Vai trò của Sở hữu trí tuệ và các đặc điểm của thông tin sáng chế
2:40' 30/8/2009


  1. Do Chính phủ, các trường đại học và các ngành công nghiệp ngày càng nhận thức rõ hơn về vai trò của sở hữu trí tuệ trong việc tăng cường tính cạnh tranh quốc tế, thông tin sáng chế trở nên quan trọng hơn bao giờ hết.
  2. Bản báo cáo với tựa đề ''Các khía cạnh chiến lược của quyền sở hữu trí tuệ đối với chính sách khoa học và công nghệ'' tại châu Âu tháng 6/1999 đã nhấn mạnh rằng việc tạo ra một nền văn hoá hiểu biết về sở hữu trí tuệ trong công nghiệp có ý nghĩa quan trọng trong việc tăng cường tính cạnh tranh trong các ngành công nghiệp châu Âu và đòi hỏi phải giáo dục và đào tạo các doanh nhân và các nhà nghiên cứu để họ nhận thức được tầm quan trọng của sở hữu trí tuệ, thúc đẩy việc sử dựng hiệu quả thông tin sáng chế như là một công cụ hoạch định chiến lược nghiên cứu, kinh doanh và tiếp tục các nỗ lực nhằm tiếp cận nguồn thông tin sáng chế phong phú.
  3. Cùng lúc đó, trong ''Khuôn khổ chung của Chiến lược sở hữu trí tuệ '' công bố tháng 7/2002 Chính phủ Nhật Bản đã nhấn mạnh rằng để đẩy nhanh việc sáng tạo ra sở hữu trí tuệ, “điều quan trọng là doanh nghiệp hợp tác với các trường đại học và các tổ chức công cộng vào thời điểm bắt đầu hoạt động nghiên cứu trong ''các dự án trọng điểm'', thấy trước việc sử dụng tương lai các kết quả nghiên cứu bao gồm việc sử dụng thực tiễn trong nền kinh tế và xã hội, và nhấn mạnh rằng phải tạo môi trường để thông tin sáng chế được sử dụng một cách hiệu quả trong nghiên cứu và phát triển cũng như việc đăng ký, xác lập quyền sở hữu trí tuệ.'' Để sử dụng hiệu quả thông tin sáng chế trong hoạt động nghiên cứu triển khai, cần có các biện pháp thực tế thúc đẩy các trường đại học tạo ra các sản phẩm sở hữu trí tuệ, ''tạo nên một môi trường mà các nhà nghiên cứu có thể dễ dàng tiếp cận các thông tin sáng chế và các thông tin kỹ thuật liên quan bằng cách kết nối các hệ thống tra cứu tư liệu với các hệ thống tra cứu sáng chế bắt đầu trong năm 2003 và thúc đẩy việc sử dụng hiệu quả hơn các công cụ tra cứu cho các thư viện, điện tử kỹ thuật số về sở hữu công nghiệp và các dịch vụ thông tin sáng chế trực tuyến trên mạng và thương mại và các địch vụ từ các cơ sở dữ liệu.''
  4. Đằng sau việc thúc đẩy sử dụng thông tin sáng chế là việc đánh giá lại hiệu quả của thông tin sáng chế trong việc giải quyết vấn đề mà thế giới đang phải đối mặt là làm thế nào để hệ thống sở hữu trí tuệ được sử dựng một cách chiến lược.
  5. Trên quan điểm vĩ mô, hiệu quả kinh tế của hệ thống patent thường được đánh giá dựa trên hiệu quả đạt được thông qua việc khai thác thương mại bằng độc quyền sáng chế hoặc khoản tiền thu được do việc cấp li-xăng, chứ không phải dựa trên hiệu quả của việc khai thác thông tin sáng chế. Tuy nhiên, ngày càng nhiều đơn sáng chế được nộp trên phạm vi thế giới và ngày càng nhiều sáng chế được sử dụng để sản xuất sản phẩm, việc độc quyền thị trường và doanh thu do việc cấp li-xăng không phải lúc nào cũng được cơi là một giá trị đặc biệt và thay vào đó thông tin do hệ thống đó cung cấp thông tin sáng chế hiện nay được chú ý nhiều hơn.
  6. Các xu hướng này được thấy rõ trong một cuộc thăm dò ý kiến do Viện Sở hữu trí tuệ thực hiện năm 1994. Những người được hỏi ý kiến cho rằng hiệu quả kinh tế lớn nhất từ hệ thống sở hữu trí tuệ là việc bộc lộ thông tin của các đối thủ cạnh tranh thông qua hệ thống sáng chế, chứ không phải là khoản doanh thu có được từ việc độc quyền sử dụng công nghệ được cấp patent, các khoản bồi thường thiệt hại do việc vi phạm hoặc các khoản tiền thu được do việc cấp li-xăng.

Bảng 1. Hiệu quả kinh tế của hệ thống sở hữu trí tuệ (nguồn: Báo cáo của Viện Sở hữu trí tuệ)

 

Hiệu quả lớn (%)

Hiệu quả vừa (%)

Ít hiệu quả (%)

Không hiệu quả

Bộc lộ thông tin của đối thủ cạnh tranh

18.3

26.8

7.4

0.3

Chế tài xửa lý các hoạt động vi phạm

14.7

20.8

14.7

1.7

Rủi ro phát triển nhỏ

11.1

28.1

11.4

1.0

Nguồn li-xăng chéo

9.7

21.6

16.2

4.2

Tiền li-xăng và các khoảnthu khác

9.4

14.6

23.5

4.7

Tiền bồi thường từ phái vi phạm

4.0

26.3

17.9

2.5

Đánh giá công việc nghiên cứu

3.9

19.6

24.6

4.0

Khoản thu tăng

0.3

4.2

13.4

0.7

Các hiệu quả khác

0.3

0.7

0.2

1.0

 

  1. Hệ thống sáng chế, ngay từ đầu, “nhằm mục đích góp phần phát triển công bằng
  2. Tính hiệu quả của thông tin sáng chế đã từng được nhấn mạnh. Chẳng hạn, thông tin sáng chế có các đặc điểm sau mà không thể tìm thấy trong tạp chí, các tài liệu hàn lâm và các bản báo cáo:

(1)   Nguồn thông tin duy nhất về độc quyền;

(2)   Công báo chính thức được ấn hành sau khi xét nghiệm nội dung. Đây là nguồn tư liệu duy nhất làm cơ sở để các cơ quan quốc gia tiến hành xét nghiệm và kết luận về tính mới và trình độ sáng tạo;

(3)   Nguồn thông tin có cấu trúc chặt chẽ, không chỉ theo bảng phân loại sáng chế quốc tế mà còn theo các mẫu thống nhất chi tiết khác như yêu cầu bảo hộ, tóm tắt sáng chế và các yêu cầu về mô tả sáng chế;

(4)   Bao trùm tất cả các lĩnh vực. Cụm từ “từ các vật dụng hàng ngày đến tên lửa” muốn nói rằng thông tin sáng chế bao gồm “tất cả các lĩnh vực kỹ thuật” có khả năng là đối tượng của sáng chế.

(5)   Nguồn thông tin công bố tương đối sớm. Nhìn chung các công y, tập đoàn không bộc lộ công khai các thông tin liên quan trước 18 tháng sau ngày nộp đơn và vì thế việc công bố sáng chế được coi là sự bộc lộ sớm nhất về công nghệ liên quan. Các công bố bao gồm không những thông tin của Nhật Bản mà còn của nước ngoài. Vì hệ thống patent hiện thời áp dụng nguyên tắc lãnh thổ, để được bảo hộ cần phải đăng ký sáng chế tại mỗi nước (khu vực). Đồng thời, nguyên tắc không phân biệt đối xử cho phép bất cứ người nước ngoài nào cũng được đăng ký bảo hộ sáng chế tại Nhật Bản, cho phép đọc, nghiên cứu kết quả hoạt động nghiên cứu và phát triển tại nước ngoài bằng tiếng Nhật (Các sáng chế của Mỹ cũng có thể được sử dụng theo cách đó).

(6)   Khả năng sử dụng như một cơ sở dữ liệu. Các cơ quan sáng chế lớn trên thế giới đã đưa thông tin sáng chế lên trên mạng(web site) của họ dưới dạng toàn văn hoặc tóm tắt.

  1. Theo kết quả khảo sát do cơ quan sáng chế Nhật Bản thực hiện, các công y, tập đoàn Nhật Bản sử dụng sáng chế chủ yếu nhằm kiểm tra việc vi phạm, tra cứu tình trạng kỹ thuật trước khi nộp đơn đăng ký sáng chế và nghiên cứu các xu hướng hoạt động nghiên cứu và phát triển của các đối thủ cạnh tranh. Như đã nói ở trên, việc sử dụng thông thường chỉ nhằm mục đích tránh vi phạm và sử dụng cho thủ tục nộp đơn, trong khi đó việc sử dụng như một nguồn thông tin kỹ thuật nhằm tránh sự trùng lặp, lãng phí trong hoạt động nghiên cứu và phát triển hoặc sử dụng trong việc lập kế hoạch chiến lược của công ty, tập đoàn vẫn còn cực kỳ hạn chế.
  2. Sở dĩ có các xu thế đó là do các khía cạnh sau đây của thông tin sáng chế:

(1)   Thứ nhất, dung lượng rất lớn. Ở Nhật Bản chẳng hạn, khoảng gần 500.000 sáng chế được công bố hàng năm. Hơn thế nữa, số sáng chế công bố trong vòng hơn 100 năm nay ước tính hơn 15 triệu. Không chỉ thông tin sáng chế của Nhật Bản mà thông tin sáng chế của nước ngoài cũng quan trọng. Số lượng tối thiểu tư liệu sáng chế mà xét nghiệm viên phải tra cứu theo quy định của Hiệp ước Hợp tác sáng chế (PCT) vượt xa con số 20 triệu bản. Thông tin sáng chế và mẫu hữu ích của các nước trên thế giới ước tính khoảng hơn 24 triệu bản đã được công bố, và vì thế dẫn đến khó khăn trong việc tiếp cận các thông tin cần thiết.

(2)   Thứ hai, các bản mô tả thường rất khó hiểu. Mặc dù áp dụng biểu mẫu thống nhất, các bản mô tả sáng chế không phải lúc nào cũng dễ hiểu. Bởi vì thông tin sáng chế có chức năng mô tả các quyền, đòi hỏi sử dụng các cụm từ, khái niệm đặc biệt ở Nhật Bản cũng như ở nước ngoài. Vì thế để hiểu bản mô tả sáng chế cần đầu tư thời gian và cần có sự nỗ lực rất lớn.

  1. Tình hình được cải thiện hơn nhờ việc ứng công nghệ số tại các cơ quan sở hữu công nghiệp. Trong những năm thuộc thập kỷ 1980, các cơ quan sở hữu công nghiệp bắt đầu xây dựng cơ sở dữ liệu thông tin sáng chế và trong thế kỷ 21 này, các thông tin đó bắt đều được đưa lên mạng Internet. Kết quả là, bất cứ ai cũng có thể truy cập thông tin sáng chế tương đối dễ dàng, nếu không nói là dễ dàng và vì thế tiết kiệm một cách đáng kể chi phí sử dụng nguồn thông tin này. Hơn nữa, việc sử dụng rộng rãi các thông tin được số hóa cho phép áp dụng các hình thức sử dụng mới như phân tích biểu đồ patent. Trong khi việc sử dụng hiệu quả thông tin sáng chế một cách không thiếu không thừa đòi hỏi phải có trình độ chuyên môn, có thể nói rằng ít nhất cơ hội để các doanh nhân cũng như các nhà nghiên cứu tiếp cận thông tin sáng chế được mở rộng đáng kể.
  2. Chúng tôi cho rằng thông tin sáng chế cần được sử dụng theo các phương thức sau đây:

Trước hết, thông tin sáng chế được sử dụng như một nguồn thông tin kỹ thuật trong các hoạt động nghiên cứu và phát triển. Vì các nhà nghiên cứu có thể truy cập trực tiếp thông tin sáng chế, nên có thể tin rằng thông tin sáng chế cũng sẽ được họ sử dụng tích cực hơn nhằm khám phá đề tài nghiên cứu của họ, hoặc có được các gợi ý cho các hoạt động nghiên cứu triển khai mới. Theo kết quả khảo sát do Cơ quan Sáng chế Nhật Bản thực hiện, gần một nửa số đơn đăng ký sáng chế là các đối tượng đã biết trong các đơn sáng chế đã được công bố trước đó. Nếu tránh được công sức và các chi phí to lớn này, các hoạt động nghiên cứu và phát triển sẽ được đầu tư hiệu quả hơn.

  1. Sử dụng có hiệu quả thông tin sáng chế cũng phục vụ chiến lược đăng ký bảo hộ sở hũu trí tuệ và tránh vi phạm để đối phó với sự gia tăng cạnh tranh trên thị trường thế giới. Phân tích thông tin sáng chế đã biết và xây dựng các yêu cầu bảo hộ mạnh và rộng có ý nghĩa quan trọng trong việc xác lập quyền, và việc phân tích tổng thể thông tin sáng chế là cần thiết đối với việc hình thành chiến lược patent. Ngoài ra, các nỗ lực nhằm tránh các tranh chấp không cần thiết cần phải thực hiện sớm bởi lẽ các hoạt động kinh tế có thể bị tác động đáng kể nếu bị kiện là vi phạm quyền của người khác. Nỗ lực đó bao gồm việc tra cứu tổng thể các thông tin sáng chế.
  2. Cuối cùng, thông tin sáng chế sẽ được tiếp tục sử dụng như là thông tin kinh doanh và thông tin chính sách. Thông tin sáng chế là chiếc gương soi sáng các hoạt động nghiên cứu và triển khai trong công nghiệp cũng như tại các trường đại học. Sử dụng thông tin sáng chế cho phép phân tích xu hướng thị trường và các xu hướng chiến lược của các ngành công nghiệp (bao gồm các đối thủ cạnh tranh). Sẽ không quá lời nếu nói rằng để tăng cường khả năng cạnh tranh quốc tế, sử dụng hiệu quả thông tin sáng chế là một việc làm không thể thiếu.

 

Shinichiro Suzuki

Viện Sáng kiến và Sáng chế Nhật Bản

 

Trích Tài liệu hội thảo “Vai trò của thông tin sáng chế trong việc thúc đẩy hoạt động sáng tạo” tháng 02/2004


Các tin tiếp
Các tin trước
TIÊU ĐIỂM
Xem nhiều nhất