được thực hiện với lỗi bất cẩn nhưng gây ra mối nguy hiểm rõ ràng cho tính mạng của người khác thì người phạm tội bị phạt tù không quá 1 năm hoặc bị phạt không quá 2.000 baht hoặc bị áp dụng cả hai hình phạt này.

Chính vì thế, tội phạm môi trường ở Thái Lan chủ yếu được quy định trong các đạo luật chuyên ngành về quản lý môi trường. Chẳng hạn:

- Luật về nguồn nước của Thái Lan năm 1913 (sửa đổi, bổ sung năm 1992) quy định (Điều 119). Người nào vứt bỏ, đổ trái phép đất đá, bùn hoặc các vật khác (không phải là dầu mỡ hoặc hóa chất) xuống sông, ngòi, hồ thuộc phạm vi tiếp cận của công chúng hoặc xuống biển hoặc những nơi mà nguồn nước của Thái Lan có thể bị nhiễm độc vì việc đó thì phạm một tội hình sự. Người phạm tội sẽ bị phạt tù không quá 6 tháng hoặc bị phạt tiền không quá 10.000 baht hoặc bị áp dụng cả hai hình phạt. Trường hợp chất đổ thải là dầu mỡ hoặc hóa chất thì bị phạt tù không quá 3 năm hoặc bị phạt tiền không quá 60.000 baht hoặc bị áp dụng cả hai hình phạt. Cũng theo quy định tại Điều 204 Luật này, người nào làm tràn dầu hoặc làm rò rỉ dầu ra vùng nước, sông ngòi, hồ hoặc biển của Thái Lan thì bị phạt tù không quá 1 năm hoặc bị phạt tiền không quá 20.000 baht hoặc bị áp dụng cả hai hình phạt.

- Luật về chất lượng môi trường Thái Lan năm 1992 cũng có các quy định về tội phạm trong lĩnh vực môi trường theo đó người nào thực hiện các hành vi vi phạm luật này (chẳng hạn hành vi gây ô nhiễm môi trường không khí, gây ô nhiễm đất...) thì bị phạt tù không quá 5 năm hoặc bị phạt tiền từ 10.000 baht - 500.000 baht.

- Luật về nhà máy của Thái Lan năm 1992 cũng có quy định về tội phạm trong lĩnh vực môi trường, theo đó, người có hành vi vi phạm các quy định về BVMT trong đạo luật này sẽ bị phạt tù từ 6 tháng đến 4 năm hoặc bị phạt tiền từ 200.000 baht - 400.000 baht.

- Luật về chất thải nguy hại năm 1992 của Thái Lan cũng có các quy định về các tội vi phạm các quy định về quản lý chất thải, theo đó, người nào vi phạm các quy định của Luật này thì bị phạt tù từ 1 tháng đến 10 năm hoặc bị phạt tiền từ 1.000 baht - 1.000.000 baht...

Pháp luật Malaixia

Bộ luật hình sự Malaixia có một số quy định liên quan đến BVMT cụ thể như sau: Điều 277. Làm bẩn nước ở những con suối hoặc nơi chứa nước công cộng: Người nào tự ý làm bẩn nước ở các con suối hoặc nơi chứa nước công cộng, với mục đích làm cho nước này không phù hợp với các mục đích sử dụng thông thường, thì bị phạt tù đến 3 tháng, hoặc bị phạt tiền tới 1.000 ringgit (đơn vị tiền tệ của Malaixia) hoặc bị áp dụng cả hai hình phạt”.

Điều 278. Làm cho không khí độc hại cho sức khỏe: Người nào tự ý làm bẩn không khí ở bất cứ nơi nào mà làm cho không khí ấy độc hại cho sức khỏe con người ở khu cư trú chung của dân cư hoặc ở nơi tiến hành hoạt động kinh doanh hoặc theo dọc các con đường công cộng, thì bị phạt tiền tới 1.000 ringgit.

Tuy nhiên, các tội phạm trong lĩnh vực BVMT chủ yếu được quy định trong các đạo luật chuyên biệt về BVMT. Chẳng hạn, Luật về chất lượng môi trường Malaixia năm 1974 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) có rất nhiều quy định về tội phạm trong lĩnh vực môi trường cụ thể như sau:

Điều 16 quy định: Người nào có giấy phép do cơ quan môi trường cấp về việc vận hành các loại máy móc, thiết bị hoặc cơ sở hoạt động có liên quan đến môi trường mà không tuân thủ đúng các điều kiện và yêu cầu nêu trong giấy phép đó thì bị tiền không quá 25.000 ringgit hoặc bị phạt tù không quá 2 năm hoặc bị áp dụng cả hai hình phạt. Điều 18 quy định: Người nào quản lý, vận hành cơ sở, phương tiện cất trữ, vận chuyển, xử lý chất thải mà vi phạm các điều kiện và tiêu chuẩn đã quy định trong giấy phép môi trường cấp cho hoạt động này thì bị phạt tiền không quá 50.000 ringgit hoặc bị phạt tù không quá 2 năm hoặc bị áp dụng cả hai loại hình phạt.

Điều 22 quy định: Người nào xả thải các loại chất thải rắn, lỏng hoặc khí vượt quá định mức cho phép trong giấy phép môi trường thì bị phạt tiền đến 100.000 ringgit hoặc bị phạt tù đến 5 năm hoặc bị áp dụng cả hai hình phạt.

Điều 23 quy định: Người nào gây tiếng ồn vượt quá tiêu chuẩn cho phép hoặc vượt quá định mức mà giấy phép đã quy định thì bị phạt tiền đến 100.000 ringgit hoặc bị phạt tù đến 5 năm hoặc bị áp dụng cả hai hình phạt.

Điều 24 quy định: Người nào có hành vi gây ô nhiễm đất mà Tê tê, một trong những loài động vật hoang dã được buôn bán nhiều. không có giấy phép hoặc vượt quá định mức quy định trong giấy phép thì bị phạt tiền đến 100.000 ringgit hoặc bị phạt tù đến 5 năm hoặc bị áp dụng cả hai hình phạt.

Điều 25 quy định: Người nào xả thải chất độc hại vào nguồn nước nội địa hoặc xả thải vượt quá định mức cho phép vào nguồn nước nội địa thì bị phạt tiền đến 100.000 ringgit hoặc bị phạt tù đến 5 năm hoặc bị áp dụng cả hai hình phạt.

Điều 27 quy định: Người nào có hành vi xả thải xăng dầu trái phép vào nguồn nước ở Malayxia thì bị phạt tiền đến 500.000 ringgit hoặc bị phạt tù đến 5 năm hoặc bị áp dụng cả hai hình phạt.

Điều 29 quy định: Người nào thải những chất độc hại, gây ô nhiễm vào nguồn nước ở Malayxia thì bị phạt tiền đến 500.000 ringgit hoặc bị phạt tù đến 5 năm hoặc bị áp dụng cả hai hình phạt.

Điều 30A quy định: Người nào có hành vi không tuân thủ quy chế do Bộ trưởng Môi trường Malayxia ban hành về các biện pháp giảm dần việc sử dụng các chất độc hại cho môi trường, về bắt buộc tái sử dụng một số loại sản phẩm, thì bị phạt đến 50.000 ringgit hoặc bị phạt tù đến 5 năm hoặc bị áp dụng cả hai loại hình phạt...

 

Pháp luật Singapo

Cũng giống như Malaixia, Bộ luật Hình sự Singapo cũng có một số quy định liên quan đến BVMT cụ thể như sau:

Điều 277. Làm bẩn nước ở những con suối hoặc nơi chứa nước công cộng: Người nào tự ý làm bẩn nước ở các con suối hoặc nơi chứa nước công cộng, với mục đích làm cho nước này không phù hợp với các mục đích sử dụng thông thường, thì bị phạt tù đến 3 tháng, hoặc bị phạt tiền tới 500 đô la Singapo hoặc bị áp dụng cả hai hình phạt. Điều 278. Làm cho không khí độc hại cho sức khỏe: Người nào tự ý làm bẩn không khí ở bất cứ nơi nào mà làm cho không khí ấy độc hại cho sức khỏe con người ở khu cư trú chung của dân cư hoặc ở nơi tiến hành hoạt động kinh doanh hoặc theo dọc các con đường công cộng, thì bị phạt tiền tới 500 đô la Singapo.

Tuy nhiên, các tội phạm trong lĩnh vực BVMT chủ yếu được quy định trong các đạo luật chuyên biệt về BVMT. Chẳng hạn:

- Luật Y tế môi trường năm 1987 (sửa đổi, bổ sung nhiều lần và lần gần đây nhất là vào năm 2008) Điều 21 Luật này quy định: người nào thực hiện hành vi trái với quy định tại các Điều 17 (vớt rác, khạc nhổ nơi công cộng), 18 (để bụi bẩn nguy hại cho công chúng trong quá trình xây dựng), 19 (thải các chất độc hại ra nơi công cộng), 20 (xả chất thải từ phương tiện cơ giới ra nơi công cộng) thì có thể bị cảnh sát bắt và truy tố trước Tòa án cấp quận hoặc Tòa án hòa giải để xử tội:

(a) Với trường hợp vi phạm Điều 20 thì sẽ bị phạt tiền không quá 50.000 đô la hoặc bị phạt tù không quá 12 tháng hoặc bị áp dụng cả hai hình phạt; nếu tái phạm thì bị phạt không quá 100.000 đô la và bị phạt tù từ 1 tháng - 12 tháng.

(b) Nếu vứt bỏ phương tiện giao thông cơ giới ở nơi công cộng thì bị phạt tiền đến 5.000 đô la và nếu tái phạm thì bị phạt tiền không quá 10.000 đô la hoặc phạt tù không quá 3 tháng hoặc bị áp dụng cả hai hình phạt;

(c) Đối với các vi phạm khác thì lần vi phạm đầu bị phạt 1.000 đô la Singapor, lần vi phạm 2 bị phạt 2.000 đô la và lần vi phạm từ thứ 3 trở lên sẽ bị phạt 5.000 đô la. Khoản 7 Điều 17 cũng quy định, người vi phạm bị triệu tập tới Tòa để xét xử mà vắng mặt không có lý do chính đáng thì bị tiền không quá 2.000 đô la hoặc bị phạt tù không quá 2 tháng.

Điều 23 Luật này còn quy định người nào đặt thiết bị xử lý chất thải mà không có giấy phép hoạt động của cơ quan quản lý môi trường cấp thì sẽ bị phạt tiền không quá 50.000 đô la hoặc bị phạt tù không quá 12 tháng hoặc bị áp dụng cả hai hình phạt. Trường hợp tái phạm thì mức phạt tiền sẽ là không quá 100.000 đô la hoặc phạt tù không quá 12 tháng hoặc bị áp dụng cả hai hình phạt...

- Luật Kiểm soát việc xuất khẩu, nhập khẩu hoặc quá cảnh chất thải nguy hại năm 1998. Theo quy định tại Điều 25, 26 và 27 Luật này, người nào có hành vi nhập khẩu, xuất khẩu, quá cảnh trái phép chất thải nguy hại mà là pháp nhân thì bị phạt tiền không quá 300.000 đô la; nếu là cá nhân thì bị phạt tiền không quá 100.000 đô la hoặc phạt tù không quá 2 năm hoặc bị áp dụng cả hai hình phạt.

Pháp luật Inđônêxia

Bộ luật Hình sự Indonêxia có một số quy định bước đầu về tội phạm môi trường tại Điều 202 và 203. Cụ thể, theo quy định tại Điều 202 của Bộ luật này, người nào bỏ bất cứ chất nào vào giếng, hệ thống bơm, suối hoặc nơi chứa nước mà được công chúng sử dụng và biết rằng việc làm đó sẽ làm cho nước trở nên có hại cho tính mạng, sức khỏe của người khác thì bị phạt tù không quá 15 năm. Nếu gây hậu quả chết người thì người phạm tội bị phạt tù chung thân hoặc phạt tù tới 20 năm. Theo quy định tại Điều 203, người nào vô ý thực hiện hành vi nêu tại Điều 202 kể trên thì bị phạt tù đến 9 tháng hoặc bị phạt tù nhẹ tới 6 tháng hoặc bị phạt tiền 300 rupiah (đơn vị tiền tệ cuả Inđônêxia). Trường hợp có hậu quả chết người thì người phạm tội bị phạt tù với mức phạt tù nhẹ là 1 năm.

Bên cạnh Bộ luật Hình sự, TPMT còn được quy định trong một số đạo luật chuyên ngành về môi trường. Chẳng hạn, Luật quản lý môi trường sống Inđônêxia năm 1997 đã có nhiều quy định về tội phạm trong lĩnh vực môi trường (trong đó chủ yếu là các tội gây ô nhiễm môi trường), cụ thể:

Điều 41. 1.Người nào có hành vi vi phạm luật môi trường một cách cố ý trong việc gây ra ô nhiễm môi trường hoặc thiệt hại về môi trường thì bị phạt tù đến 10 năm và bị phạt tiền đến 500.000.000 rupiads.

2. Trường hợp hành vi kể trên gây hậu quả chết người hoặc gây tổn thương nghiêm trọng cho người thì người có hành vi phạm tội bị phạt tù đến 15 năm và bị phạt tiền đến 750.000.000 rupiads.

Điều 42: 1. Người nào vì bất cẩn mà thực hiện hành vi gây ô nhiễm môi trường hoặc gây thiệt hại về môi trường thì bị phạt tù đến 3 năm và bị phạt tiền đến 100.000.000 rupiad.

2. Trường hợp hành vi kể trên gây hậu quả chết người hoặc gây tổn thương nghiêm trọng cho người thì người có hành vi phạm tội bị phạt tù đến 5 năm và bị phạt tiền đến 150.000.000 rupiads.

Điều 43: 1. Người nào vi phạm các quy định của pháp luật, cố ý thải các loại chất, năng lượng hoặc các thành phần khác độc hại vào đất, không khi, mặt nước, nguồn nước, nhập khẩu, xuất khẩu, buôn bán, lưu giữ những loại chất kể trên, vận hành thiết bị nguy hiểm, trong khi biết rằng hoặc có lý do hợp lý để biết rằng hành động đó có thể gây ra ô nhiễm môi trường và/hoặc gây thiệt hại cho môi trường hoặc gây nguy hiểm cho sức khỏe, tính mạng của công chúng thì bị phạt tù đến 6 năm và bị phạt tiền đến 300.000.000 rupiads.

2. Hình phạt kể trên cũng được áp dụng đối với những người cố ý cung cấp thông tin sai sự thật, hủy hoại hoặc che giấu thông tin liên quan tới hành vi kể trên, khi biết hoặc có lý do hợp lý để biết rằng, hành động này có thể gây ra ô nhiễm môi trường và/hoặc gây thiệt hại hoặc đe dọa tới sức khỏe, tính mạng của công chúng.

3. Trường hợp các hành vi nói ở trên dẫn tới hậu quả chết người hoặc tổn hại nghiêm trọng tới người khác thì người phạm tội bị phạt tù đến 9 năm và bị phạt tiền đến 450.000.000 rupiads.

 Pháp luật Philippin

Tội phạm về môi trường hầu như không được quy định trong Bộ luật hình sự của Philippine, thay vào đó, các tội này được quy định khá chi tiết trong các đạo luật về BVMT ở Philippin. Dưới đây là một số quy định điển hình:

Luật Không khí sạch của Philippin năm 1999: Theo quy định tại Điều 47 của đạo luật này, người nào có hành vi gây ô nhiễm không khí thì tùy theo mức độ vi phạm mà bị phạt tiền từ 10.000 pesos đến 100.000 pesos (đơn vị tiền tệ của Philippin) hoặc bị phạt tù từ 6 tháng - 6 năm hoặc bị áp dụng cả hai hình phạt. Nếu người vi phạm là pháp nhân thì người quản lý, đứng đầu pháp nhân, nhân viên kiểm soát ô nhiễm sẽ phải chịu hình phạt luật quy định. Trường hợp người vi phạm có hành vi vi phạm nghiêm trọng các quy định của luật này (được hiểu chẳng hạn như trong một năm mà có tới 3 lần vi phạm trở lên, hoặc trong 3 năm liên tiếp mà có tới 3 lần vi phạm trở lên, coi thường lệnh của cơ quan quản lý môi trường về việc đình chỉ hoạt động của cơ sở, phương tiện gây ô nhiễm không khí, gây thiệt hại nghiêm trọng hoặc không thể khắc phục được về môi trường), thì theo quy định tại Điều 48, người phạm tội sẽ bị phạt tù từ 6 năm - 10 năm

Luật kiểm soát chất thải nguy hại năm 1990: Theo quy định tại Điều 13 của Luật này, các hành vi sau đây sẽ bị coi là hành vi vi phạm Luật: (a) Cố ý sử dụng chất hóa học hoặc hợp chất đã được nhập khẩu, sản xuất, gia công hoặc phân phối vi phạm luật này hoặc các quy chế hướng dẫn luật này; (b) Không thực hiện hoặc từ chối thực hiện việc báo cáo, thông tin, kiểm tra hoạt động của cơ sở nơi hóa chất được sản xuất, chế biến, lưu trữ; (c) Không thực hiện hoặc từ chối thực hiện việc tuân thủ các yêu cầu đối với quá trình chuẩn bị sản xuất hoặc nhập khẩu hóa chất; (d) Gây ra hoặc hỗ trợ, giúp đỡ, trực tiếp hoặc gián tiếp, trong việc lưu trữ, nhập khẩu, đưa vào lãnh thổ Philippin (kể cả quá cảnh), bằng đường bộ, đường thủy, đường hàng không hoặc các phương tiện khác chất thải nguy hại hoặc chất thải hạt nhân. Theo quy định tại Điều 14 của Luật này, hình phạt đối với người có các hành vi vi phạm dạng (a), (b) và (c) trong Điều 13 kể trên sẽ là tù từ 6 tháng 1 ngày đến 6 năm và bị phạt tiền từ 600 pesos - 4.000 pesos. Trường hợp người vi phạm là người nước ngoài thì sau khi chấp hành án, người này sẽ bị trục xuất và cấm nhập cảnh vào Philippin. Trường hợp người vi phạm là pháp nhân thì người đứng đầu pháp nhân, người quản lý điều hành pháp nhân đã đồng ý hoặc biết về hành vi vi phạm nhưng không có biện pháp ngăn chặn thì phải chịu trách nhiệm hình sự về tội đã phạm với tư cách là chính phạm. Trường hợp người vi phạm là quan chức hoặc nhân viên công quyền thì ngoài hình phạt đã quy định, người này còn bị đình chỉ chức vụ và cấm đảm nhiệm chức vụ có liên quan sau khi mãn hạn chấp hành hình phạt...

Luật quản lý chất thải rắn năm 2000: Điều 48 Luật này cấm các hành vi sau: (1) Vứt, thải bỏ chất thải tại nơi công cộng như đường, kênh rạch, công viên,...; (2)Thực hiện các hoạt động, thu gom hoặc vận chuyển phương tiện vi phạm quy định về vệ sinh môi trường và vi phạm giấy phép môi trường đã được cấp; (3) Đốt các chất thải rắn để thải trực tiếp vào không khí; (4) Thu gom hoặc cho phép việc thu gom chất thải mà không phân loại theo đúng quy định của pháp luật; (5) Chôn lấp trái quy định các chất thải ở khu vực có khả năng bị lũ cuốn trôi; (6) Dịch chuyển trái phép các loại chất có thể tái sử dụng đã được người có thẩm quyền thu gom; (7) Trộn lẫn những chất có thể tái chế với các loại chất thải rắn khác một cách trái phép; (8) Sản xuất, phân phối, sử dụng vật liệu bao gói không đảm bảo yêu cầu về BVMT; (9) Nhập khẩu hàng tiêu dùng được đóng gói trong bao gói không đảm bảo yêu cầu về BVMT; (10) Nhập khẩu chất độc hại mà lại ghi sai lệch thành chất có thể tái chế hoặc chất “có thành phần có thể tái chế”...

Luật bảo tồn các khu hoang dã: Điều 28 của Luật này quy định người nào có hành vi trái pháp luật xâm hại các loài động vật được bảo tồn thì bị phạt như sau:

(a) Bị phạt tù từ 6 năm 1 ngày đến 12 năm và/hoặc bị phạt tiền từ 100.000 pesos đến 1.000.000 pesos khi loài bị xâm hại là loài đặc biệt qúy hiếm;

(b) Bị phạt tù từ 4 năm 1 ngày đến 6 năm và/hoặc bị phạt tiền từ 50.000 pesos đến 500.000 pesos nếu loài bị xâm hại là loài có nguy cơ tuyệt chủng;

(c) Bị phạt tù từ 2 năm 1 ngày tù đến 4 năm và/hoặc bị phạt tiền từ 30.000 pesos đến 300.000 pesos khi loài bị xâm hại được xếp vào “loài dễ bị tổn thương”;

(d) Bị phạt tù từ 1 năm 1 ngày tù đến 2 năm và/hoặc bị phạt tiền từ 20.000 pesos đến 200.000 pesos khi loài bị xâm hại được xếp vào các loài có nguy cơ bị xâm hại khác; (e) Bị phạt tù từ 6 tháng 1 ngày đến 1 năm và/hoặc bị phạt tiền từ 10.000 pesos đến 100.000 pesos khi loài bị xâm hại là các loài động vật hoang dã khác.

TS. Phạm Văn Lợi
 Nguồn: Website
Tổng cục Môi trường

Các tin tiếp
Các tin trước