Cam kết về sở hữu trí tuệ của Việt Nam trong WTO vấn đề pháp lý đặt ra đối với việc thực thi cam kết
14:7' 30/5/2009
Quốc hội Việt Nam đã chính thức phê chuẩn Nghị định thư gia nhập Hiệp định thành lập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) của nước CHXHCN Việt Nam (Nghị quyết 71/2006/QH11 của Quốc hội) và Việt Nam đã hoàn tất các thủ tục ngoại giao đối với Ban thư ký WTO. Theo như Ban thư ký WTO thông báo, Việt Nam sẽ bắt đầu phải thực hiện các cam kết của mình từ ngày 11/1/2007. Trong số các cam kết cần thực hiện ngay khi Việt Nam chính thức trở thành Thành viên của WTO có những cam kết về quyền sở hữu trí tuệ. Thực hiện các cam kết về quyền sở hữu trí tuệ trong WTO đối với Việt Nam chính là việc thực hiện Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ và những cam kết của Việt Nam trong Báo cáo của Ban công tác về việc gia nhập WTO của Việt Nam.


Để cung cấp những thông tin liên quan đến việc thực thi các cam kết của Việt Nam trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ, Bài viết này được chia thành 3 phần như sau:
  • Những yêu cầu cơ bản của WTO trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ;
  • Tổng quan về pháp luật Việt Nam trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ;
  • Một số đánh giá về sự tác động của việc gia nhập WTO với pháp luật Việt Nam trong lĩnh vực quyền sở hữu trí tuệ.

Do sở hữu trí tuệ là một loại tài sản vô hình rất khó xác định vì vậy khi xem xét chúng từ góc độ pháp lý sẽ gặp rất nhiều khó khăn. Hơn nữa, đối với đội ngũ cán bộ làm công tác pháp luật thì sở hữu trí tuệ là một lĩnh vực pháp lý mới phát triển. Đội ngũ cán bộ pháp lý của Việt Nam thực sự mới bắt đầu làm quen với vấn đề này trong khoảng hơn 10 năm qua, kể từ khi quyền sở hữu trí tuệ được đưa vào trong Bộ luật Dân sự năm 1995. Với những lý do đó, Bài viết này sẽ chỉ giới hạn ở việc cung cấp những thông tin cơ bản trong lĩnh vực quyền sở hữu trí tuệ của WTO và pháp luật Việt Nam nhằm giúp người đọc có được sự hiểu biết chung trong lĩnh vực rất phức tạp này.

I. MỘT SỐ YÊU CẦU CƠ BẢN CỦA HIỆP ĐỊNH VỀ CÁC KHÍA CẠNH LIÊN QUAN ĐẾN THƯƠNG MẠI CỦA QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ (TRIPS)

1. Giới thiệu chung

 

Một thành công quan trọng trong quan hệ thương mại quốc tế đó là việc kết thúc tốt đẹp quá trình đàm phán đầy khó khăn và nhiều tranh cãi về Hiệp định về các Khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (TRIPS) vào năm 1994. Lúc này, Hiệp định TRIPS đã trở thành một phần nghĩa vụ quan trọng trong các nghĩa vụ pháp lý của WTO, là một Hiệp định có phạm vi điều chỉnh rộng nhất trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ mà chưa một điều ước quốc tế nào trong lĩnh vực này có được cho đến nay . Bên cạnh việc gắn liền các quan hệ thương mại quốc tế với việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, việc Hiệp định TRIPS trở thành một bộ phận của WTO đã lần đầu tiên đem đến khả năng áp dụng các biện pháp trừng phạt hữu hiệu đối với những vi phạm về việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ thông qua cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO, điều mà chưa một điều ước quốc tế nào trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ có được.

Trong Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT), tổ chức tiền thân của WTO không có quy định nào về việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ mà chỉ điều chỉnh các vấn đề liên quan đến thương mại hàng hoá. Tuy nhiên, trong GATT đã có những quy định đề cập đến quyền sở hữu trí tuệ nhưng ở mức độ rất hạn chế và chỉ liên quan đến các quan hệ thương mại hàng hoá. Điều XX của GATT quy định về các ngoại lệ chung, trong đó, tại khoản (d), cho phép các quốc gia Thành viên WTO có quyền thông qua hoặc thực hiện các biện pháp “cần thiết để bảo đảm sự tuân thủ pháp luật và các quy tắc không trái với các quy định của Hiệp định này, kể cả những quy định liên quan tới .... việc bảo hộ bản quyền, nhãn hiệu thương mại và quyền tác giả và các biện pháp thích hợp để ngăn ngừa các hành vi thương mại gian lận;”. Như vậy, GATT đã thừa nhận việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ là một ngoại lệ hợp pháp theo quy định của mình nhưng chưa có quy định cụ thể về nội dung này. Mặc dù GATT không có bất kỳ một yêu cầu nào về mức độ bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ nhưng với quy định về nguyên tắc Đối xử quốc gia (NT) tại Điều III GATT, chúng ta thấy việc áp dụng cơ chế bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ theo quy định tại Điều XX phải được thực hiện trên cơ sở không phân biệt đối xử. Trong GATT đã có một vụ tranh chấp duy nhất liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ. Vụ việc này liên quan đến quy định tại Phần 337 Luật Thuế quan của Hoa Kỳ. Quy định của Phần 337 Luật Thuế quan Hoa Kỳ đã có quy định về thủ tục đối với hàng nhập khẩu vi phạm văn bằng sáng chế (patent) chặt chẽ hơn đối với những hàng cũng vi phạm tương tự như vậy những được sản xuất trong nước .

Quá trình đàm phán, soạn thảo Hiệp định TRIPS được bắt đầu chính thức từ năm 1987 cho đến năm 1994. Có thể nói quá trình đàm phán Hiệp định TRIPS là một quá trình đấu tranh rất căng thẳng và quyết liệt giữa các nước phát triển và các nước đang phát triển trong khuôn khổ GATT. Cho đến nay, lĩnh vực này vẫn tiếp tục là một chủ đề nóng và phức tạp của các cuộc đàm phán đa phương trong khuôn khổ WTO.

Trong hệ thống các Hiệp định của WTO, Hiệp định TRIPS nằm trong Phụ lục C. Hiệp định bao gồm 73 điều được chia thành 7 phần:

  1. Phần I Các điều khoản chung và các nguyên tắc cơ bản;
  2. Phần II Các tiêu chuẩn về việc xác lập, phạm vi và việc sử dụng các quyền sở hữu trí tuệ;
  3. Phần III Thực thi quyền sở hữu trí tuệ;
  4. Phần IV Thủ tục để hưởng và duy trì các quyền sở hữu trí tuệ và thủ tục khác theo yêu cầu của các bên liên quan;
  5. Phần V Ngăn ngừa và giải quyết tranh chấp;
  6. Phần VI Các quy định chuyển tiếp;
  7. Phần VII Các thoả thuận về thể chế, điều khoản cuối cùng.

Theo Hiệp định TRIPS, "sở hữu trí tuệ" có nghĩa là tất cả các đối tượng sở hữu trí tuệ nêu tại các mục từ mục 1 đến mục 7 của Phần II của TRIPS . Như vậy, các đối tượng cụ thể của quyền sở hữu trí tuệ được quy định trong Hiệp định TRIPS (hay phạm vi của quyền sở hữu trí tuệ theo Hiệp định TRIPS) là quyền tác giả và quyền liên quan, nhãn hiệu hàng hoá, chỉ dẫn địa lý, kiểu dáng công nghiệp, sáng chế (patent), thiết kế bố trí mạch tích hợp và thông tin bí mật.

 

2. Các yêu cầu của Hiệp định TRIPS về quyền sở hữu trí tuệ

 

“Các Thành viên phải thi hành các điều khoản của Hiệp định này. Các Thành viên có thể, nhưng không bị bắt buộc, áp dụng trong luật của mình việc bảo hộ mạnh hơn so với các yêu cầu của Hiệp định này, miễn là việc bảo hộ đó không trái với các điều khoản của Hiệp định này. Các Thành viên sẽ tự do quyết định phương pháp thích hợp nhằm thi hành các điều khoản của Hiệp định này trong hệ thống pháp luật và thực tiễn của mình” . Điều này có nghĩa Hiệp định TRIPS chỉ đưa ra các chuẩn mực (yêu cầu) tối thiểu trong việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ và các quốc gia Thành viên có toàn quyền xây dựng một cơ chế bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trong pháp luật quốc gia của mình cao hơn các yêu cầu của Hiệp định TRIPS, với điều kiện sự bảo hộ đó không được trái với với Hiệp định TRIPS.

2.1 Những nghĩa vụ chung

a. Tuân thủ các điều ước quốc tế đa phương về sở hữu trí tuệ

Để xây dựng được mức bảo hộ tối thiểu làm cơ sở cho việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ ở mỗi quốc gia Thành viên như đã nói ở trên, TRIPS đã quy định hàng loạt nghĩa vụ mà mỗi quốc gia cần tuân thủ. Những nghĩa vụ này được bắt đầu tư những nghĩa vụ chung là:

  • Các Thành viên WTO phải bảo hộ cho công dân của mỗi Bên theo các quy định của TRIPS và các Hiệp định khác về sở hữu trí tuệ là: Công ước Paris (1967), Công ước Berne (1971), Công ước Rome và Hiệp ước về Sở hữu Trí tuệ đối với Mạch Tích hợp tương tự như các Thành viên của các điều ước đó. Đồng thời các quy định của TRIPS không ảnh hưởng đến nghĩa vụ hiện có của các Thành viên WTO theo các Công ước Paris, Berne, Rome và Hiệp ước về sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực mạch tích hợp.
  • TRIPS còn yêu cầu các nước Thành viên WTO tuân thủ các Điều từ 1-12 và Điều 19 của Công ước Paris liên quan đến các phần II, III, IV của TRIPS.
  • Các quy định của các Điều 3, 4 TRIPS sẽ không áp dụng cho các thủ tục được quy định tại các Thoả ước đa phương được ký kết trong khuôn khổ WIPO.

b. Nguyên tắc không phân biệt đối xử

Nguyên tắc không phân biệt đối xử trong Hiệp định TRIPS được thể hiện qua các quy định của Điều 3 về Đối xử quốc gia (NT) và Điều 4 về Chế độ đãi ngộ tối huệ quốc (MFN).

  • Theo yêu cầu của Chế độ đối xử quốc gia, mỗi Bên (Thành viên WTO) dành cho công dân của Bên kia (Thành viên khác) sự đối xử không kém thuận lợi hơn sự đối xử mà Bên đó (Thành viên đó) dành cho công dân của mình trong việc xác lập, bảo hộ, hưởng và thực thi tất cả các quyền sở hữu trí tuệ và mọi lợi ích có được từ các quyền đó. Nguyên tắc đối xử quốc gia phải được áp dụng một cách vô điều kiện.
  • Theo TRIPS, nguyên tắc đối xử tối huệ quốc yêu cầu bất kỳ một sự ưu tiên, chiếu cố, đặc quyền hoặc miễn trừ nào trong việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ được một Thành viên dành cho công dân của bất kỳ nước nào khác cũng phải được dành ngay lập tức và vô điều kiện cho công dân của tất cả các Thành viên khác.

2.2 Về bảo hộ quyền tác giả và quyền liên quan (quyền kề cận)

Các quy định về quyền tác giả trong TRIPS tập trung vào những nội dung chính sau:

a. Phạm vi các đối tượng quyền tác giả được bảo hộ

Phạm vi các đối tượng quyền tác giả được bảo hộ trong TRIPS được dẫn chiếu thẳng đến Công ước Berne. Theo đó, những đối tượng của quyền tác giả cần được bảo hộ là: Tác phẩm văn học và nghệ thuật; Văn bản chính thức; Sưu tập; Tác phẩm mĩ thuật ứng dụng và kiểu dáng công nghiệp; Tin tức.

Tác phẩm văn học và nghệ thuật là một đối tượng có nội hàm rất rộng nên đã được giải thích cụ thể hơn trong Công ước Berne. Theo đó, tác phẩm văn học và nghệ thuật bao gồm tất cả các sản phẩm trong lĩnh vực văn học, khoa học và nghệ thuật, bất kỳ được biểu hiện theo phương thức hay dưới hình thức nào, chẳng hạn như sách, tập in nhỏ và các bản viết khác, các bài giảng, bài phát biểu, bài thuyết giáo và các tác phẩm cùng loại; các tác phẩm kịch, hay nhạc kịch, các tác phẩm hoạt cảnh và kịch câm, các bản nhạc có lời hay không lời, các tác phẩm điện ảnh và các tác phẩm được diễn tả bằng một kỹ thuật tương tự với điện ảnh, các tác phẩm đồ họa, hội họa, kiến trúc, điêu khắc, chạm trổ, in thạch bản; các tác phẩm nhiếp ảnh và các tác phẩm được diễn tả bằng một kỹ thuật tương tự như nhiếp ảnh; các tác phẩm nghệ thuật ứng dụng, minh họa, địa đồ, đồ án, bản phác họa và các tác phẩm tạo hình liên quan đến địa lý, địa hình, kiến trúc hay khoa học.

Bên cạnh việc sử dụng các quy định của Công ước Berne, TRIPS đã mở rộng hơn các đối tượng của quyền tác cần phải được bảo hộ đối với cả: Các chương trình máy tính; Các sưu tập dữ liệu, tư liệu thể hiện dưới dạng có thể đọc được bằng máy hoặc dưới dạng khác, nếu việc lựa chọn và sắp xếp nội dung có sự sáng tạo. Việc mở rộng này của TRIPS nhằm cập nhật thêm các đối tượng mới phát sinh trong quá trình phát triển của khoa học và kỹ thuật.

Gắn liền với quyền tác giả là Quyền kề cận, quyền này bao gồm các quyền liên quan đến việc biểu diễn, ghi âm và phát thanh. Mục đích của quyền này nhằm bảo vệ lợi ích của cá nhân, tổ chức là những người có vai trò đưa tác phẩm tới công chúng. Mặc dù họ không phải là những người sáng tạo ra tác phẩm nhưng việc làm của họ cũng thể hiện sự sáng tạo hay kỹ năng về mặt kỹ thuật và tổ chức một cách đầy đủ đảm bảo được bảo hộ bằng luật bản quyền. Cũng chính vì vậy mà quyền kề cận có mối liên hệ mật thiết với quyền tác giả, trong nhiều tài liệu người ta còn gọi là quyền kề cận trong quyền tác giả.

Theo quan niệm truyền thống, có 3 loại người được thụ hưởng việc bảo hộ đối với quyền kề cận là: người trình diễn, nhà sản xuất chương trình thu thanh và các tổ chức phát thanh.

Về quyền đối với bản ghi âm

Người có quyền đối với bản ghi âm có quyền cho phép hoặc cấm người khác thực hiện các hành vi sau:

  • Sao chép trực tiếp hoặc gián tiếp toàn bộ hoặc một phần bản ghi âm;
  • Nhập khẩu vào lãnh thổ nước mình bản sao bản ghi âm;
  • Phân phối công khai lần đầu bản gốc hoặc bản sao bản ghi âm dưới hình thức bán, cho thuê hoặc các hình thức khác;
  • Cho thuê, mượn bản gốc hoặc bản sao bản ghi âm nhằm mục đích thương mại.

Việc đưa bản gốc hoặc bản sao bản ghi âm ra thị trường với sự đồng ý của người có quyền không làm chấm dứt quyền cho thuê của người đó.

Quyền của người biểu diễn

Người biểu diễn quyền cho phép hoặc cấm người khác thực hiện các hành vi sau:

  • Định hình các buổi biểu diễn nhạc sống của họ trong bản ghi âm;
  • Sao chép trái phép bản định hình các buổi biểu diễn nhạc sống của họ;
  • Phát hoặc truyền tới công chúng âm thanh của buổi biểu diễn nhạc sống;
  • Phân phối, bán, cho thuê, định đoạt hoặc chuyển giao các bản định hình trái phép các buổi biểu diễn trực tiếp của họ, không kể việc định hình đó được thực hiện ở đâu.

Quyền của các tổ chức phát thanh truyền hình:
Theo quy định của TRIPS các tổ chức phát thanh và truyền hình có quyền cấm các hành vi sau đây nếu thực hiện mà không được họ cho phép: ghi, sao chép bản ghi và phát lại qua phương tiện vô tuyến truyền hình cũng như truyền hình cho công chúng các chương trình.

b. Phạm vi các quyền của tác giả, quyền của người thừa kế

Cho phép hoặc cấm người khác thực hiện các hành vi sau:

  • Nhập khẩu vào lãnh thổ nước mình các bản sao của tác phẩm;
  • Phân phối công khai lần đầu bản gốc và bản sao tác phẩm dưới các hình thức: bán, cho thuê và các hình thức khác;
  • Truyền đạt tác phẩm tới công chúng;
  • Cho thuê bản gốc hoặc bản sao chương trình máy tính nhằm mục đích thương mại. Điều này không áp dụng nếu bản sao chương trình máy tính không phải là đối tượng chủ yếu để cho thuê. Ngoài ra, pháp luật quốc gia phải quy định việc đưa bản gốc hoặc bản sao chương trình máy tính ra thị trường, sẽ không chấm dứt quyền cho thuê, nếu được sự đồng ý của người có quyền.

c. Việc chuyển giao các quyền về kinh tế

- Người có được hoặc nắm giữ bất cứ quyền kinh tế nào, cũng được chuyển giao một cách tự do và riêng rẽ quyền đó cho người khác, thông qua hợp đồng;
- Người có được hoặc nắm giữ quyền kinh tế theo hợp đồng được đứng tên mình và hưởng lợi ích thu được từ việc thực hiện các quyền đó.

d. Thời hạn bảo hộ

Thời hạn bảo hộ đối với quyền tác giả trong TRIPS cũng được dẫn chiếu đến Công ước Berne. Như vậy, trong trường hợp tính thời hạn bảo hộ theo đời người thì Công ước Berne quy định thời hạn bảo hộ sẽ được tính trong suốt thời gian cuộc đời của tác giả và 50 năm sau khi tác giả chết. Trừ tác phẩm nhiếp ảnh và tác phẩm nghệ thuật ứng dụng, nếu thời hạn bảo hộ tác phẩm không được tính theo đời người, thời hạn bảo hộ đó không được dưới 50 năm kể từ khi kết thúc năm dương lịch mà tác phẩm được công bố một cách hợp pháp, hoặc 50 năm tính từ khi kết thúc năm dương lịch mà tác phẩm được sáng tạo nếu tác phẩm này không được công bố một cách hợp pháp trong vòng 50 năm kể từ ngày tạo ra tác phẩm. Các đối tượng khác của quyền tác giả có thời hạn bảo hộ cụ thể như sau:

  • Đốí với các tác phẩm mỹ thuật ứng dụng và tác phẩm nhiếp ảnh thì thời hạn bảo hộ tối thiểu là 25 năm kể từ khi tác phẩm được sáng tạo ra.
  • Đối với tác phẩm điện ảnh thì thời hạn bảo hộ là 50 năm tình từ khi tác phẩm được công bố hoặc từ khi tác phẩm được sáng tạo nếu tác phẩm chưa được công bố.
  • Đối với người biểu diễn và người sản xuất bản ghi âm phải kéo dài ít nhất là đến hết thời hạn 50 năm tính từ khi kết thúc năm dương lịch mà việc ghi âm hoặc buổi biểu diễn được tiến hành. Thời hạn bảo hộ đối với các chương trình phát thanh, truyền hình của các tổ chức phát thành truyền hình phải kéo dài ít nhất là 20 năm tính từ khi kết thúc năm dương lịch mà chương trình phát thanh truyền hình được thực hiện.

2.3. Về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp

Các Điều từ 15 đến 40 của TRIPS quy định về việc bảo hộ các đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp như sau:

a. Nhãn hiệu hàng hoá

Trong TRIPS, nhãn hiệu hàng hoá được giải thích là dấu hiệu hoặc tổng thể các dấu hiệu có khả năng phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ của một doanh nghiệp với hàng hóa hoặc dịch vụ của các doanh nghiệp khác. Theo TRIPS, quốc gia thành viên phải có quy định về việc bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá về các nội dung:

  • Chủ sở hữu nhãn hiệu hàng hoá có quyền ngăn cản người khác, trong hoạt động kinh doanh, không được sử dụng các dấu hiệu trùng hoặc tương tự với hàng hoá, dịch vụ mà mình đã đăng ký, nếu việc sử dụng đó có nguy cơ gây nhầm lẫn và không được phép của chủ sở hữu.
  • Việc đăng ký ban đầu của một nhãn hiệu hàng hoá có thời hạn ít nhất là 7 năm và được gia hạn không hạn chế số lần.
  • Pháp luật quốc gia có thể quy định các điều kiện cấp li-xăng và chuyển nhượng quyền sở hữu nhãn hiệu hàng hoá và có thể yêu cầu việc chuyển nhượng nhãn hiệu hàng hoá phải bao gồm cả việc chuyển giao uy tín của nhãn hiệu hàng hoá đó, nhưng không được cho phép cấp li-xăng không tự nguyện đối với nhãn hiệu hàng hoá.

b. Chỉ dẫn địa lý

Trong TRIPS chỉ dẫn địa lý, bao gồm cả tên gọi xuất xứ hàng hoá, là những chỉ dẫn xác định về hàng hóa có nguồn gốc từ lãnh thổ của một Thành viên, hoặc từ khu vực hoặc địa phương thuộc lãnh thổ đó, nếu chất lượng, uy tín hoặc đặc tính khác của hàng hóa này chủ yếu do xuất xứ địa lý quyết định.

Theo TRIPS các nước Thành viên phải bảo đảm ngăn ngừa:

  • Việc sử dụng chỉ dẫn địa lý với cách thức lừa dối công chúng về xuất xứ địa lý của hàng hóa;
  • Bất kỳ hành vi sử dụng nào cấu thành một hành vi cạnh tranh không lành mạnh

Trong phần này TRIPS còn bổ sung thêm quy định về việc bảo hộ bổ sung đối với các chỉ dẫn địa lý dùng cho rượu vang và rượu mạnh

c. Kiểu dáng công nghiệp

Kiểu dáng công nghiệp được hiểu là các tính chất trang trí hay mỹ học của một vật. Kiểu dáng này có thể được thể hiện dưới dạng không gian 3 chiều, chẳng hạn như hình dáng hay bề ngoài của đồ vật hoặc không gian 2 chiều như hoa văn, đường kẻ, màu sắc. TRIPS yêu cầu các Thành viên phải cho phép:

  • Chủ sở hữu kiểu dáng công nghiệp có quyền ngăn cấm người khác không được thực hiện các hành vi: chế tạo, bán, nhập khẩu hoặc phân phối các sản phẩm mang hoặc thể hiện kiểu dáng là bản sao hoặc cơ bản là bản sao của kiểu dáng được bảo hộ, nếu các hành vi đó nhằm mục đích thương mại và không được sự đồng ý của chủ sở hữu.
  • Thời hạn bảo hộ đối với kiểu dáng công nghiệp ít nhất là 10 năm.

d. Sáng chế

Khoản 1 Điều 27 TRIPS yêu cầu văn bằng sáng chế phải được cấp cho bất kỳ một sáng chế nào, dù là sản phẩm hoặc quy trình, thuộc mọi lĩnh vực công nghệ, với điều kiện sáng chế đó phải mới, có trình độ sáng tạo và có khả năng áp dụng công nghiệp. Theo đó, Chủ văn bằng sáng chế có quyền:

  • Ngăn cấm người khác chế tạo, sử dụng, bán, chào bán, hoặc nhập khẩu sản phẩm hoặc quy trình đó, nếu không được sự đồng ý của chủ bằng.
  • Sang nhượng, thừa kế văn bằng và ký kết hợp đồng li-xăng.

Thời hạn bảo hộ đối với Bằng độc quyền sáng chế không dưới 20 năm, kể từ ngày nộp đơn và có thể kéo dài trong trường hợp cần thiết, nhằm bù lại sự chậm trễ do thủ tục cấp Bằng gây ra.

e. Thiết kế bố trí (Topography) mạch tích hợp

Theo Hiệp định về sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực mạch tích hợp (Hiệp định IPIC) được đề cập đến trong Điều 35 của TRIPS thì thiết kế bố trí mạch tích hợp là một sản phẩm, dưới dạng thành phẩm hoặc bán thành phẩm, trong đó các phần tử - với ít nhất một phần tử tích cực - và một số hoặc tất cả các mối nối được gắn liền trong và/hoặc trên một miếng vật liệu và nhằm thực hiện một chức năng điện tử.

TRIPS quy định các hành vi bị coi là bất hợp pháp khi không được phép của chủ sở hữu thiết kế bố trí mạch tích hợp là: làm bản sao, nhập khẩu, phân phối thiết kế bố trí mạch tích hợp, mạch tích hợp có thiết kế bố trí đã được bảo hộ hoặc vật phẩm có chứa mạch tích hợp nói trên, nếu vật phẩm đó có chứa thiết kế bố trí mạch tích hợp bị sao chép bất hợp pháp. Trừ trường hợp tại thời điểm tiếp nhận mạch tích hợp hoặc vật phẩm chứa mạch tích hợp, người thực hiện hành vi đó hoặc người đã đặt hàng không biết và không thể biết rằng mạch tích hợp có thiết kế bố trí mạch tích hợp đã bị sao chép một cách bất hợp pháp.

Thời hạn bảo hộ đối với thiết kế bố trí mạch tích hợp trong TRIPS là 10 năm kể từ ngày nộp đơn đăng ký hoặc kể từ ngày thiết kế bố trí mạch tích hợp được khai thác thương mại lần đầu tiên ở bất kỳ nơi nào trên thế giới. Tuy nhiên, việc bảo hộ thiết kế bố trí mạch tích hợp sẽ chấm dứt sau 15 năm, kể từ ngày thiết kế bố trí mạch tích hợp được tạo ra.

f. Thông tin bí mật (Bí mật thương mại)

Theo cách hiểu của TRIPS, đồng thời cũng là nghĩa vụ mà TRIPS yêu cầu mỗi Thành viên phải thực hiện, thông tin bí mật phải đáp ứng:

  • Không phải là hiểu biết thông thường hoặc không dễ dàng có được hoặc những người thường xuyên xử lý loại thông tin đó nói chung không biết đến hoặc không thể dễ dàng tiếp cận thông tin đó dưới dạng thông tin toàn bộ, tức là dưới dạng ghép nối theo trật tự chính xác mọi chi tiết của thông tin đó;
  • Có giá trị thương mại vì có tính bí mật; và
  • Người có quyền kiểm soát hợp pháp thông tin đó đã thực hiện các biện pháp phù hợp với hoàn cảnh để giữ bí mật thông tin đó.

2.4 Thực thi Quyền sở hữu trí tuệ

Bên cạnh các quy định về nội dung, TRIPS cũng có quy định về các biện pháp nhằm đảm bảo cho việc thực thi quyền sở hữu trí tuệ tại lãnh thổ của mỗi quốc gia Thành viên. Mục đích của việc đưa ra các quy định này trong TRIPS là nhằm chống lại một cách hiệu quả việc xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ. Những biện pháp bảo đảm này bao gồm: các biện pháp khẩn cấp thời; các chế tài dân sự, hình sự và hành chính nhằm để ngăn ngừa xâm phạm; các biện pháp tại biên giới. Việc áp dụng các biện pháp này cần phải thực hiện với các điều kiện chung như:

  • Việc áp dụng các thủ tục thực thi quyền không được cản trở hoạt động thương mại và phải có biện pháp để chống sự lạm quyền.
  • Các thủ tục thực thi phải đúng đắn, công bằng, không quá phức tạp, tốn kém và không có những giới hạn bất hợp lý về thời gian hoặc có sự chậm trễ không chính đáng.
  • Các quyết định giải quyết vụ việc theo thủ tục tố tụng dân sự, hành chính phải bảo đảm các điều kiện như: Bằng văn bản, nêu rõ lý do ra quyết định; sẵn sàng được cung cấp, ít nhất là cho các bên trong vụ kiện; Chỉ dựa trên chứng cứ mà các bên đã có cơ hội trình bày.
  • Bảo đảm cho các bên trong vụ kiện có cơ hội đề nghị cơ quan tư pháp xem xét lại các quyết định hành chính cuối cùng và xem xét lại các quyết định xét xử ở cấp sơ thẩm.

Bên cạnh những yêu cầu chung này, đối với từng biện pháp thực thi quyền sở hữu trí tuệ, TRIPS cũng đã có quy định cụ thể với những nội dung chính là:

a. Các yêu cầu về thủ tục và chế tài về tố tụng dân sự, hành chính

Đối với yêu cầu này TRIPS đưa ra những điều kiện tối thiểu mà pháp luật của mỗi nước phải quy định đảm bảo cho Bị đơn có quyền được thông báo kịp thời, đầy đủ về các chi tiết, cơ sở khiếu kiện bằng văn bản; Các bên trong vụ kiện đều có quyền có luật sư đại diện; Trong thủ tục thực thi không được áp đặt yêu cầu quá mức về việc buộc đương sự phải có mặt; Các bên trong vụ kiện có quyền chứng minh yêu cầu của mình và đưa ra chứng cứ; Trong thủ tục thực thi phải có biện pháp để xác định, bảo vệ thông tin bí mật.

Bên cạnh đó, Hiệp định cũng yêu cầu pháp luật của mỗi quốc gia phải quy định trong pháp luật để có thể cho phép cơ quan tư pháp của mình có quyền: yêu cầu các bên trong vụ kiện buộc một bên trong vụ kiện đưa ra chứng cứ và tuân theo các điều kiện bảo vệ thông tin bí mật; căn cứ vào chứng cứ đã được đưa ra đưa ra kết luận sơ bộ và cuối cùng nhằm khẳng định hoặc phủ định yêu cầu của các bên; buộc một bên chấm dứt hành vi xâm phạm, áp dụng các biện pháp ngăn ngừa việc nhập khẩu hàng hoá xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, ngay sau khi đã hoàn thành thủ tục hải quan; buộc người có hành vi xâm phạm phải bồi thường thoả đáng cho người có quyền kể cả những lợi nhuận thu được từ hành vi xâm phạm, cả chi phí hợp lý thuê luật sư và cả việc áp dụng hình thức bồi thường theo mức ấn định trước đối với các đối tượng được bảo hộ theo quy định về quyền tác giả và quyền liên quan; cơ quan tư pháp cũng được phép áp dụng các biện pháp cưỡng chế phải bồi thường thoả đáng thiệt hại gây ra cho bên bị thiệt hại và phải trả các chi phí, bao gồm cả chi phí hợp lý để thuê luật sư. Các cơ quan tư pháp cũng phải được ra lệnh: Xử lý ngoài kênh thương mại các hàng hoá mà cơ quan đó cho là xâm phạm; Xử lý ngoài kênh thương mại các nguyên liệu, phương tiện có công dụng tạo ra hàng hoá xâm phạm. Khi ban hành các lệnh trên, cơ quan tư pháp phải tính đến tỷ lệ tương xứng giữa mức độ nghiêm trọng của hành vi xâm phạm, các biện pháp chế tài áp dụng và lợi ích của những người khác. Đối với hàng giả mạo nhãn hiệu, thì không cho phép đưa vào kênh thương mại, mặc dù đã loại bỏ nhãn hiệu hàng hoá gắn bất hợp pháp, trừ các trường hợp ngoại lệ.

b. Cam kết về việc áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời

Để đảm bảo cho các cơ quan tư pháp có đủ các điều kiện cần thiết nhằm thực thi một cách hữu hiệu việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ TRIPS yêu cầu các Bên phải cho phép cơ quan tư pháp của mình được ban hành lệnh áp dụng các biện pháp tạm thời nhằm ngăn chặn hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ và bảo vệ các chứng cứ liên quan đến hành vi xâm phạm. Khi quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời cơ quan tư pháp có quyền: Buộc người nộp đơn yêu cầu áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời phải cung cấp các chứng cần thiết liên quan đến việc áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời và phải nộp một khoản bảo chứng hoặc khoản bảo đảm tương đương, đủ để bảo vệ lợi ích của bị đơn và ngăn ngừa sự lạm dụng quyền yêu cầu. Việc áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời phải được thông báo cho bị đơn và phải được rút lại nếu thủ tục giải quyết vụ việc không được bắt đầu trong một thời hạn hợp lý theo quy định của pháp luật

c. Cam kết về việc thực thi quyền sở hữu trí tuệ tại biên giới

TRIPS quy định cho phép người có quyền nộp đơn đến cơ quan hành chính hoặc cơ quan tư pháp có thẩm quyền yêu cầu cơ quan hải quan đình chỉ việc thông quan đưa hàng hoá vi phạm vào lưu thông tự do, nếu có cơ sở chứng minh có hoạt động nhập khẩu hàng giả mạo nhãn hiệu hàng hoá hoặc bản sao trái phép các tác phẩm được bảo hộ. Trong TRIPS, các quyền và nghĩa vụ của các bên trong tranh chấp cũng như cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và cơ quan hải quan cũng đã được quy rất cụ thể.

d. Cam kết về các thủ tục tố tụng hình sự và hình phạt

Bên cạnh các chế tài về dân sự và hành chính, TRIPS cũng có quy định yêu cầu các Bên cần có chế tài về hình sự trong việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ.

Như vậy, với việc TRIPS là một Hiệp định có phạm vi điều chỉnh rộng trong số các điều ước quốc tế đa phương về sở hữu trí tuệ đã cho thấy rõ tính phức tạp của lĩnh vực sở hữu trí tuệ trong WTO. Đồng thời, các quy định trong TRIPS đã có sự kế thừa các điều ước quốc tế đa phương về sở hữu trí tuệ bằng cách dẫn chiếu trực tiếp hoặc trích dẫn các quy định của những điều ước quốc tế này. Một điểm khác biệt chính giữa TRIPS và các điều ước quốc tế đa phương về sở hữu trí tuệ là các quy định về sở hữu trí tuệ trong TRIPS chỉ điều chỉnh những quan hệ có tính chất thương mại trong lĩnh vực quyền sở hữu trí tuệ.

II. PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ

1. Khái quát chung

Pháp luật của Việt Nam về quyền sở hữu trí tuệ là một lĩnh vực mới được phát triển trong thời gian qua. Tuy nhiên, với việc nhận thức rõ tầm quan trọng của việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ tới sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước nên trong suốt quá trình đàm phán gia nhập WTO, Việt Nam đã từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật về sở hữu trí tuệ nhằm đảm bảo sự phù hợp với những điều ước quốc tế trong lĩnh vực này. Chính vì vậy, tại thời điểm hiện nay, pháp luật về sở hữu trí tuệ của Việt Nam đã phù hợp với những yêu cầu của TRIPS, đảm bảo cho việc Việt Nam có thể thực hiện được ngay những cam kết của mình trong WTO về quyền sở hữu trí tuệ.

Kể từ những giai đoạn đầu của quá trình đàm phán gia nhập WTO các văn bản pháp luật chủ yếu về bảo hộ sở hữu trí tuệ ở Việt Nam là Bộ luật Dân sự năm 1995 (Phần thứ 6) và một loạt các Nghị định hướng dẫn thi hành Bộ luật Dân sự năm 1995 về quyền sở hữu trí tuệ như: Nghị định số 63/CP ngày 24/10/1996 của Chính phủ quy định chi tiết về sở hữu công nghiệp; Nghị định số 76/CP ngày 29/11/1996 của Chính phủ hướng dẫn thi hành một số quy định về quyền tác giả trong Bộ luật Dân sự; Nghị định số 54/2000/NĐ-CP ngày 03/10/2000 Về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh, chỉ dẫn địa lý, tên thương mại và bảo hộ quyền chống cạnh tranh không lành mạnh liên quan tới sở hữu công nghiệp; Nghị định số 101/2001/NĐ-CP ngày 31/12/2001 Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hải quan về thủ tục hải quan, chế độ kiểm tra, giám sát hải quan.... và hàng loạt các Thông tư do các Bộ, ngành ban hành.
Trong năm 2005, Việt Nam đã sửa đổi Bộ luật Dân sự, trong đó tái khẳng định những nguyên tắc dân sự cơ bản của quyền sở hữu trí tuệ (Phần VI của Bộ luật), ban hành Luật Sở hữu trí tuệ điều chỉnh tất cả các khía cạnh của quyền sở hữu trí tuệ. Luật Sở hữu trí tuệ được ban hành nhằm pháp điển hóa các quy định trước đây về quyền sở hữu trí tuệ trong hàng loạt các văn bản dưới luật, đảm bảo sự phù hợp của pháp luật Việt Nam với các quy định của pháp luật quốc tế về quyền sở hữu trí tuệ. Hai văn bản này đã tạo thành một hệ thống các quy định hoàn chỉnh và thống nhất về quyền sở hữu trí tuệ thay thế cho các quy định truớc đây.

Về việc áp dụng luật, trong trường hợp có sự xung đột giữa Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 và các quy định về quyền sở hữu trí tuệ trong Bộ luật Dân sự năm 2005, Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 sẽ được áp dụng (Điều 5.2 của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005). Như vậy có thể xem Bộ luật Dân sự là luật gốc còn Luật Sở hữu trí tuệ là luật chuyên ngành.

Cùng với việc ban hành và triển khai thực hiện Luật Sở hữu trí tuệ, nhiều Quyết định và Nghị định về quyền tác giả, sở hữu công nghiệp, giống cây trồng và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ để hướng dẫn thi hành Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 đã được ban hành như: Nghị định số 100/2006/NĐ-CP ngày 21/9/2006 hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Dân sự và Luật Sở hữu trí tuệ về quyền tác giả và quyền liên quan; Nghị định số 103/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 về sở hữu công nghiệp; Nghị định số 104/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 về quyền đối với giống cây trồng; Nghị định số 105/2006/NĐ-CP ngày 22/09/2006 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ; Nghị định số 106/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp; Quyết định số 69/2006/QĐ-BNN ngày 13/9/2006 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về bảo mật dữ liệu thử nghiệm của các sản phẩm hóa nông; và Quyết định số 30/2006/QĐ-BYT ngày 30/9/2006 của Bộ Y tế về việc ban hành Quy chế bảo mật dữ liệu đối với hồ sơ đăng ký thuốc. Ngoài ra, Bộ Văn hoá Thông tin, Bộ Khoa học và Công nghệ và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn sẽ ban hành các thông tư hướng dẫn thi hành các thủ tục về đăng ký quyền tác giả và quyền liên quan, quyền sở hữu công nghiệp, và quyền đối với giống cây trồng; đại diện sở hữu công nghiệp; và việc chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp.

Bên cạnh việc hoàn thiện pháp luật trong nước, cho đến nay, Việt Nam là thành viên của Công ước Paris về Bảo hộ sở hữu công nghiệp và Thoả ước Madrid về Đăng ký quốc tế nhãn hiệu từ năm 1949; Công ước thành lập Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới từ năm 1976; Hiệp ước Hợp tác bằng sáng chế từ tháng 3/1993; thành viên chính thức của Công ước Bern từ ngày 26/10/2004; Công ước Geneva từ ngày 6/7/2005; Công ước Brussels từ ngày 12/1/2006; và Nghị định thư liên quan đến Thoả ước Madrid về đăng ký quốc tế nhãn hiệu từ ngày 11/7/2006. Việt Nam cũng đã ký kết các hiệp định song phương về bảo hộ sở hữu trí tuệ với Hoa Kỳ và Thuỵ Sĩ.
Theo Điều 200 của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, tòa án, cơ quan thanh tra, quản lý thị trường, hải quan, công an và Uỷ ban Nhân dân chịu trách nhiệm xử lý các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong phạm vi quyền hạn của mình và áp dụng các chế tài hành chính, hoặc trong những trường hợp cụ thể, áp dụng các biện pháp ngăn chặn và các biện pháp bảo đảm việc áp dụng các hình phạt hành chính. Cơ quan hải quan cũng chịu trách nhiệm áp dụng các biện pháp kiểm soát biên giới đối với hàng hoá xuất nhập khẩu và nhập khẩu có liên quan đến sở hữu trí tuệ. Đây chính là những cơ quan có trách nhiệm trong việc bảo đảm thực thi quyền sở hữu trí tuệ.

Về nguyên tắc đối với việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, Việt Nam đã áp dụng nguyên tắc đối xử quốc gia và đối xử tối huệ quốc đối với công dân nước ngoài. Nguyên tắc này đã được khẳng định không chỉ trong pháp luật Việt Nam mà còn được dựa trên các điều ước quốc tế về sở hữu trí tuệ mà Việt Nam là thành viên.

2. Các tiêu chuẩn về nội dung bảo hộ

2.1. Quyền tác giả

Theo Điều 14 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học được bảo hộ bao gồm các tác phẩm văn học, khoa học, sách giáo khoa, giáo trình và tác phẩm khác được thể hiện dưới dạng chữ viết hoặc ký tự khác; bài giảng, bài phát biểu và bài nói khác; tác phẩm báo chí; tác phẩm âm nhạc; tác phẩm sân khấu; tác phẩm điện ảnh và tác phẩm được tạo ra theo phương pháp tương tự (sau đây gọi chung là tác phẩm điện ảnh); tác phẩm tạo hình, mỹ thuật ứng dụng; tác phẩm nhiếp ảnh; tác phẩm kiến trúc; bản họa đồ, sơ đồ, bản đồ, bản vẽ liên quan đến địa hình, công trình khoa học; tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian; chương trình máy tính, sưu tập dữ liệu. “Công trình khoa học” bao gồm các công trình lý thuyết viết về khoa học tự nhiên, xã hội, kỹ thuật và kinh tế. “Tác phẩm báo chí” bao gồm những tác phẩm được xuất bản trên báo. "Tác phẩm khác" là một qui định mở đề cập tới tác phẩm thuộc loại hình khác mà pháp luật quy định được bảo hộ quyền tác giả nhưng chưa được liệt kê trong danh mục. Các tác phẩm nói trên sẽ không được bảo hộ nếu trái với đạo đức xã hội, trật tự công cộng hoặc tổn hại đến an ninh quốc gia.

Về nguyên tắc, quyền tác giả đối với những tác phẩm gốc được bảo hộ không phân biệt hình thức, ngôn ngữ thể hiện và chất lượng của tác phẩm. Quyền tác giả phát sinh kể từ khi tác phẩm được sáng tạo và thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định, không phân biệt đã đăng ký hay chưa đăng ký (Điều 739 của Bộ luật Dân sự năm 2005 và Điều 6.1 của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005).

Các tác phẩm tồn tại trước khi Bộ Luật Dân sự năm 2005 có hiệu lực vẫn được bảo hộ phù hợp với đoạn 2 Nghị quyết của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật Dân sự năm 2005 và Điều 220 của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 nếu thời hạn bảo hộ của các tác phẩm này chưa hết và không vi phạm Bộ luật Dân sự. Các tác phẩm này được bảo hộ giống như các tác phẩm được sáng tạo sau khi Bộ luật Dân sự có hiệu lực.

Đối với quyền tác giả hoặc quyền liên quan chưa được đăng ký, nguồn gốc tác giả sẽ đuợc xác định trên cơ sở tên của tác giả xuất hiện theo thông lệ trên bản sao của tác phẩm gốc. Đối với quyền tác giả đã đăng ký, tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác giả đã đăng ký sẽ không có nghĩa vụ chứng minh khi có tranh chấp, trừ phi có tuyên bố về việc nộp đơn đăng ký quyền tác giả là sai.

Quy trình đăng ký tự nguyện hiện nay được quy định từ Điều 49-55 của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005. Tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác giả tác phẩm phải nộp đơn và các tài liệu liên quan tại Cục Bản quyền tác giả Việt Nam (COV). Cục Bản quyền tác giả phải ra quyết định về việc cấp Giấy Chứng nhận đăng ký trong vòng 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận đơn hợp lệ (theo Điều 52 của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005).

Chủ thể quyền tác giả có quyền độc quyền sao chép, phát sóng/biểu diễn, phân phối, và làm tác phẩm phái sinh (theo Điều 738.3 của Bộ Luật dân sự năm 2005 và Điều 20, 29.3, 30 và 31 của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005). Những giới hạn đối với quyền của tác giả được nêu tại Điều 25 và 32 của Luật sở hữu trí tuệ năm 2005.

Tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác giả tác phẩm gốc khi bị xâm phạm quyền tác giả có quyền yêu cầu tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm chấm dứt hành vi xâm phạm, xin lỗi, cải chính công khai và bồi thường thiệt hại; yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm theo các quy định của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 và các quy định khác của pháp luật có liên quan; hoặc khởi kiện ra toà án có thẩm quyền hoặc thông qua trọng tài để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình (Điều 198 của Luật Sở hữu trí tuệ 2005). Chế tài hình sự được quy định tại điều 131 của Bộ luật Hình sự. Người xâm phạm có thể bị phạt đến 200 triệu đồng hoặc bị phạt tù đến 3 năm. Cơ sở áp dụng chế tài dân sự phụ thuộc vào mức độ thiệt hại do người có hành vi xâm phạm gây ra. Cho đến nay đã có 8 vụ vi phạm bản quyền được đem ra xét sử tại toà án dân sự. Theo Điều 57 và 58 của Luật Hải quan (2001), chủ thể quyền cũng có thể yêu cầu cơ quan hải quan tạm dừng làm thủ tục hải quan đối với hàng hoá nhập khẩu hoặc xuất khẩu vi phạm quyền sở hữu trí tuệ.

Theo Bộ luật Dân sự và Luật Sở hữu trí tuệ thì thời hạn bảo hộ quyền tác giả là 50 năm. Tuy nhiên, hiện nay đang có vấn đề liên quan tới thời hạn bảo hộ không tính theo đời người, bởi vì theo BTA, thời hạn này không ít hơn 75 năm kể từ khi kết thúc năm lịch mà tác phẩm được công bố hợp pháp lần đầu tiên, hoặc nếu tác phẩm không được công bố hợp pháp trong vòng 25 năm kể từ khi tác phẩm được tạo ra, thì thời hạn đó không ít hơn 100 năm kể từ khi kết thúc năm lịch mà tác phẩm được tạo ra. Trong khi đó thời hạn này theo TRIPS là 50 năm.

Theo Điều 13.2 của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, các tác phẩm của cá nhân hoặc tổ chức nước ngoài được bảo hộ tại Việt Nam bao gồm: (i) các tác phẩm được công bố lần đầu tiên tại Việt Nam và chưa được công bố ở bất kỳ nước nào khác, hoặc những tác phẩm được công bố đồng thời tại Việt Nam trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày tác phẩm đó được công bố đầu tiên ở nước khác; và (ii) các tác phẩm được bảo hộ tại Việt Nam theo các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

2.2 Quyền sở hữu công nghiệp

Một trong những điều kiện đầu tiên liên quan đến việc bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp là yêu cầu về việc đăng ký. Trên cơ sở đăng ký này mới phát sinh quyền của chủ sở hữu đối với đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp.

a. Sáng chế

Để được bảo hộ thì sáng chế phải có tính mới đối với thế giới, trình độ sáng tạo và khả năng áp dụng công nghiệp được bảo hộ theo quy định tại các Điều từ 750 đến 753 của Bộ luật Dân sự năm 2005 và Phần III của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005. Đơn sáng chế được thẩm định về hình thức và nội dung. Sáng chế có tính mới đối với thế giới, và có khả năng áp dụng công nghiệp - thậm chí không có trình độ sáng tạo nhưng không phải là hiểu biết thông thường – có thể được bảo hộ theo Bằng độc quyền giải pháp hữu ích (Điều 58.2 của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005). Tính đến ngày 31/12/2005, đã có 5.342 sáng chế được cấp Văn bằng bảo hộ.
Các đối tượng không được bảo hộ thuộc ba loại chính:

  • Các đối tượng không phải là sáng chế, bao gồm ý đồ, nguyên lý và phát minh khoa học, lý thuyết và phương pháp toán học, sáng tạo thẩm mỹ; phương pháp và hệ thống quản lý kinh tế; phương pháp và hệ thống giáo dục, giảng dạy và đào tạo; chương trình máy tính; bản thiết kế và sơ đồ quy hoạch các công trình xây dựng; và đề án quy hoạch và phân vùng lãnh thổ;
  • các đối tượng được bảo hộ theo các hình thức khác ngoài sáng chế như giống cây trồng, vật nuôi; và
  • các đối tượng không có khả năng áp dụng công nghiệp như phương pháp phòng bệnh, chẩn đoán bệnh và chữa bệnh cho người và động vật; các quy trình chủ yếu mang bản chất sinh học để sản xuất động vật hoặc thực vật nhưng không phải là quy trình phi sinh học hoặc quy trình vi sinh (Điều 59 của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005). Các sáng chế cũng có thể bị loại trừ không được bảo hộ vì lý do trật tự công cộng hoặc đạo đức theo Điều 8 của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005. Quy định này được áp dụng bất kể việc khai thác thương mại những sáng chế đó có bị pháp luật cấm hay không.

Dược phẩm và quy trình sản xuất dược phẩm được bảo hộ theo pháp luật Việt Nam vì không thuộc danh mục các đối tượng loại trừ không được bảo hộ theo Điều 59 của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005.

Chủ sở hữu Bằng độc quyền sáng chế hoặc Bằng độc quyền giải pháp hữu ích có độc quyền sử dụng, chuyển giao quyền sở hữu, và chuyển giao quyền sử dụng sáng chế cho người khác. Chủ sở hữu có quyền yêu cầu người khác chấm dứt hành vi xâm phạm và có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm gây ra (Điều 255 của Bộ luật Dân sự năm 2005 và các Điều 123,125 và 198 của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005). Việc sử dung sáng chế được định nghĩa trong Điều 124.1 bao gồm việc sản xuất, sử dụng, khai thác, lưu thông, quảng cáo, chào bán, tàng trữ để lưu thông và nhập khẩu sản phẩm hoặc quy trình được bảo hộ.

Thời hạn hiệu lực của Bằng độc quyền sáng chế và Bằng độc quyền giải pháp hữu ích tương ứng là 20 và 10 năm tính từ ngày nộp đơn – có hiệu lực từ ngày cấp (Điều 93.2 của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005).

Các điều kiện và thủ tục cấp li-xăng bắt buộc được quy định tại Mục 3, Chương X của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (các Điều từ 145 đến 147). Li-xăng bắt buộc chỉ có thể được cấp (i) vì lý do an ninh quốc gia và quốc phòng, phòng và chữa bệnh hoặc các nhu cầu cấp thiết khác của xã hội; (ii) vì lý do không sử dụng hoặc sử dụng không phù hợp; (iii) nếu người có nhu cầu sử dụng không đạt đuợc thoả thuận với chủ sở hữu trên cơ sở những điều kiện thương mại hợp lý trong một khoảng thời gian hợp lý; hoặc (iv) trong trường hợp có các hành vi phản cạnh tranh.
Theo Mục 3 của Chương X, li-xăng bắt buộc sẽ không được cấp trước khi kết thúc 4 năm kể từ ngày nộp đơn yêu cầu cấp Văn bằng bảo hộ và trước khi kết thúc 3 năm kể từ ngày cấp Văn bằng bảo hộ. Người được cấp li-xăng bắt buộc phải trả một khoản tiền đền bù thỏa đáng cho chủ sáng chế có tính đến giá trị kinh tế của việc cho phép theo quy định của Điều 31(h) của Hiệp định TRIPS (Điều 146.1). Chủ sáng chế có quyền yêu cầu đình chỉ hiệu lực của li-xăng bắt buộc khi tình huống dẫn đến việc cấp li-xăng đó chấm dứt và không có khả năng tái diễn, với điều kiện việc đình chỉ hiệu lực đó không gây thiệt hại cho người được cấp li-xăng bắt buộc (Điều 145.2). Các Bộ và các cơ quan ngang Bộ khác có thẩm quyền cấp và đình chỉ li-xăng bắt buộc đối với sáng chế thuộc lĩnh vực quản lý của mình khi li-xăng bắt buộc được cấp vì lý do an ninh quốc gia và quốc phòng, phòng và chữa bệnh hoặc các nhu cầu cấp thiết khác của xã hội; Bộ Khoa học và Công nghệ có thẩm quyền cấp và đình chỉ li-xăng bắt buộc trong các trường hợp khác (Điều 147.1).

b. Kiểu dáng công nghiệp

Kiểu dáng công nghiệp là hình dáng bên ngoài của sản phẩm được thể hiện bằng đường nét, hình khối, màu sắc hoặc sự kết hợp của các yếu tố đó, có tính mới đối với thế giới và có khả năng dùng làm mẫu để chế tạo sản phẩm công nghiệp hoặc thủ công nghiệp - được bảo hộ theo quy định tại các Điều từ 750 đến 753 của Bộ luật Dân sự năm 2005 và Phần III của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005. Các kiểu dáng hàng dệt được bảo hộ như các kiểu dáng công nghiệp khác.

Đơn đăng ký kiểu dáng công nghiệp được nộp cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền và được thẩm định về hình thức và nội dung.
Thời hạn bảo hộ ban đầu đối với kiểu dáng công nghiệp là 5 năm tính từ ngày nộp đơn – có hiệu lực từ ngày đăng ký - và có thể được gia hạn 2 lần liên tiếp, mỗi lần 5 năm (Điều 93.4 của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005).
Chủ sở hữu kiểu dáng công nghiệp được bảo hộ có độc quyền sử dụng, chuyển giao quyền sở hữu hoặc chuyển giao quyền sử dụng kiểu dáng công nghiệp đó cho người khác (Điều 123 của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005), quyền yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền buộc người khác chấm dứt hành vi xâm phạm và quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm đó gây ra (các Điều 255 và 751 của Bộ luật Dân sự năm 2005 và Điều 198 của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005).

c. Thiết kế bố trí mạch tích hợp

Thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn (sau đây gọi là thiết kế bố trí) là cấu trúc không gian của các phần tử mạch và mối liên kết các phần tử đó trong mạch tích hợp bán dẫn. Mạch tích hợp bán dẫn là sản phẩm dưới dạng thành phẩm hoặc bán thành phẩm, trong đó các phần tử với ít nhất một phần tử tích cực và một số hoặc tất cả các mối liên kết được gắn liền bên trong hoặc bên trên tấm vật liệu bán dẫn nhằm thực hiện chức năng điện tử. Mạch tích hợp đồng nghĩa với IC, chip và mạch vi điện tử.

Theo Luật Sở hữu trí tuệ thiết kế bố trí được bảo hộ nếu có tính nguyên gốc và có tính mới thương mại. Điều đó có nghĩa thiết kế bố trí phải là kết quả lao động sáng tạo của chính tác giả; và chưa được những người sáng tạo thiết kế bố trí và những nhà sản xuất mạch tích hợp bán dẫn biết đến một cách rộng rãi tại thời điểm tạo ra thiết kế bố trí đó. Đồng thời thiết kế bố trí đó chưa được khai thác thương mại tại bất kỳ nơi nào trên thế giới trước ngày nộp đơn đăng ký.

Luật Sở hữu trí tuệ cũng không bảo hộ với danh nghĩa thiết kế bố trí đối với các đối tượng sau: Nguyên lý, quy trình, hệ thống, phương pháp được thực hiện bởi mạch tích hợp bán dẫn; và thông tin, phần mềm chứa trong mạch tích hợp bán dẫn.

Giấy chứng nhận đăng ký thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn có hiệu lực từ ngày cấp và chấm dứt vào ngày sớm nhất trong số những ngày sau đây:
- Kết thúc mười năm kể từ ngày nộp đơn;
- Kết thúc mười năm kể từ ngày thiết kế bố trí được người có quyền đăng ký hoặc người được người đó cho phép khai thác thương mại lần đầu tiên tại bất kỳ nơi nào trên thế giới;
- Kết thúc mười lăm năm kể từ ngày tạo ra thiết kế bố trí.

d. Nhãn hiệu (bao gồm cả nhãn hiệu dịch vụ)

Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau và được bảo hộ theo quy định tại các Điều từ 750-753 của Bộ luật Dân sự năm 2005 và Phần III của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005. Nhãn hiệu có thể là từ ngữ, chữ cái, ảnh, hình ảnh – bao gồm cả hình khối - hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc (Điều 72 của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005). Một dấu hiệu có khả năng phân biệt hàng hoá hoặc dịch vụ của các chủ sở hữu khác nhau có thể được bảo hộ dưới danh nghĩa là nhãn hiệu, trừ khi bị loại trừ bảo hộ theo quy định tại Điều 73 của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005.
Các dấu hiệu không được bảo hộ bao gồm các dấu hiệu trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn với quốc kỳ, quốc huy; cờ, biểu tượng, huy hiệu, tên viết tắt, tên đầy đủ của cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức nghề nghiệp chính trị-xã hội, tổ chức xã hội và các tổ chức xã hội nghề nghiệp của Việt Nam hoặc các tổ chức quốc tế, trừ trường hợp được các cơ quan và tổ chức này cho phép; tên thật, biệt hiệu, bút danh hoặc hình ảnh của lãnh tụ, anh hùng dân tộc và danh nhân của Việt Nam hoặc nước ngoài; dấu chứng nhận, dấu kiểm tra và dấu bảo đảm của các tổ chức quốc tế; và các dấu hiệu dễ gây hiểu sai lệch, nhầm lẫn hoặc lừa dối người tiêu dùng về nguồn gốc xuất xứ, tính năng, công dụng, chất lượng, giá trị hoặc các đặc tính khác của hàng hoá và dịch vụ. Pháp luật của Việt Nam không liệt kê tên người là dấu hiệu có khả năng được bảo hộ là nhãn hiệu nhưng tên người là từ ngữ nên đương nhiên được thừa nhận là dấu hiệu có khả năng được đăng ký làm nhãn hiệu theo quy định tại Điều 72.1 của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005.

Đơn đăng ký nhãn hiệu được nộp cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Theo Điều 89.2 của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, cá nhân nước ngoài không thường trú tại Việt Nam và pháp nhân nước ngoài không có cơ sở công nghiệp hoặc thương mại tại Việt Nam phải nộp đơn đăng ký nhãn hiệu thông qua đại diện sở hữu công nghiệp hành nghề hợp pháp do mình tự chọn. Việc sử dụng không phải là điều kiện để được nộp đơn đăng ký nhãn hiệu. Một dấu hiệu không có tính phân biệt có thể được bảo hộ nếu đã được sử dụng và được thừa nhận một cách rộng rãi ở Việt Nam (Điều 74.2 của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005). Pháp luật hiện hành cũng được áp dụng đối với nhãn hiệu dịch vụ. Nhãn hiệu nổi tiếng được bảo hộ theo Điều 74.2(i), 75 và 129.1(d) của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005.

Nhãn hiệu nổi tiếng là “nhãn hiệu được người tiêu dùng biết đến rộng rãi trên toàn lãnh thổ Việt Nam” và các tiêu chí thừa nhận nhãn hiệu nổi tiếng được quy định tại các Điều 4.20 và 75 của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005. Theo Điều 75, các tiêu chí bao gồm thông tin về số lượng người tiêu dùng liên quan đã biết đến nhãn hiệu thông qua việc mua bán, sử dụng hàng hóa hoặc dịch vụ mang nhãn hiệu; số lượng quốc gia mà tại đó hàng hoá và dịch vụ mang nhãn hiệu được bán ra, bảo hộ nhãn hiệu hoặc thừa nhận nhãn hiệu là nổi tiếng; doanh số bán hàng hóa hoặc cung cấp dịch vụ mang nhãn hiệu; thời gian sử dụng liên tục nhãn hiệu; uy tín rộng rãi của hàng hóa hoặc dịch vụ mang nhãn hiệu; giá trị của nhãn hiệu dưới hình thức chuyển giao quyền sử dụng, góp vốn đầu tư v.v... Quyền sở hữu nhãn hiệu nổi tiếng được xác lập trên cơ sở sử dụng mà không cần phải đăng ký (Điều 6.3(a) của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005).

Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu có hiệu lực từ ngày cấp đến hết mười năm kể từ ngày nộp đơn, có thể gia hạn nhiều lần liên tiếp, mỗi lần mười năm.

e. Chỉ dẫn địa lý (bao gồm cả tên gọi xuất xứ hàng hoá)

Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 quy định một hình thức bảo hộ cho tất cả các loại chỉ dẫn địa lý bao gồm cả tên gọi xuất xứ hàng hóa. Theo Điều 6.3 của Luật này, quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý bao gồm cả tên gọi xuất xứ hàng hóa được xác lập trên cơ sở đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Chỉ dẫn địa lý được bảo hộ vô thời hạn.

Điều 79 của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 quy định các điều kiện bảo hộ chỉ dẫn địa lý như sau: (i) có nguồn gốc từ khu vực, địa phương, lãnh thổ hoặc nước tương ứng với chỉ dẫn địa lý đó và (ii) có danh tiếng, chất lượng hoặc đặc tính chủ yếu do điều kiện địa lý của khu vực, địa phương, lãnh thổ hoặc nước tương ứng chỉ dẫn địa lý đó quyết định. Chỉ dẫn địa lý tương ứng với khu vực và địa phương thuộc một quốc gia hoặc lãnh thổ xuyên biên giới quốc tế được bảo hộ nếu đáp ứng tất cả các yêu cầu theo quy định của pháp luật. Cho đến đầu năm 2006, đã có 5 chỉ dẫn địa lý được bảo hộ tại Việt Nam.

Người có quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý có thể yêu cầu các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền chấm dứt việc sử dụng bất hơp pháp chỉ dẫn địa lý và yêu cầu người sử dụng bất hợp pháp bồi thường thiệt hại (các điểm (b) và (c) của Điều 198.1 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005). Tuy nhiên, người có quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý sẽ không có độc quyền đối với chỉ dẫn địa lý đó cũng như không được trao quyền sử dụng cho những người khác.
Điều 129.3 của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 quy định về bảo hộ bổ sung đối với rượu vang và rượu mạnh. Theo Điều 129.3 này, việc sử dụng chỉ dẫn địa lý được bảo hộ cho rượu vang hoặc rượu mạnh không có nguồn gốc xuất xứ từ lãnh thổ tương ứng với chỉ dẫn địa lý đó, kể cả khi đã chỉ ra xuất xứ thật của hàng hoá hoặc chỉ dẫn địa lý được sử dụng dưới dạng dịch nghĩa hoặc phiên âm hoặc kèm theo các từ như "loại", "kiểu", “dạng” "phỏng theo", hoặc các từ tương tự như vậy đều bị coi là xâm phạm quyền đối với chỉ dẫn địa lý được bảo hộ.

Về mối quan hệ giữa bảo hộ chỉ dẫn địa lý và nhãn hiệu, các Điều 73.5 và 74.2(l) của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 cấm việc đăng ký nhãn hiệu trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn với chỉ dẫn địa lý được bảo hộ, kể cả tên gọi xuất xứ hàng hoá nếu việc sử dụng nhãn hiệu có khả năng gây hiểu sai lệch cho người tiêu dùng về xuất xứ địa lý của hàng hoá. Thời điểm xem xét việc bảo hộ chỉ dẫn địa lý là ngày ưu tiên của đơn đăng ký nhãn hiệu.

f. Bảo hộ giống cây trồng

Giống cây trồng mới hiện nay được bảo hộ theo Phần I (các Điều 4.5 và 6.4) và Phần IV (các Điều từ 157 đến 197) của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005. Các quy định về nội dung của việc bảo hộ giống cây trồng trong Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 được lấy từ Công ước UPOV. Công dân Việt Nam và người nước ngoài được hưởng sự bảo hộ theo quy định tại Điều 157 của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005. Các điều kiện bảo hộ được áp dụng cho giống cây trồng theo quy định tại các Điều từ 158 đến 162 của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 hoàn toàn tương thích với các điều kiện bảo hộ quy định tại các Điều từ 5 đến 9 của UPOV, bao gồm tính mới, tính khác biệt, tính đồng nhất và tính ổn định. Các quy định về tên giống tại Điều 163 của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 cũng tương thích với các quy định tại Điều 20 của UPOV.

Về xác lập quyền đối với giống cây trồng, Điều 169 quy định thời hạn bảo hộ quyền của người tạo giống là 25 năm đối với cây thân gỗ và cây nho và 20 năm đối với các giống cây trồng khác kể từ ngày các quyền được xác lập. Các quy định về bảo hộ tạm thời, phạm vi và hạn chế đối với quyền của người tạo giống, và hết quyền của người tạo giống tại các Điều từ 185 đến 197 của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005.

g. Các yêu cầu đối với thông tin bí mật, bao gồm bí mật thương mại và dữ liệu thử nghiệm

Các bí mật kinh doanh, bao gồm bí mật thương mại và dữ liệu thử nghiệm được bảo hộ theo các quy định của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 về quyền sở hữu công nghiệp trong đó có các Điều 4.4, 6.3(c) và Phần III của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005.

Bí mật kinh doanh được bảo hộ nếu đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định mà không phải đăng ký. Chủ sở hữu bí mật kinh doanh có quyền cấm việc sử dụng trái phép bí mật kinh doanh của mình và yêu cầu các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ra lệnh chấm dứt hành vi xâm phạm và bồi thường thiệt hại (các Điều 121, 123 đến 125, 127 và 198 của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005).

Trong thực tế, Việt Nam đã bảo hộ các dữ liệu thử nghiệm hoặc dữ liệu bí mật khác được nộp để xin phép lưu hành dược phẩm hoặc nông hoá phẩm từ năm 2003. Hiện nay, việc bảo hộ này được quy định tại Điều 128 của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005. Theo Điều này, khi người nộp đơn yêu cầu giữ bí mật các dữ liệu được nộp để xin phép lưu hành dược phẩm hoặc nông hoá phẩm, các cơ quan liên quan có trách nhiệm thực hiện các biện pháp cần thiết để các dữ liệu này không bị sử dụng nhằm mục đích thương mại không lành mạnh và không bị bộc lộ, trừ trường hợp việc bộc lộ là cần thiết để bảo vệ công chúng. Các cơ quan liên quan không được cấp phép cho người nộp đơn sau trong vòng 5 năm kể từ ngày giấy phép được cấp cho người nộp đơn trước đó nếu người nộp đơn sau sử dụng dữ liệu bí mật trong hồ sơ của mình mà không xin phép người nộp đơn trước đó, trừ trường hợp dữ liệu bí mật được tạo ra một cách độc lập bởi người nộp đơn sau theo quy định của Điều 125.3(d) của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005.
Luật Cạnh tranh được Quốc hội thông qua vào ngày 3/12/2004 (Luật số 27/2004/QH11) có các quy định về cạnh tranh không lành mạnh (Điều 39) và xâm phạm bí mật kinh doanh, bao gồm việc tiếp cận và thu thập thông tin thuộc bí mật kinh doanh của nguời khác trong thủ tục cấp phép lưu hành sản phẩm, sử dụng thông tin thuộc bí mật kinh doanh nhằm mục đích kinh doanh hoặc nhằm có được giấy phép liên quan đến kinh doanh hoặc lưu hành sản phẩm hoặc hành vi chống lại các biện pháp bảo mật của cơ quan Nhà nước (Điều 41.4).

3. Thực thi quyền sở hữu trí tuệ

3.1. Các thủ tục và chế tài dân sự

Tòa án Nhân dân (Tòa Dân sự) cấp huyện và cấp tỉnh có thẩm quyền xét xử các tranh chấp về xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ. Toà án Nhân dân có quyền xét xử các vụ việc liên quan đến lạm dụng quyền sở hữu công nghiệp, các tranh chấp liên quan đến giá chuyển giao hoặc tiền đền bù, khiếu kiện về quyền đăng ký và về quyền tác giả, và các tranh chấp liên quan đến hợp đồng chuyển giao quyền sở hữu hoặc hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp.

Khi đưa ra yêu cầu hoặc khởi kiện trước Tòa, nguyên đơn, hoặc người đại diện hợp pháp của họ phải cung cấp chứng cứ về quyền sở hữu trí tuệ của mình cũng như chứng cứ về hành vi xâm phạm quyền (Điều 203 của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005). Bị đơn có quyền bác bỏ chứng cứ và lý lẽ của nguyên đơn trước Toà. Theo yêu cầu của bất kỳ bên nào hoặc tự mình, Toà án có quyền yêu cầu cung cấp thêm chứng cứ hoặc tài liệu và chủ động thu thập chứng cứ nếu cần thiết (các Điều 85 và 94 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2004).

Theo Điều 203, các tài liệu phải nộp để chứng minh quyền sở hữu trí tuệ có thể bao gồm bản sao hợp pháp Văn bằng bảo hộ, bản trích lục Đăng bạ sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, … giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, hoặc giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan, đối với những quyền đã được đăng ký. Đối với những quyền chưa được đăng ký, bất kỳ tài liệu nào chứng minh sự tồn tại quyền tác giả, các quyền liên quan hoặc nhãn hiệu nổi tiếng… có thể được chấp nhận.

Tòa án có thể buộc chấm dứt hành vi xâm phạm, thừa nhận các quyền hợp pháp đối với các đối tượng sở hữu công nghiệp, yêu cầu các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền tiến hành các thủ tục xác lập quyền, và buộc bồi thường thiệt hại. Tiền bồi thường được xác định dựa trên cơ sở “thiệt hại vật chất thực tế” hoặc lợi nhuận thu được một cách bất hợp pháp của bên xâm phạm, và “thiệt hại về tinh thần”. Việc tính “thiệt hại vật chất thực tế” phải tính đến cả tổn thất về tài sản, chi phí ngăn chặn hoặc giảm thiểu thiệt hại, và giảm sút về thu nhập (Điều 307.2 của Bộ luật Dân sự năm 2005). “Thiệt hại về tinh thần” bao gồm thiệt hại về danh dự, nhân phẩm và uy tín của nạn nhân (Điều 204.1(b) của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005).

3.2 Các biện pháp tạm thời

Toà án có thẩm quyền xét xử các vi phạm và các tranh chấp liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ có thể quyết định áp dụng các biện pháp tạm thời. Các điều khoản cụ thể được quy định trong Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2004 và Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005. Theo Điều 207.1 của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, các biện pháp tạm thời bao gồm việc thu giữ, kê biên hoặc niêm phong hàng hoá bị nghi ngờ xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, nguyên liệu, vật liệu hoặc phương tiện dùng để sản xuất hoặc buôn bán các hàng hoá này; cấm thay đổi hoặc dịch chuyển các hàng hoá và nguyên liệu này; và cấm chuyển giao quyền sở hữu đối với các hàng hoá và nguyên liệu này. Các biện pháp tạm thời có thể được đình chỉ nếu các cơ quan có thẩm quyền áp dụng xét thấy không còn cần thiết.

3.3 Các thủ tục và chế tài hành chính

Theo Điều 200.1 của Luật Sở hữu trí tuệ và Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002, các cơ quan có thẩm quyền xử lý hành chính đối với hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ là cơ quan quản lý thị trường thuộc Bộ Thương mại (Cục Quản lý thị trường và các Chi cục Quản lý thị trường), cơ quan hải quan (Cục Hải quan, các chi cục hải quan, các Phòng điều tra chống buôn lậu), các cơ quan thanh tra chuyên ngành gồm thanh tra văn hoá - thông tin cấp trung ương và cấp tỉnh, thanh tra khoa học và công nghệ cấp trung ương và cấp tỉnh, uỷ ban nhân dân cấp huyện và tỉnh, và cơ quan công an (công an huyện, công an tỉnh và cảnh sát kinh tế). Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 giới hạn việc xử lý hành chính đối với hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong phạm vi giả mạo nhãn hiệu, sao chép lậu, cố ý xâm phạm và các hành vi xâm phạm có tác động xã hội đáng kể (Điều 211).

Điều 200 của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 quy định trách nhiệm của mỗi cơ quan tuỳ thuộc vào lĩnh vực quản lý và thẩm quyền của mình. Cơ quan quản lý thị trường có thể áp dụng các chế tài hành chính và các biện pháp khác đối với hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp và hành vi kinh doanh sản phẩm và dịch vụ văn hoá-thông tin diễn ra trong nước. Cơ quan hải quan có quyền áp dụng các chế tài hành chính đối với hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong hoạt động xuất nhập khẩu, thanh tra khoa học và công nghệ đối với hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp, thanh tra văn hoá - thông tin đối với hành vi xâm phạm quyền tác giả và quyền liên quan. Các uỷ ban nhân dân có thẩm quyền xử lý đối với hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ diễn ra trên lãnh thổ thuộc quyền quản lý của mình. Cơ quan công an có trách nhiệm xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong sản xuất và thương mại. Công an kinh tế bao gồm trưởng công an huyện và trưởng Phòng cảnh sát kinh tế, giám đốc công an tỉnh, và cục trưởng cục cảnh sát kinh tế, có quyền điều tra và xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong tất cả các lĩnh vực sản xuất và kinh doanh. Cảnh sát kinh tế có thể khám xét nhà của người bị coi là cất dấu các phương tiện liên quan hoặc bằng chứng của vụ xâm phạm, và đình chỉ hiệu lực giấy phép kinh doanh trong trường hợp vi phạm nghiêm trọng các quy định về sử dụng giấy phép kinh doanh. Cảnh sát kinh tế có thể áp dụng các chế tài hành chính đối với hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp liên quan đến hoạt động sản xuất và kinh doanh và hành vi xâm phạm bản quyền liên quan đến trật tự công cộng và an ninh. Cảnh sát kinh tế được đào tạo chuyên sâu về thực thi quyền sở hữu trí tuệ. Cảnh sát kinh tế có thẩm quyền và nguồn lực như các lực lượng cảnh sát khác.

Theo Điều 214 của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, các biện pháp hành chính cơ bản bao gồm cảnh cáo và phạt tiền từ 1 tới 5 lần giá trị hàng hoá xâm phạm bị phát hiện. Các biện pháp bổ sung bao gồm đình chỉ hoạt động kinh doanh có thời hạn và trong trường hợp hàng giả và hàng sao chép lậu và các nguyên liệu và phương tiện được sử dụng để sản xuất hoặc buôn bán những hàng hoá này, tịch thu, tiêu huỷ, phân phối, sử dụng nhằm mục đích phi thương mại, hoặc buộc đưa hàng hoá quá cảnh ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc tái xuất sau khi đã loại bỏ các yếu tố xâm phạm.

3.4 Các biện pháp kiểm soát biên giới

Cơ quan hải quan có thẩm quyền tạm dừng làm thủ tục hải quan đối với hàng hoá nhập khẩu hoặc xuất khẩu theo yêu cầu của chủ thể quyền. Theo Điều 217 của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, yêu cầu tạm dừng làm thủ tục hải quan đối với hàng hoá phải nộp cho cơ quan hải quan nơi hàng hóa được nhập khẩu hoặc xuất khẩu kèm theo chứng cứ chứng minh quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng hợp pháp đối với đối tượng sở hữu trí tuệ, và chứng cứ về hành vi xâm phạm. Chủ thể quyền cũng phải nộp khoản tiền bảo đảm tương đương với 20% giá trị lô hàng hoặc ít nhất 20 triệu đồng trong trường hợp không xác định được giá trị lô hàng, hoặc nộp chứng từ bảo lãnh nhằm bảo đảm bồi thường thiệt hại cho chủ lô hàng trong trường hợp yêu cầu sai (Điều 217.2 của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005). Chi cục trưởng chi cục hải quan có quyền ra quyết định về việc tạm dừng làm thủ tục hải quan đối với lô hàng theo quy định tại Điều 218.1 của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, và các bên có liên quan sẽ được thông báo về việc này. Hàng hóa có thể bị tạm dừng làm thủ tục hải quan trong thời gian 10 ngày làm việc tính từ ngày ra quyết định, và trong một số trường hợp có thể kéo dài thêm 10 ngày làm việc nữa (Điều 218.2 của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005). Chứng cứ chứng minh hành vi xâm phạm phải được đưa ra trong thời gian này. Chủ lô hàng bị tạm giữ cũng có cơ hội đưa ra chứng cứ hoặc biện hộ về quyền sở hữu trí tuệ đối với hàng hóa bị tạm giữ. Cơ quan hải quan phải quyết định tiếp tục làm thủ hải quan cho lô hàng hoặc cấm lưu thông hàng hoá trên cơ sở tham vấn các cơ quan quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ (Cục Sở hữu trí tuệ và Cục Bản quyền tác giả văn học nghệ thuật).

3.5 Các thủ tục hình sự

Toà hình sự thuộc Toà án Nhân dân ở cấp huyện và tỉnh có thẩm quyền xét xử các tội phạm liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ. Bộ Luật Hình sự năm 1999 quy định tội xâm phạm quyền tác giả (Điều 131), tội sản xuất và kinh doanh hàng giả (Điều 156), tội lừa đảo (Điều 162), tội quảng cáo sai (Điều 168), và tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp (Điều 171). Bất kỳ người nào chiếm đoạt quyền tác giả, mạo danh tác giả, hoặc sửa chữa, công bố hoặc phát hành tác phẩm một cách bất hợp pháp sẽ bị phạt tiền từ 20 đến 200 triệu đồng hoặc bị cải tạo không giam giữ đến 2 năm (Điều 131). Vi phạm có tổ chức hoặc gây hậu quả rất nghiêm trọng, và phạm tội nhiều lần thì bị phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm. Người phạm tội cũng phải chịu hình phạt nộp tiền từ 10 đến 100 triệu đồng và bị cấm đảm nhiệm chức vụ hoặc cấm hoạt động trong lĩnh vực đó từ 1 đến 5 năm. Những người sản xuất hoặc kinh doanh hàng giả có giá trị đến 150 triệu đồng sẽ bị phạt tù từ 6 tháng đến 5 năm, hoặc sẽ bị phạt tù từ 3 đến 10 năm trong trường hợp phạm tội có tổ chức hoặc có tính chất chuyên nghiệp, tái phạm, lợi dụng chức vụ, quyền hạn, lợi dụng danh nghĩa tổ chức, hàng giả có giá trị từ 150 đến 500 triệu đồng, thu lợi nhuận bất chính lớn, và các hành vi gây hậu quả rất nghiêm trọng (Điều 156). Trong trường hợp hàng giả có giá trị trên 500 triệu đồng, thu lợi nhuận bất chính rất lớn và gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì có thể phải chịu hình phạt tù từ 7 đến 15 năm. Người phạm tội có thể phải chịu thêm hình phạt tiền từ 5 đến 50 triệu đồng, có thể bị tịch thu tài sản, cấm đảm nhiệm chức vụ hoặc cấm hoạt động trong lĩnh vực nhất định từ 1 đến 5 năm. Những người quảng cáo gian dối về hàng hóa hoặc dịch vụ bị phạt tiền từ 10 đến 100 triệu đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc bị phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm (Điều 168). Người phạm tội cũng bị phạt tiền từ 5 đến 50 triệu đồng và bị cấm hoạt động trong lĩnh vực nhất định từ 1 đến 5 năm. Theo Điều 171, hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp nếu cấu thành tội phạm sẽ bị phạt từ 20 đến 200 triệu đồng hoặc cải tạo không giam giữ đến 2 năm. Vi phạm có tổ chức hoặc gây hậu quả nghiêm trọng, và phạm tội nhiều lần sẽ bị phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm. Người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 10 đến 100 triệu đồng và bị cấm đảm nhiệm chức vụ và hoạt động trong lĩnh vực nhất định từ 1 đến 5 năm.

Trong suốt thời gian vừa qua, kể từ khi chúng ta tiến hành đàm phán BTA với Hoa Kỳ cho đến khi Việt Nam kết thúc đàm phán gia nhập WTO, hệ thống pháp luật Việt Nam về quyền sở hữu trí tuệ đã có nhiều thay đổi lớn lao. Đến lúc này chúng ta hoàn toàn có thể tự tin khẳng định rằng các quy định của pháp luật hiện hành về sở hữu trí tuệ của Việt Nam đã phù hợp với yêu cầu của WTO; đảm bảo cơ sở pháp lý để Việt Nam thực hiện đầy đủ ngay những cam kết về sở hữu trí tuệ trong WTO mà không cần bất kỳ một giai đoạn chuyển tiếp nào.

III. MỘT SỐ ĐÁNH GIÁ VỀ SỰ TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC GIA NHẬP WTO VỚI PHÁP LUẬT VIỆT NAM TRONG LĨNH VỰC QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ

Việc xem xét và đánh giá những tác động của việc gia nhập WTO trong lĩnh vực quyền sở hữu trí tuệ không nên chỉ giới hạn trong phạm vi các văn bản quy phạm pháp luật. Vì vậy, trong phần này, bài viết sẽ đề cập tới khái niệm “pháp luật” theo nghĩa rộng. “Pháp luật” theo nghĩa rộng ở đây không chỉ giới hạn ở những văn bản quy phạm pháp luật mà còn bao gồm cả những vấn đề liên quan đến việc thực thi, áp dụng pháp luật và cả những vấn đề về mặt thể chế.

1. Đối với công tác xây dựng pháp luật

Như đã nói ở trên, nếu nhìn nhận tác động của việc gia nhập WTO đối với hệ thống pháp luật Việt Nam về quyền sở hữu trí tuệ tại một thời điểm nhất định hoặc sau khi Việt Nam gia nhập WTO thì sẽ là một sự đánh giá thiếu chính xác. Việc xem xét và đánh giá này cần được đặt trong cả quá trình đàm phán gia nhập WTO, bởi vì, Việt Nam không có bất kỳ một giai đoạn chuyển tiếp nào trong việc thực hiện các cam kết của mình về quyền sở hữu trí tuệ. Điều đó buộc Việt Nam cần phải chuẩn bị đầy đủ cơ sở pháp lý cho việc thực thi quyền sở hữu trí tuệ phù hợp với yêu cầu của WTO tại thời điểm gia nhập.

Trong cả quá trình này, pháp luật về sở hữu trí tuệ của Việt Nam đã có rất nhiều thay đổi. Từ những pháp lệnh được ban hành cuối những năm 80 đến việc pháp điển hóa các quy định về quyền sở hữu trí tuệ vào Bộ luật Dân sự năm 1995 cùng với một loạt các văn bản dưới luật được ban hành để hướng dẫn thi hành phần thứ 6 Bộ luật Dân sự năm 1995. Tại thời điểm đó, các văn bản dưới luật này được ban hành không chỉ với mục đích đảm bảo thi hành các quy định của Bộ luật Dân sự năm 1995 mà còn từng bước chuyển hóa các quy định của các điều ước quốc tế về sở hữu trí tuệ vào pháp luật trong nước, từng bước đảm bảo sự phù hợp của pháp luật Việt Nam với các điều ước quốc tế này.

Để chuẩn bị cho việc gia nhập WTO, Việt Nam đã có bước tiến lớn trong việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về quyền sở hữu trí tuệ bằng việc ban hành Luật Sở hữu trí tuệ (bao gồm 6 phần, 18 chương, 222 điều). Đây là một văn bản luật đầu tiên của Việt Nam quy định cụ thể, đầy đủ, chi tiết nhất các vấn đề liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ. Việc ban hành Luật Sở hữu trí tuệ đánh dấu một bước phát triển mới trong hệ thống pháp luật về quyền sở hữu trí tuệ của Việt Nam. Đồng thời đây cũng là một dấu hiệu thể hiện rõ sự tác động của quá trình hội nhập quốc tế nói chung và quá trình đàm phán gia nhập WTO nói riêng tới pháp luật về quyền sở hữu trí tuệ của Việt Nam.

Như vậy, việc gia nhập WTO đã buộc chúng ta phải có sự hoàn thiện pháp luật về quyền sở hữu trí tuệ theo các chuẩn mực quốc tế chung. Chính điều này đã giúp Việt Nam hoàn thiện được khuôn khổ pháp lý trong lĩnh vực quyền sở hữu trí tuệ thời gian qua.

2. Đối với việc thực thi quyền sở hữu trí tuệ

Trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ, việc hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật mới chỉ là một phần của công việc. Việc thực hiện các quy định của pháp luật trên thực tế hay công tác bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ mới là một vấn đề rất phức tạp, đặc biệt là đối với những nước đang phát triển như Việt Nam.

Trên thực tế, việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ là một vấn đề rất bức xúc mà các nước luôn đặt ra đối với Việt Nam trong suốt thời gian qua. Cũng chính vì vậy, khi Việt Nam gia nhập WTO đây sẽ là vấn đề sẽ được các nước phát triển trong WTO đặc biệt lưu ý đối với Việt Nam, đồng thời những tranh chấp trong lĩnh vực này sẽ rất khó tranh khỏi đối với Việt Nam khi chúng ta thực thi không đầy đủ, hiệu quả việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ.
Vì vậy, đối với các cơ quan Nhà nước, việc thực thi quyền sở hữu trí tuệ sẽ là khó khăn lớn nhất ra khi Việt Nam gia nhập WTO. Những khó khăn này bắt nguồn từ một số nguyên nhân chính là:

  • Cán bộ trong hệ thống các cơ quan thực thi còn thiếu về số lượng và năng lực chuyên môn chưa đáp ứng nhu cầu;
  • Chưa phát huy đúng mức việc áp dụng các biện pháp chế tài về dân sự, còn lạm dụng các chế tài về hành chính;
  • Toà án chưa phát huy được vai trò của mình trong việc xét xử vụ tranh chấp, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, hiệu quả của công tác xét xử còn thấp do trình độ nghiệp vụ chuyên môn về sở hữu trí tuệ của thẩm phán chưa đáp ứng được yêu cầu, Toà án thiếu các thẩm phán có chuyên môn sâu về sở hữu trí tuệ;
  • Mối quan hệ phối hợp giữa các cơ quan thực thi quyền sở hữu trí tuệ còn hạn chế;
  • Hiểu biết và tôn trọng quyền sở hữu trí tuệ của người dân, các doanh nghiệp và tổ chức cong thấp.
Để vượt qua được những khó khăn này, Việt Nam cần phải nỗ lực trong việc:
  • Nâng cao chất lượng của đội ngũ cán bộ liên quan đến việc thực thi quyền sở hữu trí tuệ. Đồng thời các cơ quan Nhà nước cần phải thay đổi tư duy và thói quen làm việc đối với những trường hợp liên quan đến việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ. Chẳng hạn như giảm bớt việc lạm dụng các biện pháp hành chính, nâng cao tiến độ, chất lượng, rút ngắn thời gian trong việc giải quyết các vấn đề liên quan đến việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ;
  • Công tác xây dựng pháp luật và chính sách về sở hữu trí tuệ sẽ được các tầng lớp trong xã hội cũng như các thành viên của WTO xem xét kỹ lưỡng, điều đó đòi hỏi các cơ quan Nhà nước có liên quan phải nỗ lực rất lớn để thoả mãn những yêu cầu cao hơn được đặt ra đối với công tác pháp chế và chính sách, trong khi đội ngũ chuyên gia được đào tạo chuyên ngành về pháp luật sở hữu trí tuệ còn rất thiếu, và cơ hội đào tạo còn hạn hẹp.
  • Việc bắt đầu gia nhập một môi trường kinh doanh có khuôn khổ pháp lý chặt chẽ, nghiêm khắc trong lúc các doanh nghiệp Việt Nam còn chưa có đủ các hiểu biết cần thiết về những quy tắc sở hữu trí tuệ cần phải tuân thủ sẽ dẫn đến một số lượng nhất định các xung đột về sở hữu trí tuệ xảy ra, buộc các cơ quan Nhà nước phải có trách nhiệm tham gia nghiên cứu, giải quyết. Công tác pháp chế, thực thi và giải quyết khiếu nại sẽ khó khăn và nặng nhọc hơn, trong khi các cơ quan giải quyết tranh chấp liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ còn rất thiếu kinh nghiệm và kiến thức chuyên môn về giải quyết tranh chấp về sở hữu trí tuệ trong khuôn khổ WTO và Hội đồng TRIPS.
  • Tăng cường công tác tuyên truyền phổ biến kiến thức về pháp luật sở hữu trí tuệ, đào tạo, tư vấn hỗ trợ các đối tượng có liên quan đến hệ thống sở hữu trí tuệ. Đồng thời, công tác thông tin sở hữu trí tuệ phải được đổi mới và nâng cấp để thoả mãn yêu cầu của những người sử dụng thông tin và của xã hội. Đây là một điều kiện bắt buộc nhằm thực hiện đúng và đầy đủ chức năng của hệ thống sở hữu trí tuệ đối với sự phát triển văn hoá - kinh tế – xã hội của đất nước.
  • Nâng cao chất lượng của hoạt động phối hợp giữa các cơ quan quản lý và thực thi sở hữu trí tuệ sẽ trong khi đây vẫn là một điểm yếu của hệ thống các cơ quan quản lý nhà nước nói chung.
  • Tăng cường hoạt động hợp tác quốc tế về sở hữu trí tuệ. Bây giờ, nội dung này đã trở thành yêu cầu bắt buộc nhằm giải quyết thoả đáng các vấn đề đã vượt ra khỏi biên giới quốc gia. Đồng thời đây là điều kiện không thể thiếu nhằm hướng đến sự phát triển ổn định, bền vững.

Trước mắt Việt Nam sẽ phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức như trên nhưng bên cạnh đó chúng ta sẽ được hưởng những thuận lợi nhất định từ việc thực thi hiệu quả quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam đó là:

  • Một chế độ bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đầy đủ tại Việt Nam sẽ tạo môi trường pháp lý tin cậy để thu hút việc đầu tư, đưa các sản phẩm trí tuệ vào thị trường Việt Nam.
  • Cơ hội hợp tác quốc tế song phương và đa phương trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ, bao gồm cả hoạt động trợ giúp kỹ thuật trong khuôn khổ WTO và Hiệp định TRIPS sẽ được mở rộng, giúp cho Việt Nam có thêm những nguồn lực quan trọng, cả về tài chính và kiến thức chuyên gia nhằm hỗ trợ Việt Nam giải quyết các vấn đề nội tại của hệ thống sở hữu trí tuệ cũng như các vấn đề liên quan đến hội nhập.
  • Việc tuân thủ các nghĩa vụ quốc tế sẽ làm cho hệ thống pháp luật và thực thi về sở hữu trí tuệ của Việt Nam trở nên tiệm cận với các xu hướng và thông lệ quốc tế. Điều này sẽ tạo thuận lợi cho việc giải quyết các yêu cầu của người nộp đơn trong nước và quốc tế, do quy trình nghiệp vụ được chuẩn mực hoá, các khác biệt giữa tập quán trong nước và quốc tế dần dần được thu hẹp hoặc xoá bỏ. Sự minh bạch trong các quyết định của các cơ quan quản lý Nhà nước bảo đảm.

Thực thi quyền sở hữu trí tuệ theo các yêu cầu của WTO không phải là một công việc dễ dàng đối với Việt Nam. Điều đó có thể được thấy rất rõ qua kinh nghiệm của Trung Quốc. Chính vì vậy, trước những thách thức cũng như những thuận lợi mà việc gia nhập WTO đem lại, chúng ta cần phải nỗ lực rất lớn, không chỉ từ các cơ quan Nhà nước mà còn từ các cá nhân, tổ chức để vượt qua được những khó khăn và thách thức này.

Bạch Quốc An - Chuyên viên Vụ Pháp luật Quốc tế, Bộ Tư pháp
Nguồn: www.lerap.org

Ý KIẾN BẠN ĐỌC VỀ BÀI VIẾT NÀY

Họ và tên : *  
Địa chỉ :  
Email : *  
Ý kiến của bạn : *

Mã bảo vệ :

 

Các tin tiếp
Các tin trước
TIÊU ĐIỂM
Xem nhiều nhất