Án lệ hay không án lệ?
17:3' 11/9/2010
Câu hỏi trên đã được giới chuyên môn đặt ra từ lâu. Việc nó cứ bị tranh luận mãi mà chưa ngã ngũ đã là một điều đáng ngạc nhiên. Nay Tòa án Nhân dân tối cao đề nghị áp dụng nguyên tắc án lệ cho công tác xét xử, nhưng Ủy ban Tư pháp của Quốc hội lại không đồng tình, lại là một ngạc nhiên nữa vì câu trả lời nằm ngay ở sự không nhất trí này.

Án lệ là các quyết định xét xử của thẩm phán cho từng trường hợp tranh chấp cụ thể. Nó được hình thành ở Anh quốc vào thời kỳ các thẩm phán không có những điều luật ghi thành văn bản mà chỉ có thể dựa vào các qui tắc đạo lý, tập tục bất thành văn trong xã hội để phân xử. Phán quyết của thẩm phán có hiệu lực bắt buộc đối với những tranh chấp có các tình tiết tương tự cho thời gian sau. Án lệ có một ý nghĩa quan trọng giúp người dân dự đoán được hậu quả pháp lý đối với những hành vi trong tương lai của mình (Nhưng Luật thành văn làm điều này còn tốt hơn). Chưa cần xét đến các điều kiện để một phán quyết được coi như một án lệ cũng như một hệ thống tư pháp đặc biệt để hiểu chỉnh các án lệ, thì việc ngày nay tuyệt đại đa số các quốc gia đều có luật thành văn, khiến câu hỏi nên áp dụng nguyên tắc án lệ hay không đã trở nên không cần thiết. Hiện nay, ngay tại Anh quốc và Mỹ nguyên tắc án lệ đã dần dần nhường chỗ cho nguyên tắc kết hợp giữa án lệ và áp dụng lý giải điều luật của hệ thống Luật thành văn.

Giả sử chúng ta áp dụng nguyên tắc án lệ thì sao? Trình độ thẩm phán của ta còn thấp, tỷ lệ án sai, án oan, án phải sửa còn cao là điều ai cũng biết. Không lẽ các bản án đó sẽ là chuẩn mực án lệ cho các vụ việc trong tương lai sao? Muốn áp dụng được nguyên tắc án lệ, phải có những thẩm phán thực sự là thẩm phán.

Nhà nước pháp quyền bảo đảm và tạo điều kiện để thẩm phán làm việc chỉ theo lương tâm và các điều luật. Họ được hoàn toàn tự do trong đánh giá, nhận định và quyết định xử lý vụ việc mà không bị ràng buộc phải tuân theo bất kỳ một bản án nào trước đó. Tuy nhiên, là con người chứ không phải thánh sống, thẩm phán vẫn có thể phạm sai lầm. Vì vậy họ cần phải được giúp đỡ qua hai con đường: 1) qua các bản án cho những trường hợp tương tự để tham khảo về cách vận dụng luật giải quyết các vấn đề chung, cơ bản là giống nhau (giống án lệ); 2) qua ý kiến của giới chuyên môn, của các nhà khoa học về Luật pháp để tham khảo cách vận dụng luật phù hợp với các tình tiết thực tế khác nhau đối với mỗi trường hợp cụ thể (áp dụng luật trên cơ sở và khuôn khổ các điều luật). Trên cơ sở hai nguồn luật này, thẩm phán sẽ ra quyết định xử lý của chính mình. Đối với chúng ta, sự kết hợp giữa án lệ và vận dụng điều luật của Luật thành văn như thế cũng là một cách rất hiệu quả giúp thẩm phán nhanh chóng nâng cao trình độ của mình.

Hiện nay, kết hợp nguyên tắc án lệ và cách lý giải, vận dụng điều luật trong hệ thống Luật thành văn như nói ở trên hiện là nguyên tắc phổ biến ở đa số các nước. Tùy đặc điểm riêng của mỗi nước, người ta có thể qui định bản án của cấp Tòa án nào là bản án mang ý nghĩa định hướng cho công tác xét xử. Ở ta, có thể đó là bản án của Tòa án nhân dân tối cao.

Mục d, khoản 1, Điều 38 Qui chế của Tòa án Quốc tế qui định: „ phán quyết của Tòa án dựa trên hai nguồn luật là các quyết định của thẩm phán (tức giống như án lệ, ND) và những ý kiến được công nhận của các nhà luật học.“ Chúng ta rất nên tiếp thu kinh nghiệm quí báu này của quốc tế, nếu muốn hội nhập thành công và-như mong muốn của Tòa án Nhân dân tối cao- tạo sự tin tưởng của cộng đồng quốc tế.

Nguồn: Báo Tuổi trẻ  điện tử

Các tin tiếp
Các tin trước