Luật Cạnh tranh
14:48' 15/2/2008
Luật cạnh tranh được Quốc hội Khoá XI, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 3/12/2004. Luật gồm 123 Điều với 6 Chương. Sau đây chúng tôi xin giới thiệu một số nội dung cơ bản của Luật cạnh tranh.

Luật cạnh tranh được Quốc hội Khoá XI, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 3/12/2004. Luật gồm 123 Điều với 6 Chương. Sau đây chúng tôi xin giới thiệu một số nội dung cơ bản của Luật cạnh tranh.

I. SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH LUẬT CẠNH TRANH

          1. Nhu cầu điều tiết nền kinh tế thị trường bằng một hệ thống văn bản quy pham pháp luật. 
          Cạnh tranh không diễn ra trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung nhưng lại là yếu tố quan trọng trong nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường, là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế. Nước ta đã thực hiện đường lối đổi mới chuyển đổi nền kinh tế sang vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Sự phát triển kinh tế theo cơ chế thị trườngđã xuất hiện một số hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh, gây ảnh hưởng không tốt đến nền kinh tế. Trong khi đó, chúng ta chưa có hệ thống văn bản điều chỉnh các quan hệ cạnh tranh.

          - Các đối thủ cạnh tranh thoả thuận ngăn cản không cho doanh nghiệp khác tham gia kinh doanh, mở rộng hoạt động, ứng dụng công nghệ mới, ấn định sản lượng, tẩy chay không cung cấp sản phẩm hoặc dịch vụ. Giá một số mặt hàng như điện tử, nông sản bị thao túng và khống chế vào một vài thời điểm bởi số người kinh doanh liên kết với nhau.
          - Các hành vi lạm dụng ưu thế của các doanh nghiệp chi phối thị trường đang diễn ra như độc quyền mua với giá thấp, độc quyền bán với giá cao hoặc bán với giá thấp hơn vốn để loại trừ đối thủ cạnh tranh.

          2. Nhu cầu kiểm soát độc quyền, đặc biệt là khi mở cửa thị trường để hội nhập kinh tế quốc tế 
          Độc quyền trong kinh doanh dù hình thành và tồn tại bằng cách nào cũng đều gây hậu quả tiêu cực cho nền kinh tế quốc dân. Độc quyền trong kinh doanh dẫn đến hình thành giá cả độc quyền, giá cả lũng đoạn ảnh hưởng đến lợi ích của người tiêu dùng. ở hầu hết các nước đều tồn tại các loại độc quyền tự nhiên, độc quyền nhà nước. ở nước ta, với xuất phát điểm thấp và một số đặc điểm nội tại của nền kinh tế- xã hội, trong thời gian tới, sẽ vẫn còn một số ngành và lĩnh vực tồn tại độc quyền nhà nước. Tuy nhiên, thông qua các quy định của Luật cạnh tranh, Nhà nước cần có cơ chế kiểm soát nhằm hạn chế hiện tượng cửa quyền, lũng đoạn, lạm dụng vị trí độc quyền để tránh gây hậu quả xấu cho xã hội.

          Bên cạnh đó, cùng với quá trình mở cửa thị trường thông qua việc ký kết và gia nhập các hiệp định thương mại song phương và đa phương, đã và sẽ xuất hiện các công ty đa quốc gia hoạt động tại Việt Nam. Những công ty này, với sức mạnh kinh tế của mình, có khả năng tạo lập được vị thế độc quyền và trong bối cảnh đó, các doanh nghiệp nội địa Việt Nam với tiềm lực hạn chế đang bị loại dần khỏi đời sống kinh tế. Tình trạng loại bỏ đối thủ để chiếm đoạt thị trường, thiết lập vị thế độc quyền diễn ra với mức độ nghiệm trọng như có những công ty đem hàng trăm tấn sản phẩm để biếu hoặc bán phá giá làm cho không một doanh nghiệp trong nước nào có đủ tiềm lực kinh tế để duy trì hoạt động sản xuất bình thường. Do đó, việc chuẩn bị các cơ sở pháp lý để kiểm soát độc quyền trong kinh doanh là điều cần thiết.

          3. Thiết lập và duy trì một môi trường kinh doanh bình đẳng
          Mặc dù Hiến pháp năm 1992 chính thức thừa nhận sự tồn tại của các thành phần kinh tế và khẳng định quyền bình đẳng giữa các thành phần kinh tế trước pháp luật nhưng khi thực hiện, nhiều cơ quan nhà nước đã không thực sự tuân thủ quy định này. Tình trạng phân biệt đối xử giữa các thành phần kinh tế, đặc biệt là giữa doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiêp khu vực tư nhân khá phổ biến. Bên cạnh đó, do quyền lợi địa phương, cục bộ, một số cơ quan nhà nước bằng mệnh lệnh hành chính của mình gián tiếp can thiệp vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, tạo lợi thế cho một hay một số doanh nghiệp vẫn đang diễn ra. Tình trạng đó làm xuất hiện những rào cản thương mại ngay trên chính thị trường nội địa như theo cách “ chỉ được mua xi măng của tỉnh nhà trong xây dựng”...
          Vì vậy, việc ban hành Luật cạnh tranh với các chế tài nghiêm khắc đối với các hành vi làm ảnh hưởng xấu đến môi trường kinh doanh bình đẳng là rất cần thiết.

II. MỤC TIÊU VÀ NGUYÊN TẮC CHỈ ĐẠO VIỆC SOAN THẢO  LUẬT CẠNH TRANH 
     
Việc ban hành Luật cạnh tranh nhằm các mục tiêu chủ yếu sau đây:
·     Tạo cơ hội bình đẳng, không phân biệt đối xử, các doanh nghiệp được tự do cạnh tranh trong khuôn khổ pháp luật;
·     Nhà nước bảo vệ quyền cạnh tranh hợp pháp trong kinh doanh, khuyến khích cạnh tranh lành mạnh;
·     Ngăn chặn hành vi phi cạnh tranh, hạn chế cạnh tranh, cạnh tranh không lành mạnh;
·     Việc cạnh tranh phải được thực hiện theo nguyên tắc trung thực, không xâm phạm đến vệ lợi ích quốc gia, quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, doanh nghiệp và người tiêu dùng;
·     Thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội. 2. Nguyên tắc chỉ đạo việc soạn thảo luật
·     Quán triệt sâu sắc và thể chế hoá đấy đủ các đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng trong việc phát triển nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa;
·     Kiểm soát độc quyền một cách hiệu quả;
·     Đảm bảo tính thống nhất với các quy định của pháp luật Việt Nam.
 
III.  NỘI DUNG CHỦ YẾU CỦA LUẬT CẠNH TRANH

1. Phạm vi điều chỉnh của Luật cạnh tranh (Điều 1)
Luật cạnh tranh hướng tới điều chỉnh các hành vi gây hạn chế cạnh tranh, hành vi cạnh tranh không lành mạnh, trình tự, thủ tục giải quyết vụ việc cạnh tranh, biện pháp xử lý vi phạm pháp luật về cạnh tranh.
 
2. Đối tượng áp dụng (Điều 2)
Đối tượng áp dụng của Luật cạnh tranh bao gồm:
- Tổ chức, cá nhân kinh doanh, hiệp hội ngành nghề trên thị trường;
- Doanh nghiệp và hiệp hội ngành nghề nước ngoài hoạt động ở Việt Nam;
- Doanh nghiệp đặc thù trong lĩnh vực an ninh, quốc phòng sản xuất, cung ứng sản phẩm dịch vụ công ích, hoạt động trong các ngành, lĩnh vực thuộc độc quyền nhà nước.

3. Hành vi hạn chế cạnh tranh
3.1.  Thoả thuận hạn chế cạnh tranh
Thoả thuận hạn chế cạnh tranh là thoả thuận giữa các doanh nghiệp, doanh nghiệp với hiệp hội ngành nghề, các hiệp hội ngành nghề, trong hiệp hội ngành nghề, bằng lời nói, văn bản và các hình thức khác, có khả năng làm giảm, ngăn cản, kìm hãm, sai lệch cạnh tranh trên thị trường.
- Các thoả thuận hạn chế cạnh tranh bao gồm(Điều 8):
+ Thỏa thuận ấn định giá hàng hoá, dịch vụ một cách trực tiếp hoặc gián tiếp;
+ Thoả thuận phân chia thị trường tiêu thụ, nguồn cung cấp hàng hoá, cung ứng dịch vụ;
+ Thoả thuận hạn chế, kiểm soát số lượng, khối lượng sản xuất, mua bán hàng hoá dịch vụ;
+ Thoả thuận hạn chế phát triển kỹ thuật, công nghệ, hạn chế đầu tư;
+ Thoả thuận áp đặt cho doanh nghiệp  khác điều kiện ký kết hợp đồng mua bán hàng hoá, dịch vụ hoặc buộc doanh nghiệp khác chấp nhận các nghĩa vụ không liên quan trực tiếp đến đối tượng của hợp đồng;
+ Thoả thuận ngăn cản, kìm hãm doanh nghiệp khác tham gia thị trường;
+ Thoả thuận loại bỏ khỏi thị trường những doanh nghiệp không phải là các bên thoả thuận;
+ Thông đồng để một hoặc các bên thoả thuận thắng thầu trong việc cung cấp hàng hoá, cung ứng dịch vụ;
- Các thoả thuận bị cấm tuyệt đối: (Điều 9)
+ Thông đồng trong đấu thầu;
+ Thoả thuận ngăn cản doanh nghiệp khác tham gia vào thị trườn;g
+ Thoả thuận loại khỏi thị trường các doanh nghiệp không nằm trong thoả thuận.
- Các thoả thuận bị cấm có điều kiện: cấm khi tổng thị phần của các doanh nghiệp tham gia thoả thuận >=30% thị phần trên thị trường liên quan (các thoả thuận còn lại).

3.2.Lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường
- Doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh: (Điều 11) Doanh nghiệp được coi là có vị trí thống lĩnh nếu có thị phần >= 30% trên thị trường có liên quan hoặc có khả năng gây hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể.
- Nhóm doanh nghiệp được coi là có vị trí thống lĩnh thị trường nếu cùng hành động nhằm gây hạn chế cạnh tranh và thuộc một trong các trường hợp sau:
+ Hai doanh nghiệp có tổng thị phần từ  50% trở lên trên thị trường liên quan;
+ Ba doanh nghiệp có tổng thị phần từ 65% trở lên trên thị trường liên quan;
+ Bốn doanh nghiệp có tổng thị phần từ 75% trở lên trên thị trường có liên quan.
- Các hành vi bị coi là lạm dụng vị trí thống lĩnh bị cấm (Điều 13)
+ Bán hàng hoá, cung cấp dịch vụ dưới giá thành toàn bộ nhằm loại bỏ đối thủ cạnh tranh;
+ áp đặt giá mua, bán hàng hoá, dịch vụ bất hợp lý; ấn định giá bán lại tối thiểu gây thiệt hại cho khách hàng;
+ Hạn chế sản xuất, phân phối, giới hạn thị trường, cản trở sự phát triển kỹ thuật làm thiệt hại cho khách hàng;
+ áp dụng điều kiện thương mại khác nhau cho những doanh nghiệp khác nhau với những giao dịch như nhau;
+ áp đặt điều kiện ký kết hợp đồng mua bán hàng hoá, dịch vụ;
+ Ngăn cản việc tham gia thị trường của đối thủ cạnh tranh.

3.3. Lạm dụng vị trí độc quyền
- Doanh nghiệp được coi là có vị trí độc quyền nếu không có doanh nghiệp nào cạnh tranh về hàng hoá, dịch vụ mà doanh nghiệp độc quyền kinh doanh trên thị trường liên quan.
          - Các hành vi lạm dụng vị trí độc quyền bị cấm:
          + Các hành vi quy định tại Điều 13 nói trên;
          + áp đặt các điều kiện bất lợi cho khách hàng;
          + Lợi dụng vị trí độc quyền để đơn phương thay đổi hoặc huỷ bỏ hợp đồng giao kết mà không có lý do thoả đáng.

3.4. Tập trung kinh tế
- Tập trung kinh tế là:
+ Chuyển quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng toàn bộ tài sản, quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp khác.
+ Chuyển quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng một phần tài sản, quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp khác đủ để kiểm soát hoặc chi phối có tính quyết định đến doanh nghiệp đó.
- Các hình thức tập trung kinh tế
+ Sáp nhập doanh nghiệp;
+ Hợp nhất doanh nghiệp;
+ Mua lại doanh nghiệp;
+ Liên doanh giữa các doanh nghiệp;
+ Các hành vi tập trung kinh tế khác theo quy định của pháp luật.
- Trường hợp tập trung kinh tế bị cấm (Điều 18): Cấm tập trung kinh tế nếu thị phần kết hợp của các doanh nghiệp tham gia tập trung kinnh tế chiếm trên 50% trên thị trường liên quan, trừ trường hợp quy định tại Điều 19 của Luật này hoặc trường hợp doanh nghiệp sau khi thực hiện tập trung kinh tế vẫn thuộc loại doanh nghiệp nhỏ và vừa theo quy định của pháp luật.
- Trường hợp miễn trừ đối với tập trung kinh tế bị cấm: Tập trung kinh tế thuộc diện bị cấm được miễn trừ trong các trường hợp sau đây:
+ Một hoặc nhiều bên tham gia tập trung kinh tế đang trong nguy cơ bị giải thể hoặc lâm vào tình trạng phá sản;
+ Việc tập trung kinh có tác dụng mở rộng xuất khẩu hoặc góp phần phát triển kinh tế- xã hội, tiến bộ kỹ thuật, công nghệ.

3.5. Thủ tục thực hiện các trường hợp miễn trừ
- Thẩm quyền quyết định việc miễn trừ:
+ Bộ trưởng Bộ Thương mại xem xét, quyết định việc miễn trừ bằng văn bản quy định tại Điều 10 và Khoản 1 Điều 19;
+ Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định miễn trừ bằng văn bản quy định tại Khoản 2 Điều 19.
- Đối tượng nộp hồ sơ đề nghị hưởng miễn trừ là các bên dự định tham gia thoả thuận hạn chế cạnh tranh hoặc tập trung kinh tế.
 
4. Hành vi cạnh tranh không lành mạnh (Chương III)
Các hành vi cạnh tranh không lành mạnh được chia làm 3 nhóm:

4.1. Nhóm 1: Xâm hại lợi ích của đối thủ cạnh tranh
          + Sử dụng chỉ dẫn gây nhầm lẫn và kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có sử dụng chỉ dẫn gây nhầm lẫn
          + Xâm phạm bí mật kinh doanh;
          + Ép buộc trong kinh doanh;
          + Gièm phe doanh nghiệp khác;
          + Gây rối hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác

4.2. Nhóm 2: Xâm hại lợi ích của khách hàng
          + Quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh;
          + Khuyến mại cạnh tranh không lành mạnh;
          + Bán hàng đa cấp bất chính

4.3. Nhóm 3: Can thiệp vào môi trường cạnh tranh
          + Hành vi phân biệt đối xử của hiệp hội.

5. Nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan quản lý cạnh tranh
5.1. Mô hình tổ chức của cơ quan quản lý cạnh tranh
Cơ quan quản lý cạnh tranh ở Việt Nam là Cục quản lý cạnh tranh - Bộ Công thương

5.2. Nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan quản lý cạnh tranh (Điều 49)
          - Kiểm soát quá trình tập trung kinh tế theo quy định của Luật cạnh tranh;
          - Thụ lý hồ sơ đề nghị hưởng miễn trừ, đề xuất ý kiến để Bộ trưởng Bộ trưởng Bộ Thương mại quyết định hoặc trình Thủ tướng Chính phủ quyết định;
          - Điều tra các vụ việc cạnh tranh liên quan đến hành vi hạn chế cạnh tranh và hành vi cạnh tranh không lành mạnh;
          - Xử lý, xử phạt hành vi cạnh tranh không lành mạnh;
          - Các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật.
Lưu ý:  Hội đồng cạnh tranh (Không phải là cơ quan quản lý cạnh tranh)
- Hội đồng cạnh tranh do Chính phủ thành lập
- Nhiệm vụ của Hội đồng cạnh tranh: tổ chức xử lý giải quyết khiếu nại đối với các vụ việc cạnh tranh liên quan đến hành vi hạn chế cạnh tranh theo quy định của Luật cạnh tranh
- Hoạt động của Hội đồng cạnh tranh:
+ Khi giải quyết vụ việc cạnh tranh, Hội đồng cạnh tranh hoạt động độc lập và chỉ tuân theo pháp luật
+ Biểu quyết theo đa số, trường hợp số phiếu ngang nhau thì quyết định theo ý kiến của Chủ toạ phiên điều trần 

6. Trình tự, thủ tục giải quyết vụ việc cạnh tranh

6.1. Một số vấn đề chung
- Nguyên tắc tố tụng cạnh tranh (Điều 56) bao gồm 3 nguyên tắc:
+ Việc giải quyết vụ việc cạnh tranh liên quan đến  hành vi hạn chế cạnh tranh thực hiện theo quy định của Luật cạnh tranh;
+ Việc giải quyết vụ viêc cạnh tranh liên quan đến hành vi cạnh tranh không lành mạnh thực hiện theo quy định của luật cạnh tranh và pháp luật về xử lý vi phạm hành chính;
+ Trong quá trình tiến hành tố tụng cạnh tranh, điều tra viên, Thủ tưởng cơ quan quản lý cạnh tranh, thành viên Hội đồng cạnh tranh trong phạm vi, quyền hạn của mình phải giữ bí mật kinh doanh của doanh nghiệp, tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức có liên quan.
          - Áp dụng các biện pháp ngăn chặn hành chính (Điều 61) Thủ trưởng cơ quan quản lý cạnh tranh, Chủ tịch Hội đồng cạnh tranh có quyền áp dụng một số biện pháp ngăn chặn hành chính theo quy định về xử lý vi phạm hành chính trong trường hợp quy đinh tại khoản 6 Điều 76 và khoản 4 Điều 79 của Luật cạnh tranh.
          - Người tham gia tố tụng cạnh tranh (Điều 64) Người tham gia tố tụng cạnh tranh bao gồm bên khiếu nại, bên bị điều tra, luật sư, người làm chứng, người giám định, người phiên dịch, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.
          - Cơ quan tiến hành tố tụng cạnh tranh bao gồm cơ quan quản lý cạnh tranh và Hội đồng cạnh tranh.
-  Người tiến hành tố tụng cạnh tranh bao gồm thành viên Hội đồng cạnh tranh, Thủ trưởng cơ quan quản lý cạnh tranh, điều tra viên, thư ký phiên điều trần.
- Thẩm quyền giải quyết các vụ việc cạnh tranh
+ Cơ quan quản lý cạnh tranh: Xem quy định tại Điều 49 nói trên
+ Hội đồng cạnh tranh: Hội đồng cạnh trạnh có nhiệm vụ tổ chức xử lý, giải quyết khiếu nại đối với các vụ việc cạnh tranh liên quan đến hành vi hạn chế cạnh tranh theo quy định của lluật này
- Hiệu lực của quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh (Điều 106): Quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh có hiệu lực pháp luật sau ba mươi ngày, kể từ ngày ký, nếu trong thời hạn đó không bị khiếu nại theo quy định tại Điều 107 của Luật cạnh tranh.
- Trách nhiệm chịu phí xử lý vụ việc cạnh tranh (Điều 63): Bên bị kết luận vi phạm quy định của Luật cạnh tranh phải trả phí xử lý vụ việc cạnh tranh. Trường hợp bên bị điều tra không vi phạm quy định của Luật này thì bên khiếu nại phải trả phí xử lý vụ việc cạnh trạnh.
Trong trường hợp việc điều tra vụ việc cạnh tranh được tiến hành theo quy định tại khoản 2 Điều 65 của Luật này, nếu bên bị điều tra không vi phạm quy định của Luật cạnh tranh thì cơ quan quản lý cạnh tranh phải chịu phí xử lý vụ việc cạnh tranh. 

6.2. Trình tự, thủ tục giải quyết vụ việc cạnh tranh
          - Khiếu nại vụ việc cạnh tranh (Điều 58): Tổ chức, cá nhân có quyền khiếu nại đến cơ quan quản lý cạnh tranh nếu cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm do hành vi vi phạm quy định của Luật cạnh tranh.
          Bên khiếu nại phải chịu trách nhiệm về tính trung thực của các chứng cứ đã cung cấp cho cơ quan quản lý cạnh tranh.
          - Thụ lý hồ sơ khiếu nại (Điều 59): Cơ quan quản lý cạnh tranh có trách nhiệm thụ lý hồ sơ khiếu nại. Cơ quan quản lý cạnh tranh có trách nhiệm thông báo cho bên khiếu nại về việc thụ lý hồ sơ trong thời hạn 7 ngày làm việc, kể từ ngày tiếp nhận hồ sơ.
          - Điều tra vụ việc cạnh tranh (Mục 4)
          + Điều tra sơ bộ: Việc điều tra sơ bộ được tiến hành theo quyết định của Thủ trưởng cơ quan quản lý cạnh tranh khi hồ sơ vụ việc khiếu nại được cơ quan quản lý cạnh tranh thụ lý và phát hiện có dấu hiệu vi phạm luật này.
          Thời hạn điều tra sơ bộ là 30 ngày, kể từ ngày có quyết định điều tra sơ bộ.  Kết thúc điều tra sơ bộ, Thủ trưởng cơ quan quản lý cạnh tranh phải ra quyết định đình chỉ điều tra hoặc điều tra chính thức.
          + Điều tra chính thức:
          Đối với vụ việc thoả thuận hạn chế cạnh tranh, lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, lạm dụng vị trí độc quyền hoặc tập trung kinh tế, nội dung điều tra bao gồm: xác minh thị trường liên quan, xác minh thị phần trên thị trường liên quan đến bên bị điều tra, thu thập và phân tích chứng cứ về hành vi vi phạm. Thời hạn điều tra là 180 ngày, trong trường hợp cần thiết Thủ trưởng cơ quan quản lý cạnh tranh có thể gia hạn nhưng không quá 2 lần, mỗi lần không quá 60 ngày.
          Đối  với các vụ việc cạnh tranh không lành mạnh, điều tra viên phải xác định căn cứ cho rằng bên bị điều tra đã hoặc đang thực hiện hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Thời hạn điều tra đối với các vụ việc này là 90 ngày, kể từ ngày có quyết định. Trong trường hợp cần thiết Thủ trưởng cơ quan quản lý cạnh tranh có thể gia hạn nhưng không quá 60 ngày.
          - Sau khi kết thúc điều tra, Thủ trưởng cơ quan quản lý cạnh tranh chuyển báo cáo điều tra cùng hồ sơ liên quan đến hành vi hạn chế cạnh tranh đến Hội đồng cạnh tranh. Nếu có dấu hiệu tội phạm thì chuyển có quan có thẩm quyền để khởi tố vụ án hình sự.
          - Thành lập Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh: Sau khi nhận được báo cáo điều tra và hồ sơ vụ việc cạnh tranh, Chủ tịch Hội đồng cạnh tranh quyết định thành lập Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh.
 Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhanạ được hồ sơ phải ra một trong các quyết định: mở phiên điều trần, trả hồ sơ để điều tra bổ sung, đình chỉ giải quyết vụ việc cạnh tranh.
 - Phiên điều trần được thực hiện đối với các vụ việc cạnh tranh thuộc thẩm quyền giải quyết của Hội đồng cạnh tranh.
Phiên điều trần được tổ chức công khai. Trường hợp nội dung điều trần có liên quan đến bí mật quốc gia, bí mật kinh doanh thì phiên điều trần được tổ chức kín. Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh tiến hành thảo luận, bỏ phiếu kín và quyết định theo đa số, sau khi nghe những người tham gia phiên điều trần trình bày ý kiến và tranh luận.

6.3. Giải quyết  khiếu nại quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh chưa có hiệu lực pháp luật (Mục 7)
          -  Thẩm quyền giải quyết khiếu nại (Điều 107): Trong trường hợp không nhất trí một phần hoặc toàn bộ nội dung quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh, các bên có quyền khiếu nại lên Hội đồng cạnh tranh.
          Trong trường hợp không nhất trí một phần hoặc toàn bộ nội dung quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Thủ trưởng cơ quan quản lý cạnh tranh, các bên có quyền khiếu nại lên Bộ trưởng Bộ Thương mại.
          - Thẩm quyền tiếp nhận đơn khiêú nại là cơ quan đã ban hành quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh.
          - Hậu qủa của việc khiếu nại quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh:
          + Những phần của quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh bị khiếu nại thì chưa được đưa ra thi hành;
-  Cơ quan tiếp nhân đơn có trách nhiệm xem xét, gửi hồ sơ cùng ý kiến đề nghị của mình lên cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại quy định tại Điều 107 nói trên.
          - Thời hạn giải quyết khiếu nại là 30 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ khiếu nại. Trong trường hợp phức tạp có thể gia hạn nhưng không quá 30 ngày.
          - Quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực kể từ ngày ký.
          - Trong trường hợp không nhất trí với quyết định giải quyết khiếu nại, các bên liên quan có quyền khởi kiện vụ án hành chính đối với một phần hoặc toàn bộ nội dung của quyết định giải quyết khiếu nại đến Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.
          - Hậu quả của việc khởi kiện: Những phần của quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh không bị khởi kiện tra Toà án vẫn tiếp tục được đưa ra thi hành.

7. Xử lý vi phạm pháp luật về cạnh tranh
          - Các hình thức xử phạt: Mỗi hành vi vi phạm pháp luật về cạnh tranh thì cá nhân, tổ chức vi phạm chỉ phải chịu một trong các hình thức xử phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền.
          Ngoài ra, tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm,  tổ chức, cá nhân vi phạm còn có thể bị áp dụng một hoặc các hình tíưc phạt bổ sung và áp dụng các biện pháp khác để khắc phục hậu quả.
          - Thẩm quyền xử phạt, xử lý vi phạm pháp luật về cạnh tranh: Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh, Hội đồng cạnh tranh, cơ quan quản lý cạnh tranh có thẩm quyền xử phạt, xử lý vi phạm theo quy định tại Điều 119.
Các cơ quan khác có thẩm quyền xử phạt đối với hành vi vi phạm quy định về cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến sở hữu trí tuệ theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.
- Thi hành quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh (Điều 121)
+ Nếu bên phải thi hành không tự nguyện thi hành quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh thì bên được thi hành có quyền làm đơn yêu cầu cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền tổ chức thực hiện quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh thuộc phạm vi, chức năng, nhiệm vụ của cơ quan đó.
+ Trường hợp quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh có liên quan đến tài sản của bên phải thi hành thì bên được thi hành có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi có trụ sở, nơi cư trú hoặc nơi có tài sản của bên phải thi hành tổ chức thực hiện quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh.

Loại văn bản : Luật
Lĩnh vực : Thương mại
Toàn văn luật đã ban hành : Xem chi tiết


Luật Việt

Các tin tiếp
Luật Đường sắt    (15/2/2008)
Pháp lệnh Thú y    (15/2/2008)
Luật Cư trú    (15/2/2008)
Luật Thanh tra    (15/2/2008)
Luật An ninh quốc gia    (16/2/2008)
Các tin trước
Luật Giáo dục    (15/2/2008)
Luật Đê điều    (15/2/2008)
Luật Hiến mô    (15/2/2008)
Luật Bình đẳng giới    (15/2/2008)