Tìm hiểu nhu cầu và kinh nghiệm đào tạo chuyên ngành sở hữu trí tuệ ở các nước trên thế giới
23:56' 18/8/2008
Sở hữu trí tuệ có vai trò quan trọng trong nền kinh tế, nó là một trong những điều kiện quan trọng giúp tạo ra, bảo vệ và phát triển tài sản trí tuệ - yếu tố quyết định khả năng cạnh tranh của các nền kinh tế hiện đại. Sở hữu trí tuệ đã trở thành một hoạt động với tính chuyên nghiệp ngày càng tăng và phạm vi ngày càng mở rộng đối với hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội, đòi hỏi phải có những chuyên gia được đào tạo chuyên sâu với chuyên ngành sở hữu trí tuệ.

Mục đích của nghiên cứu này là khảo sát việc giảng dạy và đào tạo sở hữu trí tuệ như một chuyên ngành trong các trường đại học điển hình của các nước trên thế giới để tìm hiểu về nhu cầu và rút ra những kinh nghiệm cho Việt Nam để các nhà nghiên cứu, các cơ quan có thẩm quyền và các Trường Đại học tham khảo trong xây dựng và triển khai chương trình giáo dục chuyên ngành sở hữu trí tuệ.
Theo Đại từ điển tiếng Việt , chuyên ngành được hiểu như một ngành chuyên môn sâu và hẹp. Đào tạo chuyên ngành sở hữu trí tuệ là đào tạo các chuyên gia - những người đi sâu nghiên cứu về sở hữu trí tuệ như một chuyên môn và có hiểu biết sâu sắc về chuyên môn đó. Đào tạo chuyên ngành sở hữu trí tuệ là đào tạo đội ngũ nhân sự chủ lực, có những hiểu biết thực tế và mang tầm chiến lược về sở hữu trí tuệ và mối quan hệ của nó đối với sự phát triển của nền kinh tế tri thức như luật sư chuyên ngành sở hữu trí tuệ, người đại diện sở hữu công nghiệp, nhân viên Cơ quan Sở hữu trí tuệ, người tra cứu và người thẩm định sở hữu trí tuệ, chuyên gia về li-xăng, cán bộ thực thi pháp luật về sở hữu trí tuệ, các nhà tư vấn và hoạch định chính sách... Những kỹ năng về quản lý công nghệ, tiếp thị và phân phối sản phẩm sở hữu trí tuệ cũng cần thiết và đối với những người được đào tạo về các ngành công nghiệp văn hóa, giải trí.
Đào tạo chuyên gia trong một lĩnh vực, đào tạo một nghề là một quá trình lâu dài và cần phải trải qua bốn giai đoạn cơ bản: Đào tạo ở trường đại học, Đào tạo nghề, Thực tập nghề, Đào tạo trong quá trình hành nghề. Nói đến giảng dạy và đào tạo sở hữu trí tuệ như một chuyên ngành trong trường đại học là nói đến hai giai đoạn đầu của quá trình trên.
Ở các nước khác nhau, giảng dạy và đào tạo sở hữu trí tuệ như một chuyên ngành có những mục đích và hình thức đào tạo khác nhau và có thể chia thành ba mô hình chính:
- Đào tạo những chuyên gia về sở hữu trí tuệ ngay ở bậc đại học (ở Liên bang Nga, Ucraina, Singapore…)
- Đào tạo Thạc sỹ và Tiến sỹ chuyên ngành sở hữu trí tuệ (ở Anh, Mỹ…)
- Đào tạo sở hữu trí tuệ như một chuyên ngành bổ sung cho những người có nhu cầu nâng cao hiểu biết về lĩnh vực này hay cần nghiên cứu về sở hữu trí tuệ để phục vụ hoạt động nghề nghiệp (Ở Liên bang Nga, Ucraina, Đức…)
Trong khuôn khổ của nghiên cứu này, với những tài liệu được cung cấp và tìm kiếm được qua mạng Internet, chúng tôi chỉ tập trung khảo sát việc giảng dạy và đào tạo sở hữu trí tuệ như một chuyên ngành tại các trường đại học ở các nước ASEAN (là những nước có điều kiện và hoàn cảnh gần giống với Việt Nam), ở các nước Liên Xô trước đây (Nga và Ucraina) và ở các nước phát triển (Anh, Mỹ, Đức) là nước có những mối quan tâm và có những thành công nhất định trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ (trong bảo hộ các quyền liên quan đến sở hữu trí tuệ, trong giảng dạy và đào tạo về sở hữu trí tuệ như một chuyên ngành).

1. Khảo sát nhu cầu đào tạo sở hữu trí tuệ như một chuyên ngành ở các nước trên thế giới.
Khảo sát việc giảng dạy và đào tạo sở hữu trí tuệ dưới góc độ một chuyên ngành tại các trường đại học ở các nước trên thế giới đòi hỏi một sự nghiên cứu kỹ lưỡng, đặt chuyên ngành vào hệ thống giáo dục của quốc gia, của từng trường và đặc biệt đòi hỏi việc tham quan thực địa ở các nước để có thể có cái nhìn đầy đủ và khách quan.
Ở Nga, Ucraina việc đào tạo sở hữu trí tuệ như một chuyên ngành theo định hướng của Chương trình nhà nước và do nhu cầu của nền kinh tế trong bước chuyển sang nền kinh tế thị trường.
Ở các nước phát triển (Anh, Mỹ, Đức) đào tạo sở hữu trí tuệ như một chuyên ngành xuất phát từ đòi hỏi của nền kinh tế, là nhu cầu tự thân. Để đáp ứng nhu cầu trên, các trường đại học, cơ sở đào tạo đã nhanh chóng đưa đào tạo sở hữu trí tuệ vào chương trình giảng dạy ở bậc sau đại học.
Việc giảng dạy và đào tạo sở hữu trí tuệ như một chuyên ngành ở các nước trong khối ASEAN mới chỉ được triển khai ở những nước phát triển hơn như Singapore, Thái Lan với sự trợ giúp của các tổ chức quốc tế, để đáp ứng đòi hỏi của nền kinh tế và của quá trình toàn cầu hóa.

2. Giảng dạy và đào tạo về sở hữu trí tuệ như một chuyên ngành ở bậc đại học
Ở Trường Kinh doanh, Đại học Công nghệ Nanyang Singapore có đào tạo Cử nhân chuyên ngành Quản lý Sở hữu trí tuệ và sáng chế, Luật Thông tin và Công nghệ.
Viện Sở hữu trí tuệ Liên bang Nga là cơ sở đào tạo hàng đầu các chuyên gia trong lĩnh vực bảo hộ và sử dụng công nghiệp các đối tượng sở hữu trí tuệ. Từ khi thành lập (năm 1968) đến nay, Viện đã đào tạo được hơn 30.000 chuyên gia sở hữu trí tuệ, 500 người đại diện sáng chế, 350 chuyên gia đánh giá đối tượng sở hữu trí tuệ. Khoa Luật của Viện là nơi duy nhất đào tạo Luật gia chuyên ngành sở hữu trí tuệ với thời gian học là 5 năm.
Chương trình đào tạo Luật gia chuyên ngành sở hữu trí tuệ ở Viện gồm những hướng sau đây:
-Pháp luật và bảo hộ tác phẩm văn học nghệ thuật, chương trình máy tính và cơ sở dữ liệu
-Pháp luật và Công nghiệp giải trí, đấu tranh chống vi phạm bản quyền sản phẩm audio và video
-Pháp luật và Bí quyết (bí mật kinh doanh và bí mật sản xuất)
-Bảo vệ quyền tác giả và người chủ sở hữu trí tuệ
-Bảo hộ đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ trên mạng Internet
-Pháp luật quốc tế về bảo vệ sở hữu trí tuệ
Khoa Kinh tế của Viện Sở hữu trí tuệ Liên bang Nga có đào tạo chuyên ngành 061157 - Quản lý sở hữu trí tuệ. Chương trình giảng dạy theo chuyên ngành này gồm những nội dung chính như sau:
- Chiến lược quản lý sở hữu trí tuệ
- Hoạt động sáng tạo và công nghệ tiên tiến
- Hoạt động thương mại quốc tế
- Tổ chức chuyển giao công nghệ, cung cấp dịch vụ đảm bảo tính cạnh tranh trên thị trường
- Kiểm toán công nghệ
- Cơ sở pháp lý của hoạt động kinh doanh trong sáng tạo và thương mại hoá sản phẩm trí tuệ
- Kinh tế và quản lý sở hữu trí tuệ
- Công nghệ thông tin trong quản lý
- Nhượng quyền thương mại, đầu tư mạo hiểm, đánh giá rủi ro
- Đánh giá đối tượng sở hữu công nghiệp
- Đánh giá đối tượng quyền tác giả
- Điều chỉnh trao đổi công nghệ bằng thuế quan
Khoa Kinh tế của Viện Sở hữu trí tuệ Nga còn đào tạo chuyên ngành quản lý Sáng chế và Li xăng quốc tế. Trong chương trình học của chuyên ngành này sinh viên được đi sâu vào học ngoại ngữ và học các môn học như Địa lý kinh tế, Kinh doanh quốc tế, Quan hệ quốc tế, Hoạt động sáng chế và li xăng quốc tế, Hoạt động trao đổi dịch vụ kỹ thuật quốc tế, Makerting quốc tế, Tổ chức và kỹ thuật đàm phán quốc tế, Luật Dân sự các nước trên thế giới, Quảng cáo quốc tế…Từ năm học 2006/2007 Viện Sở hữu trí tuệ Nga đưa vào đào tạo chuyên ngành “Sở hữu trí tuệ trong kinh tế thế giới” để chuẩn bị những chuyên gia có khả năng sử dụng ngoại ngữ tốt cho hoạt động sáng chế và li xăng quốc tế.

Ở Ucraina sở hữu trí tuệ như một chuyên ngành có mã số là 7.000002, mã số của chuyên môn thông dụng “Chuyên gia sở hữu trí tuệ” là 2419.2. Theo quyết định của Bộ Giáo dục và Khoa học đã thành lập tổ hợp đào tạo - khoa học - sản xuất “Học viện Sở hữu trí tuệ” làm nhiệm vụ đào tạo chuyên gia, đào tạo lại và nâng cao trình độ cho chuyên gia trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ. Tại Viện Sở hữu trí tuệ thuộc Học viện có đào tạo Luật gia chuyên ngành sở hữu trí tuệ với mục đích đào tạo những chuyên gia kiểu mới có hiểu biết về:
- Cơ chế bảo hộ sở hữu trí tuệ ở Ucraina và trên thế giới
- Hệ thống văn bản pháp luật của Ucraina và các nước hàng đầu trên thế giới
- Luật, Lệnh của Tổng thống, Nghị định của Chính phủ, các Thông tư, Hướng dẫn của cơ quan Nhà nước về trình tự cấp chứng nhận và chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ
- Những hiệp định quốc tế cơ bản về sở hữu trí tuệ
- Đối tượng bảo hộ của Quyền tác giả và sáng chế
- Văn bản pháp luật, Quy định và Hướng dẫn để đăng ký quyền với đối tượng sở hữu trí tuệ
- Đặc điểm của soạn thảo đơn đăng ký trong những hệ thống đăng ký sáng chế trên thế giới
- Phương pháp xác định đối tượng sở hữu trí tuệ và đánh giá tính hợp lý của việc bảo hộ chúng
- Đặc điểm của việc giám định đơn đăng ký đối với đối tượng sở hữu công nghiệp
- Nguồn thông tin khoa học - công nghệ, sáng chế, thương mại
- Chức năng của các tổ chức và trung tâm thông tin ở Ucraina
- Thành phần và nội dung của Quỹ thông tin sáng chế
- Công nghệ thông tin trong đảm bảo quá trình sáng tạo, bảo hộ và thương mại hoá đối tượng sở hữu trí tuệ
- Đặc điểm của thông tin như hàng hoá trên thị trường
- Cách thức và biện pháp bảo vệ thông tin
- Những cơ sở của kinh tế thị trường và kinh tế sở hữu trí tuệ
- Cơ chế kinh tế - pháp lý của việc đưa sở hữu trí tuệ vào giao dịch
- Những hình thức cơ bản của việc sử dụng sở hữu trí tuệ trong những chiến lược kinh doanh khác nhau
- Phương pháp thương mại hoá công nghệ máy tính
Sinh viên sau chương trình đào tạo chuyên ngành sẽ có những kỹ năng sau:
-Xác định chiến lược của doanh nghiệp trong xây dựng sản phẩm có sức cạnh tranh và đưa sản phẩm vào thị trường
-Lập kế hoạch và tổ chức hoạt động xin cấp li xăng, Bằng Sáng chế, thông tin sáng chế tương ứng với chức năng của doanh nghiệp
-Làm đơn đối với đối tượng sở hữu trí tuệ và làm giấy tờ chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ
-Tiến hành điều tra thị trường và khả năng ứng dụng của sáng chế để đảm bảo tính cạnh tranh của sản phẩm
-Xác định đối tượng của li xăng, bí quyết và soạn hợp đồng thương mại hoá chúng
-Xác định vi phạm quyền sở hữu trí tuệ và đưa ra biện pháp khắc phục
-Tiến hành nghiên cứu đánh giá tính mới, mức độ sáng tạo, khả năng ứng dụng công nghiệp của sáng chế
-Xác định hiệu quả kinh tế trong sử dụng và đánh giá giá trị của sở hữu trí tuệ
-Xây dựng bộ máy tổ chức – pháp lý bảo vệ bí mật kinh doanh của doanh nghiệp
-Xây dựng biện pháp đại diện cho quyền lợi của tác giả, người sở hữu trong bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ
-Xây dựng cơ chế trả thù lao cho tác giả và chuẩn bị giấy tờ có liên quan
-Xác định chiến lược hoạt động trên thị trường dịch vụ và hàng hoá
-Chuyển giao công nghệ có sử dụng sở hữu trí tuệ
Khoá đầu tiên của Học viện đã tốt nghiệp ra trường gồm có 105 chuyên gia trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ (nhiều gấp 2 lần so với số chuyên gia được đào tạo năm 2003). Học viên của khoá học chuyên ngành của Học viện là các công chức Nhà nước, thẩm phán của Toà án Kinh tế và Toà án Tối cao Ucraina, đại diện của các Phòng Thương mại công nghiệp ở các tỉnh của Ucraina và những người đến từ các viện nghiên cứu, các doanh nghiệp…
Ở 12 cơ sở đào tạo đại học của Ucraina ví dụ như ở Đại học Kỹ thuật Quốc gia Kiev, Đại học Kỹ thuật Quốc gia Kharcov, Đại học Hàng không Quốc gia, Học viên Luyện kim Quốc gia có đào tạo chuyên ngành sở hữu trí tuệ.

Một điểm cần lưu ý là việc giảng dạy sở hữu trí tuệ ở cấp đại học sẽ không bao giờ mang lại hiệu quả đầy đủ nếu không có cơ hội cho các giáo sư đảm nhận việc nghiên cứu mang tính cá nhân trong lĩnh vực này. Những nghiên cứu đó, trong lĩnh vực chuyên môn hoá cao của sở hữu trí tuệ, có thể được thực hiện một cách tố nhất bằng việc kết hợp với các nhà nghiên cứu khác có cùng lĩnh vực hoặc các lĩnh vực có liên quan. Điều này giải thích xu hướng thành lập các trung tâm chuyên nghiên cứu về luật sở hữu trí tuệ trong những năm gần đây, hoặc các trung tâm kết hợp cả nghiên cứu và giảng dạy, thường là một bộ phận của khoa luật thuộc trường đại học.

3. Giảng dạy và đào tạo về sở hữu trí tuệ như một chuyên ngành ở bậc sau đại học
Ở Trường Kinh doanh, Đại học Công nghệ Nanyang Singapore ở bậc sau đại học có đào tạo Thạc sỹ chuyên ngành Quản lý sở hữu trí tuệ với hướng chuyên sâu đào tạo về kinh nghiệm, kỹ năng và kiến thức về luật quốc tế về sở hữu trí tuệ .
Trong chương trình đào tạo Thạc sỹ Luật sở hữu trí tuệ và công nghệ của Trường Luật, Đại học Quốc gia Singapore, nội dung về sở hữu trí tuệ chiếm từ 24 tới 40 tín chỉ…

Ở Trường Queen Mary, University of London, Anh từ năm 2000 có đào tạo Thạc sỹ chuyên ngành Luật sở hữu trí tuệ và Thạc sỹ Luật sở hữu trí tuệ quốc tế với tám môn học chính là:
- Luật Franchising
- Công nghiệp và sở hữu trí tuệ
- Sở hữu trí tuệ và y học
- Sở hữu trí tuệ và Internet
- Luật Quốc tế và So sánh Luật Bản quyền
- Luật Quốc tế và So sánh Luật Sáng chế
- Luật Quốc tế và So sánh Luật về Nhãn hiệu
- Luật Chuyển giao công nghệ
Ở Trường Queen Mary, University of London để đáp ứng nhu cầu của các ngành công nghiệp, thương mại có sử dụng nhiều đến sở hữu trí tuệ, từ giữa những năm 1980 bắt đầu đào tạo Thạc sỹ chuyên ngành Quản trị Sở hữu trí tuệ cho những người đã có bằng cấp trong các lĩnh vực khoa học, kỹ thuật.

Quỹ Sáng chế, Nhãn hiệu hàng hóa và bản quyền tác giả Khoa Luật của Trường Đại học George Washington là một trong những trung tâm đầu tiên nghiên cứu luật sở hữu trí tuệ. Quỹ này sau đó đã trở thành một bộ phận của Trung tâm Luật Franklin Pierce. Trung tâm có đào tạo Thạc sỹ Luật Sở hữu trí tuệ với chương trình gồm những môn học sau:
-Môn học bắt buộc: Nhập môn (Giới thiệu về hệ thống pháp luật Mỹ cho các sinh viên đến từ ngoài nước Mỹ, tập trung vào hệ thống luật án lệ Anh - Mỹ, thủ tục tố tụng trong các vụ kiện dân sự, hệ thống toà án Mỹ…), Hợp đồng, Nghiên cứu và soạn thảo văn bản, Luật sư Sở hữu trí tuệ
-Các môn học lựa chọn (trong đó Luật Sáng chế, Luật Bản quyền và Kiểu dáng, Luật Nhãn hiệu và Cạnh tranh không lành mạnh, Luật cạnh tranh và các nguyên tắc cơ bản của luật Anh, Thực tế và Chứng cứ là nhưng môn yêu cầu lựa chọn): Luật Chống tờ rớt (3 tín chỉ), Luật Hiến pháp Liên minh châu Âu (2 tín chỉ), Thoả thuận đa văn hoá cho những tranh chấp sở hữu trí tuệ (1 tín chỉ), Thương mại điện tử và luật (3 tín chỉ), Luật Công nghiệp giải trí và thực tế (3 tín chỉ), Luật điều chỉnh sở hữu trí tuệ ở Liên minh châu Âu (1 tín chỉ), Giám định chứng cứ và khoa học về chứng cứ (3 tín chỉ), Tranh tụng sở hữu trí tuệ (3 tín chỉ), Quản trị sở hữu trí tuệ (2 tín chỉ), Nghiên cứu sở hữu trí tuệ và Công cụ tra cứu (2 tín chỉ), Thuế sở hữu trí tuệ (1 tín chỉ), Luật Quốc tế và so sánh Luật Sáng chế (2 tín chỉ), Điều chỉnh Kinh tế Quốc tế (1 tín chỉ), Chuyển giao doanh nghiệp quốc tế (1 tín chỉ), Luật Quốc tế và so sánh Luật Bản quyền (1 tín chỉ), Luật Quốc tế và so sánh Luật nhãn hiệu (1 tín chỉ), Li xăng Sáng chế và Nhãn hiệu (3 tín chỉ), Li xăng Bản quyền và Truyền thông đa phương tiện (3 tín chỉ), Lập đơn và thủ tục cấp Bằng sáng chế (2 tín chỉ), Thực tế cấp Bằng sáng chế và Thủ tục I (3 tín chỉ), Thực tế cấp Bằng sáng chế và Thủ tục II (2 tín chỉ), Điều chỉnh Sở hữu trí tuệ trong quảng cáo (2 tín chỉ), Luật Bản quyền Mỹ (3 tín chỉ), Luật Sáng chế và Bí mật kinh doanh Mỹ (3 tín chỉ), Luật Nhãn hiệu Mỹ và thực tế (3 tín chỉ)

Những sinh viên tham gia chương trình cao học chuyên ngành về sở hữu trí tuệ là những người sẽ hành nghề chuyên môn về sở hữu trí tuệ, những người quan tâm đến việc chuyên sâu hơn sự hiểu biết của họ về cơ sở pháp lý của luật sở hữu trí tuệ, và tăng cường kỹ năng của họ qua việc xác lập và thực thi quyền sở hữu trí tuệ. Thường thì những người hành nghề ở một quốc gia sẽ tham gia vào một chương trình cao học chuyên ngành về sở hữu trí tuệ ở một quốc gia khác để có được sự hiểu biết tốt hơn về luật sở hữu trí ở quốc gia đó. Các chương trình đó đi sâu vào nền móng mang tính lý thuyết của luật sở hữu trí tuệ.
4. Giảng dạy và đào tạo về sở hữu trí tuệ như một chuyên ngành bổ sung
Tại Viện Công nghệ Châu Á (AIT) đặt tại Thái Lan dự kiến trong năm 2007 sẽ bắt đầu chương trình đào tạo chuyên ngành về sở hữu trí tuệ kéo dài 1 năm dành cho các sinh viên đã tốt nghiệp và các chuyên gia muốn đi sâu vào lĩnh vực sở hữu trí tuệ, dành cho các công chức Nhà nước, các luật sư, thẩm phán, những người làm công tác thực tế trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ muốn nâng cao trình độ…
Trường Luật, Đại học Quốc gia Singapore cũng tổ chức khoá học chuyên ngành kéo dài 1 năm về sở hữu trí tuệ cho những người không theo chuyên ngành luật: các kỹ sư, các nhà khoa học, các nhà quản trị kinh doanh…
Viện Sở hữu trí tuệ Liên bang Nga đào tạo chuyên ngành sở hữu trí tuệ cho những người đã tốt nghiệp đại học muốn đi sâu vào chuyên ngành sở hữu trí tuệ. Chương trình học chuyên ngành sở hữu trí tuệ cho những người đã tốt nghiệp đại học ở Viện gồm các phần giới thiệu về:
-Pháp luật Liên bang Nga, pháp luật các nước trên thế giới và pháp luật quốc tế trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ và những khía cạnh thực tế của lĩnh vực này
-Đăng ký và chuyển giao đăng ký quyền đối với đối tượng của sở hữu trí tuệ (nhận Bằng Sáng chế, Giấy chứng nhận…)
-Tổ chức hoạt động chuyển giao công nghệ
-Kỹ năng làm việc với nguồn thông tin sáng chế và thông tin thương mại
-Kinh tế sở hữu trí tuệ: định giá đối tượng sở hữu trí tuệ, kế toán tài sản vô hình, tính giá trị của Li xăng
-Tổ chức và quản lý sở hữu trí tuệ ở Liên bang Nga
Nghiên cứu Marketing và nghiên cứu sáng chế trong hoạt động sáng chế
Tại Trường Đại học Kỹ thuật Quốc gia Kharcov, Ucraina có đào tạo chuyên gia sở hữu trí tuệ (trong 2 năm học) với chương trình gồm 4 modul chính:
- Modul Luật gồm những nội dung: Cơ sở Luật Hiến pháp Ucraina; Luật sở hữu công nghiệp; Quyền tác giả và các quyền liên quan; Cơ sở Luật Hành chính, Dân sự, Hình sự trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ; Luật quốc tế trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ.
- Modul Phân tích – Thông tin gồm những nội dung: Lý thuyết giải quyết những bài tập sáng tạo, Văn bản Bằng sáng chế và Bí mật kinh doanh,
Nghiên cứu hiệu quả của sáng chế, Giám định sở hữu công nghiệp.
- Modul Thương mại hoá sở hữu trí tuệ gồm những nội dung: Sử dụng và chuyển giao quyền đối với đối tượng sở hữu trí tuệ, Kinh tế sở hữu trí tuệ và đánh giá giá trị quyền, Thống kê và kiểm toán tài sản vô hình
- Modul Quản lý dự án nghiên cứu sáng chế gồm những nội dung: Cơ sở của cách tiếp cận hệ thống và dự án nghiên cứu sáng chế, Makerting sở hữu trí tuệ, Quản lý nghiên cứu sáng chế, Quản trị nhân sự và xã hội học quản lý, Ngoại ngữ .
Tại Trung tâm Luật sở hữu trí tuệ Munich (Viện Sở hữu trí tuệ Max Planck về Sáng chế quốc tế và nước ngoài, Luật Bản quyền tác giả và Luật Cạnh tranh - một trong những trung tâm nổi tiếng nhất trên thế giới nghiên cứu về luật sở hữu trí tuệ) có đào tạo chuyên ngành sở hữu trí tuệ cho những người đã có bằng Cử nhân (không nhất thiết là bằng Cử nhân Luật mà có thể là bằng Kỹ sư, Khoa học tự nhiên, Kinh tế) và ít nhất một năm kinh nghiệm trong lĩnh vực này. Giảng viên của khoá học chuyên ngành là các giáo sư đại học, các luật sư về sáng chế, các thẩm phán, đại diện của EPO, WIPO. Chương trình học gồm có:
-Những khoá nhập môn: Các truyền thống luật, Nghiên cứu và soạn thảo văn bản, Nhập môn Sở hữu trí tuệ, Nhập môn Kinh tế học
-Những khoá học cơ sở (bắt buộc): Luật Sáng chế, Luật Bản quyền, Luật Nhãn hiệu, Thẩm quyền và Tranh tụng, Luật Cạnh tranh, Li xăng…
-Những khoá chuyên môn (sinh viên có thể lựa chọn): Thuế trong Sở hữu trí tuệ, Quản lý Tài chính, Chính sách phát minh, Máy tính và Luật…
Các chương trình đào tạo sở hữu trí tuệ cho các chuyên gia trong doanh nghiệp chủ yếu tập trung vào bản chất và phạm vi các quyền hiện có để bảo hộ sở hữu trí tuệ. Trong khi kiến thức đó chỉ là bắt đầu cho một người hành nghề sở hữu trí tuệ thì lại có nhiều khía cạnh quan trọng đối với những người ra quyết định và những người hoạch định chính sách của chính phủ. Hiểu biết về chương trình có thể bảo hộ, các hình thức bảo hộ sở hữu trí tuệ thậm chí còn quan trọng hơn cho các nhà hoạch định công việc kinh doanh hoặc các nhà kinh tế, những người có liên quan đến sức mạnh kinh tế dài hạn của công ty hoặc quốc gia so với tác giả, hoạ sỹ hoặc tác giả sáng chế, những người về cơ bản liên quan đến việc có được sự bảo hộ thực tế.

5. Tổng quan về chương trình, phương pháp và tài liệu đào tạo sở hữu trí tuệ như một chuyên ngành
Ở các nước trên thế giới, nhìn chung các chương trình đào tạo sở hữu trí tuệ như một chuyên ngành nhằm giải quyết ba vấn đề chính của sở hữu trí tuệ : bản chất và phạm vi của các quyền sẵn có để bảo hộ sở hữu trí tuệ; quá trình nhận được và đăng ký các quyền sở hữu trí tuệ (được gọi là "thủ tục" nếu có yêu cầu nộp và xét nghiệm đơn), và quá trình bảo hộ và thi hành các quyền sở hữu trí tuệ ngay khi có được quyền - có thể được tiến hành trước toà án thông qua "tranh tụng" dân sự, và bằng các phương tiện hoà giải khác.
Chương trình đào tạo sở hữu trí tuệ ở bậc đại học được xây dựng cho các sinh viên có ý định trở thành những người hành nghề và sở hữu trí tuệ. Các lớp học này được tổ chức để trang bị cho sinh viên một nhận thức rộng về các hình thức sở hữu trí tuệ hiện có. Các lớp học đó dành cho các sinh viên có ý định hành nghề trong tương lai để trợ giúp các tác giả và tác giả sáng chế bảo hộ các tác phẩm của họ theo luật quốc gia hoặc luật nước ngoài; cho các sinh viêncó ý định trở thành luật sư kinh doanh – những người sẽ tư vấn cho thân chủ về sở hữu trí tuệ - khía cạnh có tầm quan trọng rất lớn đối với sự sống còn và phát triển của công ty.
Được xây dựng cho những người hành nghề mà công việc hàng ngày của họ gồm việc xác lập và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, trong chương trình đào tạo về sở hữu trí tuệ như một chuyên ngành sẽ có các lớp thực hành do những người hành nghề có kinh nghiệm dạy với mục đích trang bị các kỹ năng thực tế về việc theo đuổi đơn xin bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ và tranh tụng để thực thi các quyền đó .
Trong chương trình đào tạo về sở hữu trí tuệ như một chuyên ngành ở bậc sau đại học có thể có các khoá chuyên sâu tập trung sâu vào một lĩnh vực riêng của sở hữu trí tuệ như "Giới thiệu về Luật sáng chế"," Luật bản quyền tác giả và Thực hành","Luật Nhãn hiệu hàng hoá quốc tế", "Li xăng sở hữu trí tuệ", "Cạnh tranh không lành mạnh"... Các khoá học này truyền tải những đặc thù của lĩnh vực luật được đề cập, bao gồm việc nghiên cứu các đạo luật, quy định và thủ tục liên quan. Sự giải thích của toà án về luật và các học thuyết của toà án ở các quốc gia theo hệ thống thông luật, các thủ tục nộp đơn để có được quyền, và thủ tục thực thi quyền là những chủ đề mà các khoá chuyên sâu có thể đề cập đến. Sau khi hoàn thành khoá học này, một nhà nghiên cứu có thể quen với tất cả các học thuyết quan trọng của lĩnh vực luật, và nên có sự hiểu biết tốt về các tiêu chuẩn quan trọng nhất đối với việc xác lập và thực thi quyền.
Ngoài ra trong đào tạo sở hữu trí tuệ như một chuyên ngành còn có các thảo luận chuyên đề được tổ chức cho các sinh viên đã từng tham dự khoá học chuyên sâu trong một lĩnh vực cụ thể để giới thiệu, trao đổi chi tiết hơn về một hoặc nhiều khía cạnh đặc biệc của lĩnh vực đó. Ví dụ về thảo luận chuyên đề trong lĩnh vực sáng chế có thể là việc xem xét lịch sử của việc bảo hộ một sáng chế, từ lúc đơn được nộp qua giai đoạn xét nghiệm và cấp bằng độc quyền sáng chế bởi Cơ quan Sáng chế, và qua tất cả các giai đoạn thực thi sáng chế qua việc tranh tụng tại toà án. Theo cách này, sinh viên có thể học được cách ứng dụng thực tế các nguyên tắc theo đuổi sáng chế và tranh tụng đã được học chung trong khoá học sáng chế chuyên sâu. Một hình thức thảo luận chuyên đề khác có thể là việc xem xét một khía cạnh của luật sở hữu trí tuệ mà chưa phát sinh thường đủ để làm chủ để của một khoá chuyên sâu như thảo luận về "Các khía cạnh chống độc quyền của Luật Sở hữu trí tuệ" có thể lấp khoảng trống mà các khoá học cơ bản để lại. Các thảo luận chuyên đề cũng đem lại cho sinh viên cơ hội chuẩn bị tài liệu nghiên cứu về các vấn đề nóng hổi để trình bày trước các sinh viên trong lớp, đồng thời cũng đem lại cho các giảng viên cơ hội để giới thiệu chuyên môn sâu của mình một cách đầy đủ hơn hoặc để giảng dạy những lĩnh vực mới và đang nổi lên chẳng hạn như Luật về công nghệ vi sinh hoặc Luật về máy tính.

Trong chương trình đào tạo về sở hữu trí tuệ, nội dung thực hành có thể tập trung vào các bước mà một luật sư có thể làm trong thực tế để xác lập và thực thi quyền sở hữu trí tuệ. Các khoá học như "Thực hành của Cơ quan Sáng chế", "Tranh tụng về bản quyền tác giả" và "Bào chữa thử nghiệm dành cho các luật sư sở hữu trí tuệ" thử thách năng lực các sinh viên để làm mọi thứ mà các sinh viên sẽ được yêu cầu phải làm trong thực tiễn pháp lý. Các khoá thực hành tốt nhất thường do các luật sư tập sự giảng dậy như trợ giảng cho giáo sư, những người sẽ dạy điều mà họ hiện đang làm trong công việc hàng ngày.
Một số công cụ giáo dục hiệu quả cao là khuyến khích việc tham gia của sinh viên - đặc biệt là những sinh viên theo chuyên ngành sở hữu trí tuệ tham gia vaò việc xuất bản chẳng hạn như các báo và tạp chí luật. Rất nhiều trong số các tạp chí này chuyên về các khía cạnh của luật sở hữu trí tuệ. Một số trường cũng tổ chức các hội nghị về các chủ đề khác nhau của sở hữu trí tuệ. Sự tham gia, qua việc tham dự hoặc hỗ trợ tổ chức các hội nghị này, cũng đem lại cho sinh viên một triển vọng khác. Cuối cùng, ở nơi hệ thống giáo dục cho phép sinh viên tham gia làm việc thực tế trong khi học ở trường luật, các sinh viên này có thể làm việc bán thời gian cho các thẩm phán, luật sư hoặc các cơ quan của chính phủ có liên quan đến sở hữu trí tuệ.

Công việc lựa chọn các môn học phù hợp để đưa vào chương trình giảng dạy sở hữu trí tuệ như một chuyên ngành sẽ phụ thuộc vào năng lực và nguyên vọng của sinh viên, năng lực của khoa, trường và loại hình cấp bằng được đưa ra. Các trường đại học khi bắt đầu đào tạo sở hữu trí tuệ như một chuyên ngành thường bắt đầu với chương trình khiêm tốn nhất với các môn học giới thiệu tổng quan và một hoặc hai môn chuyên sâu. Dần dần sẽ tăng số lượng và sự phức tạp của khoá học lên do mức độ tăng của sinh viên và sự quan tâm và năng lực của khoa, trường.

Trên thế giới, lúc đầu có ít sinh viên theo học chuyên ngành sở hữu trí tuệ nên việc viết và công bố các tài liệu chuyên sâu không được chú ý một cách thích đáng. Đến nay đã có những tài liệu cho các môn học trong chuyên ngành sở hữu trí được biên soạn một cách kỹ lưỡng, đặc biệt là những tài liệu liên quan đến các lĩnh vực sáng chế, nhãn hiệu hàng hoá và bản quyền tác giả. Tuy nhiên, cũng nên bổ sung một cách tối đa cho các tài liệu hiện có để cập nhập và giúp cho nội dung trừu tượng của tài liệu trở nên hấp dẫn hơn. Các bản sao của các bằng độc quyền sáng chế thực tế, các đăng ký kiểu dáng công nghiệp cùng với các mẫu của sản phẩm để so sánh, mẫu của hai sản phẩm mà những dấu hiệu của chúng là tương tự gây nhầm lẫn, băng ghi lại hai bài hát tương tự đáng kể…chắc chắn sẽ đem lại tính chính xác thực cho các nguyên tắc mà tài liệu truyền tải.

Việc chuẩn bị tài liệu cho các thảo luận chuyên đề thường đơn giản hơn bởi các tài liệu đó sẽ được chính các sinh viên tìm kiếm, lựa chọn. Sinh viên có thể sưu tầm các mẫu đơn và tài liệu của toà án, các bài báo và các nghiên cứu chuyên ngành và phân phát trước những tài liệu trên làm cơ sở để thảo luận. Phần Thực hành các môn học sở hữu trí tuệ như một chuyên ngành nên sử dụng các tài liệu tương tự như các tài liệu được sử dụng bởi những người hành nghề trong lĩnh vực. Các quy định và quy tắc nên được đề cập một cách trực tiếp. Sinh viên có thể tìm mua và nghiên cứu các sách chỉ dẫn thực hành về các thủ tục được các cơ quan sở hữu công nghiệp xuất bản. Trong các khoá thực hành về tranh tụng, cần phải tuân theo các quy định và thủ tục của toà án thực tế. Sự thành công, chất lượng và sự hữu ích của khoá thực hành sẽ thay đổi trực tiếp tới sự tương tự của khoá học với thông lệ thực tế trong lĩnh vực luật. Nếu khoá học dạy về thông lệ tranh tụng hoặc kháng cáo, sinh viên có thể tranh luận một vụ án thực tế từ hồ sơ của toà án, hoặc có thể tranh luận một kháng cáo về bản tóm tắt hồ sơ thực tế do yêu cầu bảo hộ, sử dụng một sáng chế từ một sáng chế thực tế sẽ cho phép sinh viên so sánh các yêu cầu bảo hộ của họ với những yêu cầu bảo hộ thực tế đã được đưa ra.

Các tài liệu liên quan đến tố tụng về sở hữu trí tuệ có thể đem đến cho các giảng viên, người quan tâm đến việc lập kế hoạch chương trình giảng dạy về luật sở hữu trí tuệ những gợi ý cần thiết để có thể xây dựng những tài liệu giảng dạy theo mong muốn. Tài liệu đó có thể gồm luật và các quy định của các quốc gia khác, các tài liệu ban đầu được chuẩn bị bởi Văn phòng Quốc tế của WIPO về các vấn đề sở hữu trí tuệ khác nhau, những vấn đề đã hoặc đang được nghiên cứu, và nhiều báo cáo khác nhau của các ủy ban chuyên gia xử lý các vấn đề đó cũng như các hồ sơ của các hội nghị ngoại giao mà tại đó các thoả ước mới được thông qua hoặc các thoả ước được sửa đổi trên cơ sở những nghiên cứu và báo cáo đó. Mỗi giảng viên biết được hạn chế của các nguồn của khoa mình và nhận thức của khoa về những vấn đề giảng dạy mới có thể được giới cũng xem xét phạm vi quan tâm của sinh viên trong việc theo đuổi các đề tài luật sở hữu trí tuệ trong cạnh tranh với các chủ để khác, có lẽ hấp dẫn hơn và thậm chí bổ ích hơn, trong đó một sự chuyên môn hoá về các chủ đề khác có thể tạo ra khoản thù lao tốt hơn ngay khi sinh viên bước vào chuyên nghiệp về pháp lý.

6. Đề xuất về giảng dạy và đào tạo chuyên ngành sở hữu trí tuệ cho các trường đại học của Việt nam
Qua nghiên cứu nhu cầu và kinh nghiệm đào tạo sở hữu trí tuệ như một chuyên ngành ở các nước trên thế giới có thể đưa ra một số đề xuất sau đây:
-Đưa sở hữu trí tuệ vào giảng dạy như một chuyên ngành là một quá trình lâu dài và phức tạp, đòi hỏi phải có lộ trình và những bước đi hợp lý với cơ sở xuất phát từ đòi hỏi của chính nền kinh tế với sự hỗ trợ của các Chương trình nhà nước và của các tổ chức quốc tế.
-Trong những năm đầu tiên của lộ trình này, các trường đại học có thể đưa sở hữu trí tuệ như một chuyên ngành vào đào tạo ở bậc sau đại học và đào tạo như chuyên ngành bổ sung.
-Chỉ khi đã có những như cầu hiện hữu và cấp thiết của việc đào tạo sở hữu trí tuệ ở bậc đại học, mới có thể đưa sở hữu trí tuệ vào đào tạo như chuyên ngành với mã số chuyên ngành riêng và xây dựng chương trình môn học mang tính tổng hợp với các nội dung mang tính quốc tế như Địa lý kinh tế, Kinh doanh quốc tế, Quan hệ quốc tế, Hoạt động sáng chế và li xăng quốc tế, Hoạt động trao đổi dịch vụ kỹ thuật quốc tế, Makerting quốc tế, Tổ chức và kỹ thuật đàm phán quốc tế, Luật Dân sự các nước trên thế giới, Quảng cáo quốc tế…và đặc biệt chú trọng vào dạy ngoại ngữ để đáp ứng nhu cầu của công cuộc hội nhập kinh tế quốc tế.

Nguồn: Blog TS. Phạm Trí Hùng

Ý KIẾN BẠN ĐỌC VỀ BÀI VIẾT NÀY

Họ và tên : *  
Địa chỉ :  
Email : *  
Ý kiến của bạn : *

Mã bảo vệ :

 

Các tin tiếp
Các tin trước
TIÊU ĐIỂM
Xem nhiều nhất