Không phải là hàng hoá nhưng nhãn hiệu lại có ý nghĩa rất lớn trong thương mại. Nhãn hiệu là một trong những đối tượng cơ bản của quyền sở hữu trí tuệ (SHTT). Vì vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia luôn coi trọng việc bảo hộ nhãn hiệu. Tuy nhiên, khái niệm nhãn hiệu vẫn chưa được hiểu thống nhất ở các quốc gia. Bài viết đề cập đến khái niệm nhãn hiệu theo quy định của pháp luật quốc tế, pháp luật của Việt Nam trong sự so sánh với pháp luật của Liên minh Châu Âu và Hoa Kỳ - hai vùng lãnh thổ có truyền thống pháp luật lâu đời về nhãn hiệu, từ đó đề xuất đưa ra khái niệm nhãn hiệu cho Luật SHTT Việt Nam.
Theo tác giả, việc định nghĩa thuật ngữ “bản quyền công nghệ” (BQCN) trong các văn bản quy phạm pháp luật là rất cần thiết, đáp ứng nhu cầu và mục đích sử dụng của các nhà công nghệ và những người có liên quan. Bài viết dưới đây, tác giả nêu ra và phân tích một số trường hợp điển hình trong việc áp dụng chưa đúng thuật ngữ này.
Bí mật kinh doanh (BMKD) là một loại tài sản trí tuệ rất có giá trị vì nó tạo ra lợi thế riêng của chủ sở hữu BMKD so với các đối thủ cạnh tranh khác. Theo Điều 39 của Hiệp định TRIPs (Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ - SHTT), việc bảo hộ quyền SHTT đối với thông tin bí mật (TTBM) là nghĩa vụ pháp lý bắt buộc đối với các quốc gia thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới nhằm tạo dựng và phát triển các quan hệ thương mại lành mạnh và bình đẳng. ở nước ta, việc bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp (SHCN) đối với BMKD được ghi nhận tại Bộ luật Dân sự năm 2005, Luật Sở hữu trí tuệ (Luật SHTT) và một số văn bản hướng dẫn thực hiện Luật SHTT. Tuy nhiên, so với quy định của các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên cũng như pháp luật của nhiều nước trên thế giới, pháp luật nước ta về bảo hộ BMKD vẫn chưa đầy đủ, đang bộc lộ những hạn chế nhất định cần tiếp tục hoàn thiện.
Hiện nay, việc sở hữu quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp đã và đang tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp quảng bá, lưu thông, bảo vệ, phát triển các hàng hóa và dịch vụ của mình trên thị trường nội địa và quốc tế, đồng thời bảo đảm một môi trường cạnh tranh lành mạnh để thúc đẩy sự tăng trưởng của nền kinh tế. Do nhu cầu chuyển giao và được chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ ngày càng tăng lên, các giao dịch khai thác quyền sở hữu trí tuệ nói chung và quyền tác giả tại Việt Nam cũng trở lên đa dạng.
Trong nền kinh tế thị trường ngày nay, Nhãn hiệu (đôi khi còn gọi là “Thương hiệu”) như chúng ta đều biết được coi là một trong những tài sản có giá trị của một doanh nghiệp. Nhiều người còn ví von rằng hàng hoá có Thương hiệu cũng giống như “tấm giấy thông hành” vừa giúp họ dễ dàng xâm nhập vào thị trường lại vừa giảm được nhiều chi phí quảng cáo, marketing. Thực vậy, Nhãn hiệu nếu xét theo khía cạnh kinh tế thì nó đã vượt quá xa khái niệm pháp lý của nó là những dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá/dịch vụ được sản xuất hoặc cung cấp bởi các nhà sản xuất hoặc nhà cung ứng dịch vụ khác nhau.
... Ở phạm vi quốc tế, các tranh chấp tên miền quốc tế cấp cao nhất dùng chung (gTLD), điển hình là tên miền quốc tế .COM thường được giải quyết bằng Chính sách giải quyết tranh chấp tên miền thống nhất (Rules Uniform Domain Name Dispute Resolution Policy) do Tổ chức quản lý Tên miền và số hiệu mạng thế giới (ICANN) phối hợp với Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) xây dựng. Chính sách này khuyến nghị giải quyết tranh chấp theo 2 phương thức...
...Do Chính phủ, các trường đại học và các ngành công nghiệp ngày càng nhận thức rõ hơn về vai trò của sở hữu trí tuệ trong việc tăng cường tính cạnh tranh quốc tế, thông tin sáng chế trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. ..
... Nhằm mục tiêu nâng cao năng lực tài nguyên thông tin và năng lực vận hành của hệ thống thông tin sở hữu công nghiệp để phục vụ đắc lực cho các hoạt động nghiên cứu - triển khai, hoạt động kinh tế - thương mại cũng như phục vụ tốt cho công việc thực thi quyền sở hữu công nghiệp, Cục Sở hữu trí tuệ dự định tiến hành các công việc sau. ..
Năm 1981 bằng việc Chính phủ ban hành Nghị định về sáng kiến cải tiến kỹ thuật- hợp lý hoá sản xuất và sáng chế hệ thống sở hữu công nghiệp của Việt Nam bắt đầu đi vào hoạt động. Trong những năm tiếp theo, các đối tượng sở hữu công nghiệp như nhãn hiệu hàng hoá (1982), kiểu dáng công nghiệp (1988), giải phá hữu ích (1988), tên gọi xuất xứ (1995),v.v. bắt đầu được bảo hộ ở Việt Nam. Hệ nay, hệ thống sở hữu công nghiệp của Việt Nam bao gồm tất cả các đối tượng sở hữu công nghiệp quy định trong Hiệp định TRIPS - WTO.
Ngày nay, việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ và bảo đảm thực hiện các quyền đó ngày càng có vị trí quan trọng trong thương mại quốc tế cũng như đối với nền kinh tế mỗi quốc gia. Đối với nền kinh tế trong nước, làm tốt việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ là tạo ra một môi trường thuận lợi cho sự sáng tạo, bảo đảm động lực thúc đẩy sản xuất, kinh doanh và thương mại; khuyến khích nghiên cứu, phát triển công nghệ, nâng cao chất lượng hàng hoá và tạo uy tín cho sản phẩm. Hệ thống sở hữu trí tuệ mạnh sẽ có tác dụng tốt trong việc phát triển công nghệ và kinh doanh lành mạnh, có vai trò tích cực đối với công cuộc phát triển kinh tế.
Trang123456789
Xem theo ngày tháng  / /    Xem tiếp
TIÊU ĐIỂM
Xem nhiều nhất