Hiện trạng của hệ thống thông tin sở hữu công nghiệp ở Việt Nam
2:40' 30/8/2009


 
  1. Năm 1981 bằng việc Chính phủ ban hành Nghị định về sáng kiến cải tiến kỹ thuật- hợp lý hoá sản xuất và sáng chế hệ thống sở hữu công nghiệp của Việt Nam bắt đầu đi vào hoạt động. Trong những năm tiếp theo, các đối tượng sở hữu công nghiệp như nhãn hiệu hàng hoá (1982), kiểu dáng công nghiệp (1988), giải phá hữu ích (1988), tên gọi xuất xứ (1995),v.v. bắt đầu được bảo hộ ở Việt Nam. Hệ nay, hệ thống sở hữu công nghiệp của Việt Nam bao gồm tất cả các đối tượng sở hữu công nghiệp quy định trong Hiệp định TRIPS - WTO.
  2. Vấn đề thông tin sở hữu công nghiệp - đặc biệt là thông tin sáng kiến - sáng chế được chú ý sớm hơn nhiều. Ngay từ cuối những năm 60 của thế kỷ trước tại Ủy ban Khoa học Nhà nước (tiền thân của Bộ Khoa học và Công nghệ ngày nay), một nhóm chuyên viên đã được giao nhiệm vụ xây dựng kho tư liệu sáng kiến và sáng chế nhằm phục vụ cho các nhu cầu nghiên cứu, triển khai. Nhóm này đã nghiên cứu cơ sở lý luận về hoạt động thông tin tư 1iệu nói chung và sơ bộ hoạch định một chiến lược về thông tin sáng kiến - sáng chế ở Việt Nam. Tuy nhiên, cuộc chiến tranh ác liệt chống xâm lược đã không cho phép hoàn tất mọi công việc cho tới khi kết thúc chiến tranh (1975) những người theo đuổi mục tiêu trên mới chỉ thu được những kết quả nhỏ bé: một kho tư liệu với vài trăm nghìn bản mô tả sáng chế của Liên Xô và của một số nước xã hội chủ nghĩa cùng vài trăm phiếu (card) ghi tóm tắt nội đung các sáng kiến kỹ thuật được tạo ra ở Việt Nam trong những năm chiến tranh,v.v. đã được thiết lập và đó là nền móng ban đầu của cơ sở dữ liệu thuộc Trung tâm Thông tin sở hữu công nghiệp đặt tại Cục Sở hữu trí tuệ ngày nay.
  3. Vấn đề xây dựng hệ thống thông tin sở hữu công nghiệp được đặc biệt chú ý và giữa những năm 1980 khi mà số đơn yêu cầu cấp Bằng độc quyền sáng chế và Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu hàng hoá có xu hướng gia tăng và cũng là khi Việt Nam chuẩn bị chuyển đổi nền kinh tế từ kế hoạch hoá tập trung sang thị trường. Mục tiêu ban đầu của việc xây dựng hệ thống này là đáp ứng nhu cầu về thông tin phục vụ xét nghiệm các đối tượng sở hữu công nghiệp yêu cầu bảo hộ(sáng chế và nhãn hiệu hàng hoá) và tiến tới phục vụ cho hoạt động nghiên cứu và triển khai.
  4. Đến nay, trên cơ sở hợp tác về thông tin, tư liệu với 27 nước và tổ chức quốc tế trong đó có Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO), Cơ quan Patent châu Âu(EPO) và các cơ quan patent của các nước công nghiệp phát triển, các cơ sở dữ liệu có tại Trung tâm thông tin tư liệu của Cục Sở hữu trí tuệ đã có tới gần 25 triệu bản mô tả sáng chế, khoảng l,5 triệu kiểu dáng công nghiệp và gần 3 trệu nhãn hiệu hàng hoá. Hầu hết các tư liệu này đều ở dạng CD-ROM.
  5. Hiện nay, ngoài Trung tâm Thông tin Tư liệu của Cục Sở hữu trí tuệ, ở Việt Nam còn có Trung tâm Thông tin Khoa học - Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh nơi đang lưu trữ khoảng 2 triệu tư liệu đầy đủ về sáng chế và Trung tâm Thông tin Khoa học - Công nghệ thành phố Đà Nẵng có khoảng 1 triệu tư liệu sáng chế. Mục tiêu của hai Trung tâm này là đáp ứng tại chỗ, kịp thời các nhu cầu thiết yếu của người dùng tin ở miền Nam và miền Trung đất nước.
  6. Các Trung tâm Thông tin tư liệu sở hữu công nghiệp của Việt Nam chưa có mối liên hệ trực tuyến (on-line) với nhau và Việt Nam hiện chưa có mạng quốc gia về thông tin sở hữu công nghiệp nên việc tra cứu thông tin sở hữu công nghiệp đặc biệt là thông tin sáng chế cần được tiến hành tại các Trung tâm này.
  7. Thông tin sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hoá đăng ký quốc gia ở Việt Nam hiện nay mới chỉ được công bố dưới dạng giấy. Việc thử nghiệm đưa thông tin nhãn hiệu hàng hoá đăng ký quốc gia lên Intemet đã được tiến hành từ năm 2002.
  8. Mặc dù Việt Nam đã có các cơ sở dữ liệu khá đầy đủ về thông tin sở hữu công nghiệp, thông tin sở hữu công nghiệp chưa được khai thác một cách đầy đủ. Thông tin sở hữu công nghiệp, đặc biệt là thông tin sáng chế mới chỉ phục vụ việc xét nghiệm đơn yêu cầu cấp Bằng độc quyền sáng chế mà chưa phục vụ đắc lực cho các hoạt động nghiên cứu và triển khai. Điều này được thể hiện ở các con số thống kê trong năm 2003: tại Cục Sở hữu trí tuệ tổng số lượt người tra cứu thông tin sáng chế chỉ là 453 và chỉ có 115 dự án nghiên cứu triển khai có tiến hành tra cứu thông tin sáng chế.
  9. Dường như hiện nay ở Việt Nam người ta chỉ quan tâm đến thông tin kiểu dáng công nghiệp và nhãn hiệu hàng hoá. Trong những năm gần đây, số lượng đơn yêu cầu tra cứu thông tin về hai đối tượng này không ngừng gia tăng khiến cho thời gian chờ đợi kết quả tra cứu kéo dài. Để đáp ứng nhu cầu này của công chúng cũng như giảm tải cho Cục Sở hữu trí tuệ, Cục đã thử nghiệm xây dựng cơ sở dữ liệu điện tử về nhãn hiệu hàng hóa đăng ký quốc gia, kết quả là hàng loạt CD-ROM đã được sản xuất và cung cấp định kỳ cho các tỉnh, thành phố để các địa phương tự đáp ứng nhu cầu tra cứu tin của các doanh nghiệp thuộc địa phương mình. Mặc dù vậy, tổng số đơn yêu cầu tra cứu tin vê nhãn hiệu hàng hoá và kiểu dáng công nghiệp mà Cục Sở hữu trí tuệ phải giải quyết vẫn lớn trong năm 2003 là 7.992 đơn.
  10. Thông tin sở hữu công nghiệp, đặc biệt là thông tin sáng chế được khai thác tốt hơn ở miền Nam. Điều đó sẽ được minh họa bởi các số liệu được đại diện của Trung tâm Thông tin Khoa học - Công nghệ thuộc Sở Khoa học và Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh trình bày tại Hội thảo này. Mặc dù vậy, việc sử dụng thành công thông tin sở hữu công nghiệp vẫn là một điều rất mong muốn của chúng ta.
  11. Việc sử dụng thông tin sở hữu công nghiệp chưa đúng mức có nhiều lý do. Mặc dù chưa có một cuộc điều tra, nghiên cứu, phân tích đầy đủ về việc ít khai thác thông tin sở hữu công nghiệp đặc biệt là thông tin sáng chế ở Việt Nam nhưng có thể dễ thấy một số nguyên nhân sau:

_ Thông tin sáng chế chưa trở thành nhu cầu cấp thiết của các viện nghiên cứu, các

doanh nghiệp;

_ Công tác tuyên truyền phổ biến về sở hữu công nghiệp, đặc biệt là về thông tin sở hữu công nghiệp, nhất là thông tin sáng chế chưa được làm tốt nên sự hiểu biết của các nhà nghiên cứu - triển khai còn hạn chế;

_ Khó khăn trong việc đọc, hiểu thông tin sáng chế cũng như hàng rào ngôn ngữ (thông tin sáng chế chủ yếu được trình bày bằng tiếng nước ngoài như tiếng Anh, Pháp,v.v.);

_ Hệ thống thông tin sở hữu công nghiệp, nhất là thông tin sáng chế hiện có không thuận tiện cho việc khai thác, việc phải đến Cục Sở hữu trí tuệ để tra cứu khiến cho tốn kém cả thời gian, công sức và chi phí;

_ Sản phẩm thông tin chưa phù hợp cho các đối tượng dùng tin khác nhau, các dịch vụ thông tin hiện có còn thô sơ, thụ       động,v.v..

Phạm Phi Anh - Phó Cục trưởng Cục Sở hữu trí tuệ

Trích Tài liệu hội thảo “Vai trò của thông tin sáng chế trong việc thúc đẩy hoạt động sáng tạo” tháng 02/2004

Các tin tiếp
Các tin trước
TIÊU ĐIỂM
Xem nhiều nhất