Bảo hộ tác quyền ở Việt Nam - So sánh với Thụy Điển
3:55' 12/6/2009
Chung chung, cả về ngôn từ và biện pháp thực thi. Đó là nhận xét của luật sư Charlotte Lilliestierna, Viện Phim Thụy Điển, về cơ sở pháp lý đối với việc bảo vệ quyền tác giả ở Việt Nam. Ngày 8-9.6 vừa qua, luật sư Charlotte Lilliestierna đã có bài giảng về bản quyền điện ảnh tại Viện Phim Việt Nam, trong đó, bà so sánh, đối chiếu khá chi tiết Luật Sở hữu trí tuệ (SHTT) của Việt Nam với các quy định về vấn đề này trong Công ước Berne, Rome và đặc biệt là luật của Thụy Điển.


Nếu so với các quy định về bản quyền của Thụy Điển ra đời và có hiệu lực từ những năm 1960, thì Luật SHTT của Việt Nam còn tương đối mới, ban hành năm 2005 (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật SHTT được cho ý kiến tại kỳ họp thứ 5, QH Khóa XII - PV). Trong khi Thụy Điển có rất nhiều luật khác nhau cho các lĩnh vực khác nhau về SHTT thì Việt Nam lại lựa chọn một luật đơn nhất bao trùm toàn bộ lĩnh vực này. Vì thế, một điều hiển nhiên là, Thụy Điển áp dụng những điều khoản tương đối chi tiết về các vấn đề khác nhau thì Luật SHTT của Việt Nam lại chung chung hơn, cả về ngôn từ và biện pháp thực thi. Điều này có nghĩa là phạm vi của Luật cần được giải thích, có thể bằng sự tiến triển của thực tế nói chung hoặc qua các tranh chấp trước tòa. Ở Thụy Điển rất hiếm khi xảy ra tranh chấp về SHTT phải đưa ra tòa, chủ yếu vì thực tế luật ở đây rất cụ thể và phải mất một thời gian khá dài để tạo được sự đồng thuận giữa cộng đồng văn học, nghệ thuật và các ngành khi giải thích về luật, về các sự kiện thực tế, về thỏa thuận tập thể, các ràng buộc hợp đồng.

Bản quyền và các quyền liên quan

Bản quyền là những quyền hợp pháp được cấp cho người sáng tác một tác phẩm viết hoặc tác phẩm nghệ thuật. Những quyền này được chia thành quyền về kinh tế (có thể chuyển cho người khác) và quyền về nhân thân (không được phép chuyển nhượng). Những quyền liên quan được cấp cho người biểu diễn và nhà sản xuất tạo ra các bản sao tác phẩm, nên về bản chất, đó là quyền về kinh tế. Những quyền này không phụ thuộc vào bản quyền tác phẩm đã được trình diễn hoặc ghi lại.

Theo quy định tại Điều 44 của Luật SHTT hiện hành, Việt Nam thực hiện bảo hộ cho chủ sở hữu chương trình biểu diễn. Đó là những người hoặc tổ chức đứng ra tổ chức và tài trợ cho chương trình biểu diễn trong thời gian của riêng họ. Tức là, nếu bạn được thuê để biểu diễn thì nhà tài trợ sẽ là chủ sở hữu, trừ phi có thỏa thuận khác giữa bạn và bên thuê. Điều này trái ngược với luật của Thụy Điển, quy định người được thuê bao giờ cũng là chủ sở hữu tác quyền và/hoặc các quyền liên quan, trừ phi có hợp đồng ngược lại. Chỉ có một tình huống duy nhất mà bên thuê nghiễm nhiên trở thành chủ sở hữu tác quyền của tác phẩm do bên được thuê sáng tác khi tác phẩm là chương trình máy tính.

Về quyền nhân thân, theo quy định của Luật SHTT Việt Nam, quyền nhân thân bao gồm quyền nêu tên tác phẩm, có tên hoặc bút danh ghi trên tác phẩm hoặc được nêu khi tác phẩm được xuất bản, khai thác, có quyền phát hành tác phẩm hay ủy quyền cho người khác phát hành, và có quyền bảo vệ tính toàn vẹn của chính tác phẩm, có quyền phản đối bất kỳ sự thay đổi, cắt xén, bóp méo hoặc sửa đổi nào khác có thể làm tổn hại cho thanh danh của người sáng tác. Như vậy, quyền nhân thân trong luật của Việt Nam có phạm vi rộng hơn luật của Thụy Điển. Bởi theo luật của Thụy Điển, quyền phát hành không được coi là quyền nhân thân, mà là quyền sở hữu kinh tế. Thậm chí, quyền nêu tên tác phẩm không được đề cập trong luật bản quyền của Thụy Điển. Từ góc độ nhà sáng tác, Luật SHTT của Việt Nam bảo hộ mạnh mẽ hơn đối với quyền nhân thân.

Những hạn chế đối với tác quyền

Những hạn chế đối với bản quyền tất nhiên là thời gian bảo hộ. Quyền nhân thân, trừ quyền phát hành, được bảo hộ vĩnh viễn, trong khi quyền sở hữu tài sản được bảo hộ trong 50 năm sau khi tác giả qua đời đối với mọi tác phẩm, trừ phim, ảnh chụp các tác phẩm sân khấu và những tác phẩm khuyết danh. Việc sử dụng các quyền liên quan được bảo hộ cần phải có giấy phép và tiền tác quyền. Những hạn chế cũng áp dụng như đối với bản quyền hợp thức, nhưng thời hạn bảo hộ thì khác. Chương trình biểu diễn được bảo hộ 50 năm từ khi hoàn tất dàn dựng và bản ghi âm được bảo hộ 50 năm từ khi được phát hành hoặc phát sóng.

Liên quan đến các tác phẩm được xuất bản sau khi tác giả qua đời, tại Thụy Điển, tác phẩm được xuất bản sau khi tác giả qua đời cũng được đối xử như các tác phẩm khác của tác giả và người kế thừa sẽ thụ hưởng các quyền và kiểm soát việc công bố tác phẩm tới công chúng. Việt Nam lại có cách làm khác và Nhà nước được hưởng bản quyền đối với tác phẩm loại này. Ở Việt Nam, tác giả và người kế thừa cũng có thể từ bỏ tác quyền và các quyền khác, các quyền này trở thành tài sản của Nhà nước cho đến khi kết thúc thời gian bảo hộ. Trong khi đó, ở Thụy Điển, người ta cũng có thể từ bỏ tác quyền chỉ vì không thực hiện quyền đó, và khi đó, tác phẩm trở thành miễn phí và không ai có quyền. Các quyền đó trở thành tài sản công.

Rõ ràng, Luật SHTT của Việt Nam rất tham vọng và hiện đại. Một mặt nó nhấn mạnh sự cân đối giữa lợi ích của chủ sở hữu các quyền nhân thân và nhà đầu tư, mặt khác nó nhấn mạnh quyền lợi của cộng đồng và xã hội. Các nhà sáng tác của Thụy Điển có lợi thế khi tác phẩm của họ được bảo hộ từ quan điểm sáng tác mà không cần phải được định hình hoàn chỉnh hoặc chất liệu thực hiện, còn các tác giả Việt Nam được bảo hộ về quyền lợi nhân thân vô thời hạn về thời gian và quyền phát hành tác phẩm mà ngay từ đầu được coi là quyền nhân thân.

Theo luật của Thụy Điển, tác quyền không được tự động cấp cho nhà đầu tư (sản xuất phim). Những quyền độc lập của nhà sản xuất là quyền liên quan, bao gồm quyền sở hữu, quyền sao chép bản phim và quyền phát hành bản phim copy đó trên các phương tiện truyền thông khác nhau.

Nguyên Anh ghi
Nguồn: Báo Người Đại biểu nhân dân

Ý KIẾN BẠN ĐỌC VỀ BÀI VIẾT NÀY

Họ và tên : *  
Địa chỉ :  
Email : *  
Ý kiến của bạn : *

Mã bảo vệ :

 

Các tin tiếp
Các tin trước
TIÊU ĐIỂM
Xem nhiều nhất