Quản lý bằng pháp luật - trở ngại từ phía người dân
19:36' 27/8/2010
Ở nước ta, ngay bản thân tâm lý dân tộc từ ngàn năm nay cũng gây không ít khó khăn để hình thành và phát triển một tinh thần pháp quyền trong xã hội, khi mà mỗi người dân vừa biết tuân thủ pháp luật, vừa biết chủ động sử dụng pháp luật làm công cụ để bảo vệ những quyền lợi của chính mình.


“Phép vua thua lệ làng”

Các nhà nghiên cứu nhận xét, người Việt bắt đầu thực sự tiếp xúc với pháp luật khi chủ quyền đất nước rơi vào tay ngoại bang, pháp luật là công cụ nô dịch, áp bức và đồng hoá của ngoại bang. Trong bối cảnh như thế, ý thức chống đối nói chung đã chuyển thành ý thức chống lại pháp luật của Nhà nước cai trị ngoại bang, trở thành phản ứng tự nhiên của người Việt. Và đã hình thành nên tục lệ làng xã đối lập với pháp luật của chính quyền đô hộ suốt một ngìn năm. Một ngàn năm đủ để tạo nên lối sống không theo pháp luật trong tâm thức người Việt. “Với một di sản lịch sử như vậy, có thể nói mà không sợ sai là cho đến nay chúng ta chưa có được lối sống theo pháp luật”. Xin bổ sung: những mặt cứng nhắc của tư duy pháp lý XHCN, cộng với cách làm bao cấp, mệnh lệnh hành chính mấy chục năm càng khiến người dân xa rời với tinh thần pháp luật và chủ yếu sống theo lệ, chứ không theo luật. Sống theo “lệ làng” nên mới có chuyện như mấy hộ nông dân ở Hà Tây gần đây.

Ngại ra toà 

Trong nhận thức truyền thống của xã hội Việt Nam, pháp luật không phải là một cách giải quyết tranh chấp được ưa chuộng, người dân thích “tự xử” với nhau hơn là đưa nhau ra toà, câu “nhất đáo tụng đình” thể hiện thái độ của người dân đối với toà án, người ta coi chuyện ra toà là một cái gì đó ghê gớm, tổn hại thanh danh. Vì sao vậy?

Xã hội nước ta chịu nhiều ảnh hưởng của Nho giáo, mà theo Nho giáo thì đức trị vẫn được coi trọng hơn pháp trị. Bên cạnh đó, theo thuyết tam hoà, con người là mắt xích tạo nên sự hài hoà trong Thiên - Địa - Nhân, bởi vậy nếu con người xung đột với nhau sẽ phá hỏng mối quan hệ đó, nên người ta cố giải quyết ổn thoả với nhau chứ không ra toà. Ra toà bởi vậy là cách bất đắc dĩ, không hay.

Xã hội nước ta quen coi trọng lễ nghĩa, triết lý nhân quả và đức nhẫn nhịn, coi trọng và cẩn thận chăm sóc các mối quan hệ, giữ thể diện cho mình và cho nhau. Mặt khác, phần do thực tế xét xử và tranh tụng từ hàng nghìn năm nay không minh bạch và kém tin cậy, người dân nước ta dường như tin vào sự tự trừng phạt của lương tâm, đạo lý, trời đất hơn là sự phân xử của quan toà.

Đến thời Pháp thuộc, quyền tài sản của người bản xứ bị vi phạm nghiêm trọng, quyền kinh doanh và thu lợi được thâu tóm trong tay nhà buôn ngoại quốc khiến toà án dân sự và thương sự theo mô hình phương Tây trở nên xa lạ và đáng ghét, các thiết chế giải quyết tranh chấp phương Tây tuy được du nhập song đã không trở nên phổ biến ở nước ta.

Ngày nay, có những lúc vì lý do chính trị, xã hội mà công cụ pháp lý để giải quyết tranh chấp ít được dùng. Ví dụ, phá sản một doanh nghiệp lớn thường đe doạ đổ vỡ dây chuyền và thất nghiệp hàng loạt, uy hiếp trực tiếp tới ổn định tự xã hội. Hơn nữa, để che lấp dấu hiệu quản lý yếu kém, các cơ quan chủ quản từ trung ương đến địa phương đều né tránh việc doanh nghiệp thuộc quyền quản lý của mình bị thụ lý và tuyên bố phá sản.

Một nguyên nhân nữa là nhiều lúc toà án nước ta năng lực chưa đáp ứng thích đáng những đòi hỏi của thực tiễn. Chẳng hạn, cũng trong lĩnh vực phá sản doanh nghiệp, một khi thẩm phán, kiểm toán viên, quản trị viên, luật sư… chưa tích luỹ đủ kỹ năng tối thiểu cho cuộc “phẫu thuật” doanh nghiệp, căn bệnh mất khả năng thanh toán tất yếu sẽ được chữa trị bằng những thể chế và phương cách khác có hiệu quả hơn.

Do đó, điều dễ hiểu là tại sao người dân lại không thích viện đến toà án, thờ ơ với toà án, cả hai bên - bị đơn và nguyên đơn, bên thắng kiện và bên thua kiện đều có thái độ dè dặt với toà án. Trong tâm thức xã hội, việc sử dụng toà án nhiều lúc không được coi là cách thức giải quyết tranh chấp hợp lý nhất, hiệu quả nhất trong số các cách thức sẵn có. Bởi vậy mà chúng ta vẫn thường chứng kiến cảnh, không hiếm khi trong cơn lo sợ mất tài sản và thua thiệt, nhiều doanh nhân nước ta vẫn làm đơn kêu cứu gửi đi khắp nơi, từ cơ quan điều tra, uỷ ban nhân dân, các bộ quản lý ngành cho đến thanh tra, ví dụ năm 2003 có 17 doanh nghiệp xe máy kêu lên cả UBTV Quốc hội, nhưng lại bỏ qua toà án.

Không có nhu cầu đối với pháp luật

Nhu cầu thực sự đối với pháp luật xuất hiện chỉ khi người dân dùng đến pháp luật để bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình như một giải pháp hữu hiệu nhất. Tuy nhiên, nhu cầu đối với pháp luật nào, pháp luật thành văn hay khái niệm công lý trừu tượng? Nhu cầu đó thể hiện như thế nào trong các xã hội khác nhau?

Ở Việt Nam dường như chưa có sự tương thích trực tiếp giữa cung và cầu đối với pháp luật. Nếu cung là những quy phạm pháp luật duy lý du nhập từ các hệ thống pháp luật nước ngoài (ở đó chúng cũng vận hành một cách đặc biệt) mà không kèm theo việc xây dựng cơ chế thực thi thích hợp, thì cầu là cách nghĩ, lối sống truyền thống của xã hội về việc áp dụng pháp luật. Xã hội Việt Nam là một xã hội nông nghiệp điển hình, hiện nay đang đối mặt với thách thức hiện đại hoá và đuổi kịp các xã hội phát triển. Dấu hiện chung của những xã hội nông nghiệp ở châu Á, châu Phi và Mỹ Latinh (về mặt pháp luật) là sự cách biệt giữa luật tục truyền thống và pháp luật thực định (các đạo luật thành văn) mới du nhập từ nước ngoài. Hơn nữa, ở nước ta lại có cả những đặc điểm tâm lý, văn hoá pháp lý như nói ở trên, do đó mà có độ vênh nhau thường xuyên giữa các quy phạm pháp luật và thực tiễn, giữa nhà nước và xã hội trong việc sử dụng pháp luật. Trong bối cảnh đó, pháp luật và toà án giống như sức ép áp đặt từ bên ngoài và tách rời khỏi nhận thức truyền thống trong xã hội. Như vậy, từ khâu đầu tiên, các “sản phẩm” pháp luật đã không được ưa chuộng ngay trong nhận thức của xã hội và khó có thể nói về nhu cầu đối với pháp luật một khi trong xã hội - “người tiêu dùng” của pháp luật vẫn phổ biến nhận thức như vậy.

Nhu cầu thực sự đối với pháp luật từ phía xã hội dân sự - hiểu đúng nghĩa của nó - chỉ luôn luôn tồn tại khi pháp luật kết hợp cả ba yếu tố: công lý (yêu cầu của luật tự nhiên), tính pháp chế (yêu cầu của luật thành văn) và hiệu quả (yêu cầu của thực tiễn). Trên thực tế, những thước đo này có thể mâu thuẫn với nhau, giao thoa nhau hoặc thể hiện trong nhau. Ví dụ, pháp luật có thể công minh nhưng không phù hợp với các đạo luật hiện hành, cũng có thể hợp với những quy phạm thực định, nhưng lại không hiệu quả.

Có thể quan sát thấy hiện tượng xã hội sẽ chán luật, sợ luật, thờ ơ với luật và tìm kiếm những giải pháp khác. Ví dụ, những biểu hiện của tham nhũng, hối lộ, mãi lộ là những “tập quán” bán pháp lý như vậy; chúng tạo ra cơ chế hoàn chỉnh tự điều chỉnh các mối quan hệ xin - cho, phong bao giữa bộ máy quan liêu tham nhũng và người dân, doanh nghiệp mà không cần đến sự điều chỉnh của pháp luật. Hệ thống này (không xét đến mặt tốt hay xấu của nó) gồm những quy phạm ứng xử tồn tại song song với pháp luật và tỏ ra hiệu quả theo cách của mình, thậm chí có những trường hợp còn được “ưa” (nhưng không thích) hơn cả pháp luật.

Cần nhấn mạnh rằng thái độ tiêu cực đối với pháp luật và toà án phổ biến không chỉ trong đông đảo dân cư, mà cả trong bộ phận lớn của giới trí thức. Đông đảo dân cư không quan tâm đến tổ chức và hoạt động của toà án. Báo giới nói chung ít đả động đến hoạt động của toà án với mục đích phát triển pháp luật (cũng một phần vì tính chất khép kín của toà án), ít khi viết về những phán quyết quan trọng nhất của toà án xét từ góc độ pháp lý, và nếu có nhắc đến toà án thì nhiều lúc cũng vì tính chất giật gân.

Nhu cầu pháp luật như vậy khiến cho hiệu quả xã hội của việc áp dụng pháp luật trở về mo, hoặc trái ngược với ý đồ của nhà lập pháp, hoặc dẫn đến những hậu quả khiến xã hội nghi ngại pháp luật. Điều đó có nghĩa là xã hội đã ngầm chọn cho mình những luật nào chấp nhận được và luật nào không. Dạng thứ nhất (những luật thích hợp) có thể được sử dụng để đạt những mục đích thực dụng thuần tuý, dạng thứ hai - đơn giản là bị gạt sang một bên. Như vậy, những luật tỏ ra vô dụng đối với xã hội thực chất đã được huỷ bỏ vì bị “xếp xó”, thậm chí nếu về hình thức và chính thức vẫn có hiệu lực.

Nguyễn Đức Lam
Nguồn: Website Tạp chí Nhà Quản lý

Các tin tiếp
Các tin trước