Những bất cập trong các quy định về tố cáo và giải quyết tố cáo
18:34' 2/10/2010
Còn mâu thuẫn giữa các quy định pháp luật đối với việc xử lý đơn thư tố cáo nặc danh. Ảnh: minh hoạ
Về mặt pháp luật hiện nay chúng ta đang tồn tại cùng lúc nhiều cơ chế trong khi đối tượng xử lý có rất nhiều nguy cơ trùng nhau (đều có thể là cán bộ, công chức là đảng viên) cho nên việc trùng chéo giữa các yếu tố của cơ chế, sự kém hiệu quả trong công tác giải quyết là tất yếu và đây chính là điều mà chúng ta cần phải nghiên cứu để có những giải pháp triệt để.

Có nhiều cách tiếp cận khác nhau nhưng đại thể cơ chế giải quyết tố cáo là phương thức các cơ quan nhà nước tiếp nhận và giải quyết các tố cáo của công dân. Nó bao gồm các quy định những vấn đề về thẩm quyền và trách nhiệm, trình tự và thủ tục; về mối quan hệ giữa các cơ quan, tổ chức... trong một chu trình giải quyết một vụ việc tố cáo.

Về mặt pháp luật hiện nay chúng ta đang tồn tại cùng lúc nhiều cơ chế trong khi đối tượng xử lý có rất nhiều nguy cơ trùng nhau (đều có thể là cán bộ, công chức là đảng viên) cho nên việc trùng chéo giữa các yếu tố của cơ chế, sự kém hiệu quả trong công tác giải quyết là tất yếu và đây chính là điều mà chúng ta cần phải nghiên cứu để có những giải pháp triệt để.

1. Về cơ chế giải quyết tố cáo chung: Những quy định của Luật Khiếu nại, tố cáo về vấn đề này được coi như văn bản “gốc” để xác định cách thức giải quyết mọi tố cáo. Chính vì tính chất chung như vậy cho nên Luật chỉ có thể đưa ra những quy định chung nhất về tiếp nhận và xử lý đơn thư tố cáo và nhất là việc xác định thẩm quyền theo những nguyên tắc nhất định.

 
Điều 59 - Luật Khiếu nại, tố cáo quy định: “Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật mà người bị tố cáo thuộc thẩm quyền quản lý của cơ quan, tổ chức nào thì cơ quan, tổ chức đó có trách nhiệm giải quyết.
Tố cáo hành vi vi phạm quy định về nhiệm vụ, công vụ của người thuộc cơ quan, tổ chức nào thì người đứng đầu cơ quan, tổ chức đó có trách nhiệm giải quyết.
 
Tố cáo hành vi vi phạm quy định về nhiệm vụ, công vụ của người đứng đầu cơ quan, tổ chức nào thì người đứng đầu cơ quan, tổ chức cấp trên trực tiếp của cơ quan, tổ chức đó có trách nhiệm giải quyết.
 
Điều 60 quy định: “Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật mà nội dung liên quan đến chức năng quản lý nhà nước của cơ quan nào thì cơ quan đó có trách nhiệm giải quyết.
 
Tố cáo hành vi phạm tội do các cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự”.
 
Có thể thấy rằng phần quy định về tố cáo trong Luật Khiếu nại, tố cáo hiện nay còn rất nghèo nàn. Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1989 đã qua hai lần sửa đổi vào các năm 2004 và 2005 nhưng cả hai lần, nội dung sửa đổi đều chỉ liên quan đến phần khiếu nại, còn phần tố cáo thì không được “đụng” đến, đơn giản vì chẳng thể quy định gì hơn những cái đã có, đó là những nguyên tắc về thẩm quyền. Quy định về thẩm quyền và trách nhiệm của các tổ chức Thanh tra trong Luật cũng trở nên lạc lõng, vì thực tế, Thanh tra chỉ giúp thủ trưởng xem xét các tố cáo thuộc phạm vi thẩm quyền của thủ trưởng cơ quan hành chính, vả lại khi Luật quy định mọi loại tố cáo thì tại sao lại quy định trách nhiệm xem xét cho một loại tố cáo mà thôi?
 
2. Về cơ chế giải quyết tố cáo trong Luật Phòng, chống tham nhũng và các văn bản hướng dẫn thi hành: Trong Luật Phòng, chống tham nhũng, những quy định về tố cáo và giải quyết tố cáo như là một trong những giải pháp nhằm phát huy vai trò của công dân trong việc nâng cao hiệu quả phát hiện tham nhũng, gồm 4 Điều, từ Điều 64 đến Điều 67. Những quy định này hoàn toàn không có gì khác so với quy định của Luật Khiếu nại, tố cáo. Những quy định trong Nghị định 120/2006/NĐ-CP (Nghị định 120)  hướng dẫn thi hành Luật Phòng, chống tham nhũng cũng chỉ cụ thể hóa các hình thức tố cáo để tạo thuận lợi cho người tố cáo chứ cũng không đưa ra những quy định về việc phân định thẩm quyền giải quyết tố cáo. Một điểm duy nhất hiện nay có sự không thống nhất giữa Nghị định 120 và Nghị định 136/2006/NĐ-CP (Nghị định 136) hướng dẫn thi hành Luật Khiếu nại, tố cáo là không xem xét đơn thư tố cáo nặc danh.
 
Nếu Nghị định 136 quy định: “Những tố cáo về hành vi tham nhũng mà người tố cáo mạo tên, nội dung tố cáo không rõ ràng, thiếu căn cứ, những tố cáo đã được cấp có thẩm quyền giải quyết nay tố cáo lại nhưng không có bằng chứng mới thì không được xem xét, giải quyết”, thì khoản 4, Điều 43 Nghị định 120 lại quy định “Đối với những tố cáo không rõ họ, tên, địa chỉ người tố cáo nhưng nội dung tố cáo rõ ràng, bằng chứng cụ thể, có cơ sở để thẩm tra, xác minh thì các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền nghiên cứu, tham khảo thông tin được cung cấp để phục vụ công tác phòng, chống tham nhũng”.
 
Dù giải thích thế nào đi chăng nữa thì rõ ràng có sự mâu thuẫn giữa hai quy định này đối với việc xử lý đơn thư tố cáo nặc danh.

3. Về cơ chế giải quyết tố cáo trong pháp luật về tố tụng hình sự: Điều 3 Bộ luật Hình sự quy định: “Công dân có thể tố giác tội phạm với cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án hoặc với cơ quan, tổ chức khác.

 
Cơ quan, tổ chức khi phát hiện hoặc nhận được tố giác của công dân phải báo tin ngay về tội phạm cho cơ quan điều tra bằng văn bản”.
 
Bộ luật này đưa ra những quy định cụ thể để xử lý tố giác và tin báo tội phạm. Thực ra giữa tố giác, tin báo về tội phạm với tố cáo chỉ khác nhau ở một điểm: tố cáo thì đối tượng là mọi hành vi vi phạm pháp luật, còn tố giác và tin báo về tội phạm thì đối tượng chỉ bao gồm tội phạm, hành vi vi phạm pháp luật có tính nguy hiểm cao và được quy định trong Bộ luật hình sự. Nhưng xác định hành vi vi phạm đến mức nào là tội phạm là vấn đề cực kỳ khó khăn nhất là đối với người dân đi tố cáo hay tố giác. Với quy định như hiện nay, khi phát hiện một hành vi vi phạm pháp luật, người dân hoàn toàn có thể thực hiện việc tố cáo theo quy định của Luật Khiếu nại, tố cáo mà cũng có thể tố giác theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự mà giữa quy định trong hai văn bản này lại có nhiều điểm không thống nhất. Đây có thể coi là một trong những nguyên nhân gây ra sự chồng chéo trong hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng.
 
4. Giải quyết tố cáo đối với đảng viên: Về nguyên tắc, đảng viên bị tố cáo khi vi phạm điều lệ Đảng và thuộc thẩm quyền giải quyết của Ủy ban kiểm tra hoặc các cấp ủy Đảng. Tuy nhiên, hiện nay, nhiều cán bộ, công chức lại là đảng viên và theo quy định thì vi phạm pháp luật cũng là vi phạm điều lệ Đảng. Như vậy, một sai phạm của đảng viên hoàn toàn có thể bị tố cáo đến các cơ quan nhà nước (cơ quan quản lý hoặc tố giác với cơ quan tiến hành tố tụng) và cũng đồng thời có thể bị tố cáo đến cơ quan kiểm tra của Đảng. Điều này lại làm phát sinh thêm sự chồng chéo về thẩm quyền giữa cơ quan nhà nước và cơ quan Đảng trong việc giải quyết tố cáo đối với cán bộ, công chức là đảng viên. Để xử lý vấn đề này, một số văn bản đã được quy định, chẳng hạn như Quy định số 52/QĐ-TW ngày 05 tháng 5 năm 1999 của Ban chấp hành Trung ương Đảng về giải quyết tố cáo đối với đảng viên thuộc diện Trung ương quản lý, tiếp đó là Quy chế số 79-QC/KTTW ngày 09 tháng 5 năm 2000 của Ủy ban kiểm tra Trung ương về phối hợp giải quyết tố cáo đối với đảng viên thuộc diện Trung ương quản lý. Tuy nhiên, trên thực tế các văn bản này đã bộc lộ sự bất cập và hiện nay đang được nghiên cứu sửa đổi cho phù hợp.
 
Có thể nói, những bất cập của cơ chế giải quyết tố cáo hiện nay đang dẫn đến những sự chồng chéo, trùng lặp trong hoạt động của các cơ quan nhà nước khi xử lý các loại đơn thư này. Nhu cầu nghiên cứu sửa đổi quy định liên quan đến việc tiếp nhận và xử lý các vụ việc tố cáo là tất yếu. Việc tách khiếu nại, tố cáo ra thành hai vấn đề để xử lý cho phù hợp là một quyết định cần thiết. Tuy nhiên có nên xây dựng một đạo luật riêng về tố cáo hay không thì lại là việc phải cân nhắc./.
Đinh Văn Minh - Phó Viện trưởng Viện khoa học Thanh tra
Các tin tiếp
Các tin trước