Xử phạt vi phạm hành chính trong một số lĩnh vực: Công cụ pháp lý bị lãng quên (?)
22:53' 22/12/2007

Một trong những trở ngại lớn làm ảnh hưởng đến chất lượng cũng như tiến độ giải quyết các vụ án là các hành vi cản trở hoạt động tố tụng của Tòa án. Mặc dù rất bức xúc về vấn đề này nhưng hiện nay các Tòa án địa phương cũng đành phải bó tay vì các quy định của pháp luật về việc xử lý vi phạm hành chính đối với các hành vi cản trở hoạt động tố tụng vẫn còn mang tính chất nửa vời.



Thực trạng nhức nhối


Một trong những trở ngại lớn trong việc giải quyết các vụ án của ngành Tòa án là ý thức chấp hành pháp luật của các cá nhân, cơ quan, tổ chức hiện nay rất kém. Biểu hiện phổ biến và rõ nét nhất qua các hành vi đó là: Người tham gia tố tụng cố tình không nhận, không chấp hành theo giấy triệu tập của Tòa án, tự ý bỏ về giữa chừng làm cho việc giải quyết phải hoãn nhiều lần. Hành vi từ chối công khai báo hoặc khai báo không đúng sự thật; mua chuộc, đe dọa, cưỡng ép để ngăn cản người làm chứng hoặc để họ khai báo gian dối; không chịu ký vào các biên bản làm việc của Tòa án. Các cá nhân, tổ chức cố ý tẩu tán, hủy hoại hoặc không cung cấp các tài liệu, chứng cứ có ý nghĩa cho việc giải quyết các vụ án hành chính, các vụ, việc dân sự mà Tòa án yêu cầu cung cấp hoặc có quyết định thu thập chứng cứ. Các cơ quan chuyên môn không cử cán bộ tham gia Hội đồng định giá tài sản theo yêu cầu của Tòa án; đương sự cản trở hoạt động định giá tài sản, hoạt động xem xét tại chỗ, đương sự, người nhà của đương sự cố tình xuyên tạc, tố cáo cán bộ Tòa án sai sự thật,...Nói tóm lại, mỗi loại hoạt động tố tụng đều có thể xảy ra các hành vi cản trở tương ứng. Tất cả các hành vi cản trở hoạt động tố tụng dù ở mức độ nào đều có ảnh hưởng đến chất lượng xét xử của ngành Tòa án.

 

Đâu là nguyên nhân?


Một thực tế hiện nay là các hành vi cản trở hoạt động tố tụng của Tòa án đang xảy ra rất phổ biến nhưng không hề bị xử lý. Điều đó không có nghĩa là do ngành Tòa án bao che, dung túng cho người vi phạm để tự làm khổ mình mà là do vướng mắc về mặt pháp lý, cụ thể là thiếu căn cứ pháp luật để xử lý đối với loại hoành vi vi phạm này.

 

Đối với pháp luật tố tụng hình sự, Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 1998 và năm 2003 cũng chỉ có quy định vẻn vẹn rằng: “Những người vi phạm trật tự phiên tòa thì tùy từng trường hợp, có thể bị chủ tọa phiên tòa cảnh cáo, phạt tiền,...”. Tuy nhiên, mức phạt bao nhiêu, trình tự, thủ tục xử phạt và thi hành quyết định xử phạt như thế nào thì vẫn còn bỏ ngỏ. Mặt khác, trong giai đoạn chuẩn bị xét xử cũng như khi xét xử thì hành vi cản trở hoạt động tố tụng hình sự không chỉ là hành vi vi phạm trật tự phiên tòa mà còn có nhiều loại hành vi cản trở khác cần thiết phải xử phạt. Tại Điều 17 của Nghị định số 150/NĐ-CP ngày 12/12/2005 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh và trật tự, an toàn xã hội cũng chỉ mới quy định về việc xử phạt hành chính đối với các hành vi cản trở  việc áp dụng biện pháp ngăn chặn, cản trở hoạt động xác minh thu thập chứng cứ của Cơ quan điều tra, cản trở hoạt động thi hành bản án trong khi đó việc xử phạt đối với các hành vi cản trở hoạt động tố tụng trong giai đoạn xét xử lại chưa được quy định trong Nghị định này.

 

Đối với pháp luật tố tụng dân sự, trước đây theo quy định của các Pháp lệnh về thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, lao động, kinh tế có quy định: Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng thì có thể bị Tòa án phạt tiền từ hai mươi nghìn đến một trăm nghìn nhưng lại không quy định về thẩm quyền, trình tự thủ tục xử phạt như thế nào. Ngoài ra, các Pháp lệnh nêu trên cũng như Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính còn quy định: Người vi phạm trật tư phiên tòa, tùy từng trường hợp, có thể bị chủ tọa phiên tòa cảnh cáo, phạt tiền nhưng lại không quy định mức phạt, trình tự thủ tục xử phạt như thế nào. Từ sự quy định nửa vời như vậy nên từ trước đến nay chẳng có Tòa án nào giám xử phạt đối với những người có hành vi vi phạm như đã nêu trên.

Trong nghị định số 150/NĐ-CP đã nêu trên cũng như trong Nghị định số 76/2006/NĐ-CP ngày 02/8/2006  quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tư pháp đều chưa điều chỉnh nhóm hành vi vi phạm hành chính trong hoạt động tố tụng của Tòa án.

 

Trong Bộ luật Tố tụng Dân sự (BLTTDS) đã dành một chương (Chương XXXII) để quy định về việc xử lý các hành vi cản trở hoạt động tố tụng dân sự. Tuy nhiên, các hành vi vi phạm được liệt kê trong chương này cũng chỉ là số ít trong rất nhiều loại hành vi cản trở hoạt động tố tụng cần phải được xử lý và chương này cũng chỉ dừng lại ở những quy định chung mà theo Điều 390 BLTTDS thì “Thủ tục, thẩm quyền xử phạt, mức tiền phạt đối với các hành vi cản trở hoạt động tố tụng dân sự do UBTVQH quy đinh”. Như vậy, với quy định này thì UBTVQH phải ban hành một Pháp lệnh về xử phạt vi phạm hành chính đới với các hành vi cản trở hoạt động tố tụng dân sự. Tuy vậy, cho đến nay đã gần tròn 3 năm BLTTDS có hiệu lực thi hành nhưng pháp lệnh này vẫn chưa được ban hành (?).

 

Việc xử lý vi phạm hành chính là một trong những công cụ sắc bén, hữu hiệu và kịp thời nhất trong việc bảo đảm và giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo đảm thực hiện nền dân chủ và công bằng xã hội. Do đó, mỗi một khi pháp luật về xử lý vi phạm hành chính chưa được ban hành đầy đủ, đồng bộ hoặc không được thực thi nghiêm chỉnh thì hoạt động quản lý nhà nước sẽ kém hiệu lực và hiệu quả. Mong rằng các cơ quan, người có thẩm quyền trong các cơ quan nhà nước đừng để pháp luật bị coi thường.


Theo Báo
Pháp luật Việt Nam

Các tin tiếp
Các tin trước