Luật Sở hữu trí tuệ (SHTT) có hiệu lực kể từ 01/7/2006, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật về SHTT và xâm phạm quyền SHTT không hề giảm đi mà vẫn có chiều hướng gia tăng, một trong những nguyên nhân dẫn đến hiện tượng này là pháp luật về SHTT có nhiều bất cập. Trong phạm vi bài viết chúng tôi phân tích một số bất cập của pháp luật SHTT hiện hành về quyền tác giả, quyền liên quan và đề xuất việc hoàn thiện.
Do yêu cầu công tác, tác giả cùng với các học viên sau đại học chuyên ngành Quản lý Khoa học và Công nghệ đã nghiên cứu nhiều bản hợp đồng chuyển giao công nghệ (CGCN) đã và đang được thực hiện, điều đáng nói là trong số đó có khá nhiều hợp đồng CGCN từ nước ngoài vào Việt Nam mang lại hiệu quả kinh tế không cao đối với bên nhận chuyển giao – là các doanh nghiệp Việt Nam, có nhiều nguyên nhân dẫn đến hiện tượng này, nhưng một trong những nguyên nhân đó là các bên tham gia hợp đồng CGCN không tính đến hoặc không thể lường trước được hợp đồng CGCN đã bị các yếu tố của quyền sở hữu công nghiệp (SHCN) tác động như thế nào.
Đối tượng sở hữu công nghiệp (SHCN) là một yếu tố thể hiện lợi thế cạnh tranh trong thương mại, nên đã có không ít đối thủ cạnh tranh thực hiện các hành vi cạnh tranh không lành mạnh xâm hại đến các đối tượng SHCN, để thu lợi bất chính trong kinh doanh. Bên cạnh đó, quyền SHCN, với tính độc quyền, có thể bị lạm dụng để cản trở thương mại. Để đối phó với các loại hành vi này, pháp luật phải thừa nhận cho các chủ thể kinh doanh truyền thống cạnh tranh lành mạnh và kiểm soát độc quyền liên quan tới quyền SHCN, với tư cách là nội dung của quyền SHCN
Ngày 29/11/2005, Quốc hội n­ớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành Luật sở hữu trí tuệ số 50/2005/QH11 và sẽ có hiệu lực bắt đầu từ ngày 01/07/2006 (Luật SHTT Việt Nam 2006), đây là một b­ước tiến quan trọng của ngành luật SHTT của nư­ớc ta trong những  năm qua. Một trong những nội dung quan trọng của việc thực thi quyền SHTT mà các văn bản pháp luật về quyền sở hữu công nghiệp, quyền tác giả, quyền liên quan đến tác giả của Việt Nam (quyền sở hữu trí tuệ) tr­ước đây và Luật SHTT Việt Nam 2006 hiện nay quy định, đó là vấn đề xác định hành vi xâm phạm quyền SHTT và các biện pháp xử lý hành vi vi phạm đó. Nói đến quyền SHTT là nói đến sự công nhận từ phía nhà n­ước đối với một quyền dân sự (quyền nhân thân, quyền tài sản) của các tổ chức, cá nhân đối với tài sản SHTT nhất định. Và do đó, nếu có vi phạm xảy ra thì biện pháp dân sự cũng đ­ược áp dụng trư­ớc tiên để xử lý hành vi vi phạm đó.
Vấn đề bảo hộ sở hữu trí tuệ đóng một vai trò quan trọng trong quan hệ hợp tác và giao lưu kinh tế giữa các quốc gia, đặc biệt khi Việt Nam đã là thành viên APEC và WTO. Sở hữu trí tuệ được bảo hộ tốt sẽ là nguồn động lực kích thích hoạt động sáng tạo của con người, đồng thời, xét về mặt kinh tế, nó sẽ đảm bảo được quyền lợi hợp pháp cho người có công trình sáng tạo, cho người sản xuất áp dụng công trình sáng tạo đó vào thực tiễn, chống được các hiện tượng làm hàng giả, vi phạm bản quyền... dẫn đến cạnh tranh không lành mạnh trên thị trường.
Nền kinh tế Việt Nam liên tục nhiều năm giữ được mức tăng trưởng cao trên 7% GDP/năm. Đó là kết quả của nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, một trong những nguyên nhân quan trọng là công nghệ sản xuất được đổi mới làm tăng năng suất lao động, chất lượng sản phẩm và khả năng cạnh tranh, vì vậy cũng được nâng cao. Nền kinh tế của ta bước đầu đã có yếu tố tiếp cận nền kinh tế tri thức. Tiến tới đầu tư vào những ngành kinh tế có giá trị cao. Xây dựng nền kinh tế tri thức tức là phải phát huy thật tốt tài năng trí tuệ của các nhà khoa học và của người lao động trong lĩnh vực phát minh sáng chế cải tiến kỹ thuật và tạo điều kiện thuận lợi cho việc ứng dụng những phát minh sáng chế, tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất được nhanh chóng có hiệu quả.
Ở nước ta, trong những năm gần đây, tình trạng vi phạm quyền sở hữu trí tuệ (sau đây gọi tắt là SHTT) đã trở thành một vấn đề nổi cộm, tuy chưa có một thống kê chính thức và toàn diện nào về tình trạng vi phạm song qua các phương tiện thông tin đại chúng có thể thấy sự vi phạm diễn ra ngày càng phổ biến, mức độ theo chiều hướng trầm trọng hơn và cách thức ngày càng tinh vi hơn.
Về mặt bản chất, cơ chế bảo hộ sở hữu công nghiệp được thiết lập nhằm mục đích điều chỉnh các quan hệ nảy sinh trong qúa trình kinh doanh, trước hết là trong hoạt động sản xuất và thương mại. Trong các hoạt động đó, các doanh nghiệp là chủ thể trực tiếp. Bởi vậy, hệ thống bảo hộ sở hữu công nghiệp trước hết cũng nhằm phục vụ cho các doanh nghiệp và được tiến hành bởi các doanh nghiệp. Nói cách khác, doanh nghiệp là các chủ thể quan trọng nhất của hoạt động sở hữu công nghiệp.
Chúng ta đã và đang triển khai thực hiện rất nhiều đề tài, dự án khoa học và công nghệ (KH&CN) nhưng những vấn đề liên quan tới quyền sở hữu trí tuệ (SHTT) đối với các kết quả nghiên cứu lại chưa được quan tâm một cách đúng mức. Bài viết dưới đây giới thiệu những nét cơ bản về vấn đề này, hy vọng chúng ta có cái nhìn đầy đủ hơn nhằm phát triển và khai thác sử dụng có hiệu quả các tài sản trí tuệ của các đề tài, dự án.
Cùng với tầm quan trọng ngày càng tăng của sở hữu trí tuệ, các tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ cũng xảy ra ngày càng nhiều hơn. Tranh chấp sở hữu trí tuệ là một loại tranh chấp dân sự hoặc tranh chấp thương mại cụ thể, bởi vậy việc giải quyết loại tranh chấp này dựa trên cơ sở nguyên tắc, trình tự, thủ tục được quy định chung trong Bộ luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên, đây là loại tranh chấp đặc thù xuất phát từ tính chất vô hình của các đối tượng sở hữu trí tuệ; hơn nữa đây lại là loại tranh chấp còn tương đối mới mẻ. Thực tế cũng chỉ ra rằng, việc giải quyết các tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ gặp rất nhiều khó khăn. Trong nhiều nguyên nhân dẫn đến khó khăn, vướng mắc trong quá trình giải quyết loại tranh chấp này, cơ sở pháp lý chưa hoàn thiện cũng là nguyên nhân cơ bản.
Xem theo ngày tháng  / /    Xem tiếp
TIÊU ĐIỂM
Xem nhiều nhất