Luật Đường sắt
14:49' 15/2/2008
Giao thông vận tải đường sắt có vai trò quan trọng trong hệ thống giao thông vận tải của nước ta, góp phần lưu thông hàng hóa, tạo thuận lợi cho việc đi lại của hành khách trong phạm vi toàn quốc cũng như quốc tế, phục vụ đắc lực cho sự tăng trưởng kinh tế của đất nước. Giao thông vận tải đường sắt có những ưu thế so với các phương thức giao thông vận tải khác...

I- THỰC TRẠNG NGÀNH ĐƯỜNG SẮT VÀ SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH LUẬT ĐƯỜNG SẮT

Giao thông vận tải đường sắt có vai trò quan trọng trong hệ thống giao thông vận tải của nước ta, góp phần lưu thông hàng hóa, tạo thuận lợi cho việc đi lại của hành khách trong phạm vi toàn quốc cũng như quốc tế, phục vụ đắc lực cho sự tăng trưởng kinh tế của đất nước. Giao thông vận tải đường sắt có những ưu thế so với các phương thức giao thông vận tải khác, đó là:

- Vận tải được khối lượng lớn, đi xa, ít phụ thuộc vào thời tiết;
- Hành khách đi bằng đường sắt được hưởng tiện nghi và an toàn hơn so với đường bộ. Đường sắt cao tốc trên thế giới hiện đang cạnh tranh với hàng không về thời gian đi lại và sự tiện lợi, tiện nghi;
- Diện tích đất để xây dựng đường sắt ít hơn so với đường bộ;
- Mức độ ô nhiễm môi trường thấp (nếu dùng đầu máy diesel) hoặc không ô nhiễm môi trường (nếu dùng đầu máy điện);
- Vận tải công cộng bằng đường sắt trong đô thị lớn là giải pháp ưu việt nhất trong việc giải quyết ùn tắc giao thông, ô nhiễm môi trường, tai nạn giao thông; góp phần nâng cao văn minh đô thị;
- Có vai trò đặc biệt đối với quốc phòng, an ninh.

Đường sắt Việt Nam được xây dựng và phát triển đến nay đã trên 120 năm. Hiện tại có 2.632 kilômét (km) đường chính tuyến, 403 km đường ga và 108 km đường nhánh, trong đó 85% là đường khổ 1.000 milimét (mm), 6% là đường khổ 1.435 mm và 9% là đường lồng (lồng chung cả hai khổ đường 1.000 mm và 1.435 mm). Mạng đường sắt Việt Nam được hình thành từ các tuyến trục giao thông quan trọng nối liền các trung tâm kinh tế, chính trị, văn hoá của đất nước, gắn kết với các loại hình giao thông khác như đường bộ, đường sông và đường biển.

Trước những khó khăn, thử thách của cơ chế thị trường, ngành Đường sắt đã không ngừng tự đổi mới để vươn lên. Trong 10 năm trở lại đây, ngành Đường sắt đã nhiều lần rút ngắn hành trình chạy tàu khách Thống Nhất trên tuyến Bắc- Nam (trước năm 1980 là 72 giờ, sau đó là 58 giờ): năm 1989 là 48 giờ, năm 1994 giảm xuống còn 36 giờ, năm 1997 là 34 giờ, năm 1999 là 32 giờ và từ năm 2002 đến nay chỉ còn là 30 giờ. Tốc độ chạy tàu bình quân toàn tuyến năm 1989 là 43,34 km/giờ, năm 1997 nâng lên 63,31km/giờ, từ năm 2002 đến nay nâng lên 71,23 km/giờ, có những khu gian đạt tốc độ đến 90 km/giờ. Tiện nghi cũng như chất lượng phục vụ hành khách ngày một tốt hơn và đã cạnh tranh được với vận tải ô tô trên một số tuyến đường. Hiện nay, khối lượng vận tải đã tăng gần 2,5 lần và doanh thu tăng 1,8 lần so với năm 1993. Việc đóng mới các loại toa xe của ngành Đường sắt cũng đã đạt được những thành tựu đáng kể, ngang với sản phẩm của các nước trong khu vực.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, qua tổng kết đánh giá, hoạt động đường sắt ở nước ta trong thời gian qua còn tồn tại một số hạn chế sau đây:

1- Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật, các tiêu chuẩn, quy phạm kỹ thuật chưa đầy đủ và đồng bộ, chậm được cập nhật, rà soát, bổ sung, sửa đổi nên gây nhiều khó khăn cho hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như công tác quản lý nhà nước. Giao thông vận tải đường sắt là một trong những ngành vận tải có ít văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lý cao. Các văn bản chủ yếu do Bộ Giao thông vận tải ban hành nên khi áp dụng để điều chỉnh các quan hệ xã hội trong hoạt động đường sắt còn nhiều hạn chế. Toàn ngành đường sắt hiện mới chỉ có văn bản có giá trị pháp lý cao nhất là Nghị định số 39/NĐ-CP ngày 5-7-1996 của Chính phủ về bảo đảm trật tự an toàn giao thông đường sắt và Pháp lệnh Bảo vệ công trình giao thông do Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành năm 1994,  trong đó có một phần đề cập đến bảo vệ công trình giao thông đường sắt. Đây là một thực tế cần sự quan tâm, ưu tiên giải quyết.

2- Việc xây dựng chiến lược, quy hoạch phát triển ngành, đặc biệt là quy hoạch phát triển kết cấu hạ tầng đường sắt trong một thời gian dài chưa được quan tâm đúng mức, dẫn tới việc thực hiện đầu tư vừa nhỏ vừa dàn trải. Định hướng phát triển đường sắt đô thị, đường sắt chuyên dùng, đường sắt nối đến các trọng điểm kinh tế, các khu công nghiệp lớn, các đầu mối giao thông còn lúng túng, chưa được xác định rõ ràng. Vì chưa làm tốt công tác quy hoạch và quản lý quy hoạch nên khi thực hiện việc cải tạo, nâng cấp các công trình cũ, đầu tư xây dựng các công trình mới đã gặp rất nhiều khó khăn trong lựa chọn hướng tuyến, giao đất, giải phóng mặt bằng, xác lập hành lang an toàn giao thông đường sắt...

3- Quản lý nhà nước và hoạt động kinh doanh chưa được phân định rõ ràng, thiếu các quy định cụ thể để các thành phần kinh tế tham gia đầu tư, kinh doanh trong lĩnh vực hoạt động đường sắt nên chưa tạo sức hấp dẫn, khả năng cạnh tranh chưa cao, đặc biệt chưa thu hút được các nguồn lực từ bên ngoài dẫn đến việc chưa thúc đẩy được ngành đường sắt phát triển. Trong thời gian vừa qua, tuy Bộ Giao thông vận tải và ngành đường sắt đã kêu gọi, khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư vào giao thông vận tải đường sắt nhưng cho đến nay vẫn chỉ có thành phần kinh tế nhà nước đảm nhận đầu tư và kinh doanh trong lĩnh vực này.

4- Kết cấu hạ tầng đường sắt nước ta hiện còn yếu kém và lạc hậu so với các nước trong khu vực và trên thế giới. Trên mạng đường sắt chưa có một tuyến đường nào đạt được cấp kỹ thuật theo quy định (đồng bộ từ cầu, đường, nhà ga, kiến trúc tầng trên, thông tin tín hiệu....). Đến nay, Việt Nam vẫn chưa có đường sắt điện khí hoá, đường sắt đôi, vì vậy năng lực thông qua rất hạn chế, tốc độ lữ hành thấp. Giao cắt giữa đường sắt với đường bộ chủ yếu là giao cắt đồng mức (giao bằng), vừa không đảm bảo an toàn, vừa cản trở giao thông chung. Các khu đường sắt đầu mối chưa được quy hoạch và xây dựng hoàn chỉnh. Hệ thống thông tin tín hiệu lạc hậu, vẫn còn sử dụng tín hiệu cánh, đóng đường bằng thẻ đường là kỹ thuật công nghệ của những năm 70 của thế kỷ trước. Các cơ sở công nghiệp đường sắt đang trong tình trạng chung là lạc hậu, manh mún; đầu máy, toa xe vừa thiếu về số lượng, vưà bao gồm nhiều chủng loại, phần lớn lại quá cũ và lạc hậu.

5- Trong những năm qua, tai nạn giao thông đường sắt ngày một gia tăng cả về số vụ và mức độ nghiêm trọng. Tình trạng trộm cắp vật tư, thiết bị đường sắt, ném vật rắn và chất bẩn lên tàu, xâm phạm hành lang an toàn giao thông, tự ý mở đường ngang dân sinh qua đường sắt vẫn còn phổ biến. Các cơ quan, tổ chức, đoàn thể, chính quyền địa phương các cấp chưa quan tâm đúng mức để cùng giải quyết vấn đề này mà vẫn coi đó là công việc của riêng ngành Đường sắt. Để việc bảo đảm có hiệu quả trật tự, an toàn giao thông đường sắt, cần phân định rõ trách nhiệm của các ngành, các cấp, các địa phương trong việc chủ trì, phối hợp tuyên truyền, giáo dục và xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật về trật tự, an toàn giao thông đường sắt.

Trước yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển ngành Đường sắt Việt Nam theo Nghị quyết Trung ương 3 khóa VIII, Nghị quyết Trung ương 9 khóa IX, phát huy những thành tựu đã đạt được, khắc phục những tồn tại nêu trên và tạo môi trường thuận lợi, bình đẳng cho mọi thành phần kinh tế trong nước, nước ngoài đầu tư, tham gia vào hoạt động giao thông vận tải đường sắt thì việc ban hành Luật Đường sắt là một yêu cầu khách quan, rất cần thiết và cấp bách trong giai đoạn hiện nay ở nước ta.

II. NHỮNG QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO XÂY DỰNG LUẬT ĐƯỜNG SẮT

1. Luật Đường sắt phải thể chế hoá được đường lối, chủ trương của Đảng, mục tiêu, chính sách của Nhà nước, “thực hiện nhất quán chính sách phát triển nền kinh tế nhiều thành phần. Các thành phần kinh tế kinh doanh theo pháp luật đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh -Văn kiện Đại hội Đảng IX, NXB CTQG tr 95. Tạo lập hành lang pháp lý ổn định, thông thoáng, bình đẳng để khuyến khích các tổ chức, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế tham gia vào hoạt động đầu tư, kinh doanh trong lĩnh vực đường sắt; đồng thời để các cơ quan quản lý nhà nước thực hiện được chức năng quản lý nghiêm minh, đúng pháp luật.

2. Luật Đường sắt phải kế thừa các quy phạm pháp luật hiện hành đã qua kiểm nghiệm, đã được thực tiễn chấp nhận, đồng thời bổ sung, điều chỉnh các mối quan hệ mới phát sinh cho phù hợp với tình hình, điều kiện thực tế của ngành Đường sắt hiện nay và phương hướng phát triển trong tương lai, thể hiện được tính tiên tiến, hiện đại, phù hợp với yêu cầu hội nhập khu vực và quốc tế. Luật Đường sắt phải phù hợp với Hiến pháp, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ với các luật có liên quan khác như Bộ luật Dân sự, Bộ luật Lao động, Luật Xây dựng, Luật Giao thông đường bộ, Bộ luật Hàng hải Việt Nam, Luật Hàng không dân dụng Việt Nam, Luật Giao thông đường thuỷ nội địa ...

3. Nội dung của Dự án Luật Đường sắt cần quy định chi tiết, giảm bớt các văn bản hướng dẫn dưới luật, thể hiện tinh thần cải cách hành chính, làm rõ trách nhiệm và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân; ở mỗi việc chỉ có một tổ chức chịu trách nhiệm chính, khắc phục tình trạng không rõ ràng, chồng chéo hoặc buông lỏng quản lý.

III. NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬT ĐƯỜNG SẮT

Luật Đường sắt gồm 8 chương, 114 điều với kết cấu, nội dung cơ bản cụ thể như sau:

Chương I. Những quy định chung gồm 12 điều ( từ Điều 1 đến Điều 12)
Chương này quy định về phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng, các nguyên tắc cơ bản trong hoạt động đường sắt, chính sách phát triển giao thông vận tải đường sắt, quy hoạch tổng thể phát triển đường sắt; trách nhiệm quản lý nhà nước về hoạt động đường sắt của Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh); thanh tra đường sắt, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về giao thông vận tải đường sắt; trách nhiệm của tổ chức, cá nhân khi xảy ra tai nạn giao thông đường sắt và các hành vi bị nghiêm cấm.
Phạm vi điều chỉnh:
Luật Đường sắt quy định về quy hoạch, đầu tư, xây dựng, bảo vệ kết cấu hạ tầng đường sắt; phương tiện giao thông đường sắt; quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân có liên quan đến hoạt động đường sắt; quy tắc, tín hiệu giao thông và bảo đảm trật tự, an toàn giao thông đường sắt; kinh doanh đường sắt.
Đối tượng áp dụng:
Luật Đường sắt áp dụng đối với tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài có liên quan đến hoạt động đường sắt trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác với quy định của Luật này thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó.
Phạm vi điều chỉnh của Luật Đường sắt đã bao quát toàn bộ các hoạt động đường sắt, bao gồm cả đầu tư, xây dựng, bảo vệ kết cấu hạ tầng đường sắt, kinh doanh trong lĩnh vực đường sắt và đối tượng áp dụng là tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài có liên quan đến hoạt động đường sắt trên lãnh thổ Cộng hoà xã hội chủ nghĩa  Việt Nam.
Nguyên tắc cơ bản trong hoạt động đường sắt ( Điều 4 )
1. Bảo đảm hoạt động giao thông vận tải đường sắt thông suốt, trật tự, an toàn, chính xác và hiệu quả; góp phần phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và bảo vệ môi trường.
2. Phát triển đường sắt theo quy hoạch, kế hoạch, hiện đại và đồng bộ; gắn kết loại hình giao thông vận tải đường sắt với các loại hình giao thông vận tải khác.
3. Điều hành thống nhất, tập trung hoạt động giao thông vận tải đường sắt.
4. Phân định rõ giữa quản lý nhà nước của cơ quan nhà nước với quản lý kinh doanh của doanh nghiệp; giữa kinh doanh kết cấu hạ tầng và kinh doanh vận tải trên đường sắt do Nhà nước đầu tư.
Các nguyên tắc cơ bản đã thể hiện quan điểm Đường sắt Việt Nam phải được phát triển một cách hiện đại, bền vững, an toàn; phân định rõ giữa quản lý nhà nước của cơ quan nhà nước và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, giữa kinh doanh kết cấu hạ tầng và kinh doanh vận tải trên đường sắt do Nhà nước đầu tư nhằm tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh, không phân biệt đối xử trong kinh doanh đường sắt, thu hút các thành phần kinh tế trong nước và nước ngoài tham gia đầu tư phát triển đường sắt; điều độ chạy tàu phải được tiến hành theo nguyên tắc thống nhất, tập trung, đảm bảo an toàn tuyệt đối cho những chuyến tàu đi, dừng, tránh, vượt theo đúng lịch trình đã được xây dựng trong biểu đồ chạy tàu.
Chính sách phát triển đường sắt ( Điều 5 )
1. Nhà nước tập trung đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng đường sắt quốc gia, đường sắt đô thị theo hướng hiện đại.
2. Nhà nước khuyến khích tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài đầu tư, kinh doanh kết cấu hạ tầng đường sắt và vận tải đường sắt; tham gia đấu thầu cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích đường sắt.
3. Nhà nước bảo đảm môi trường cạnh tranh lành mạnh, không phân biệt đối xử; bảo hộ quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế tham gia đầu tư và kinh doanh đường sắt.
4. Nhà nước khuyến khích việc nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ tiên tiến và đào tạo nguồn nhân lực để phát triển đường sắt hiện đại.

Nhà nước khẳng định chính sách nhất quán, lâu dài tạo động lực cơ bản phát triển ngành Đường sắt Việt Nam, tập trung nguồn lực, vật lực đầu tư vào kết cấu hạ tầng của đường sắt quốc gia, đường sắt đô thị nhằm nhanh chóng hiện đại hóa mạng lưới đường sắt quốc gia, đường sắt đô thị.

Bên cạnh đó, để nhấn mạnh, tăng cường trong công tác ngăn ngừa các hành vi gây mất trật tự, an toàn trong hoạt động đường sắt, Chương này cũng đặc biệt đưa vào Điều 12 ( Các hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động đường sắt ) với một số hành vi hiện nay đang gây rất nhiều khó khăn cho ngành Đường sắt như phá hoại công trình đường sắt, phương tiện đường sắt; tự ý mở đường ngang; đổ chất phế thải lên đường sắt; chăn thả súc vật, họp chợ trên đường sắt và trong phạm vi bảo vệ, hành lang an toàn giao thông đường sắt; ném đất, đá hoặc các vật khác lên tàu hoặc từ trên tàu xuống; bán vé trái phép; điều khiển tàu chạy quá tốc độ quy định .v.v.

Chương II. Kết cấu hạ tầng đường sắt gồm 25 điều (từ Điều 13 đến Điều 37), được chia thành 2 mục:

Mục 1. Quy hoạch, đầu tư, xây dựng kết cấu hạ tầng đường sắt gồm 12 điều (từ Điều 13 đến Điều 24)
Mục này quy định những vấn đề cơ bản về quy hoạch và đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng đường sắt, phân loại đường sắt, khổ đường và tiêu chuẩn kỹ thuật đường sắt, ga đường sắt, các quy định về giao cắt với đường sắt, đường sắt và đường bộ chạy song song gần nhau.
Mục này đã đề cập cụ thể một số tiêu chuẩn kỹ thuật cơ bản, có tính định hướng phát triển lâu dài cho ngành đường sắt như khổ đường sắt (Điều 20), Giao cắt giữa đường sắt và đường bộ (Điều 23), đường sắt và đường bộ chạy song song gần nhau (Điều 24). Luật cũng đã có những quy định cụ thể một số chính sách ưu đãi đặc biệt cho tổ chức, cá nhân khi đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng đường sắt quốc gia, đường sắt đô thị (Điều 18) theo đó Nhà nước sẽ hỗ trợ toàn bộ kinh phí giải phóng mặt bằng đối với đất dùng để xây dựng tuyến đường sắt, đồng thời cũng quy định việc không được bồi thường khi giải phóng mặt bằng nếu công trình xây dựng mới trong phạm vi đất dành cho đường sắt đã cắm mốc chỉ giới (Điều 17), trừ công trình được xây dựng theo quy định tại Điều 33 của Luật này. 

Mục 2. Bảo vệ kết cấu hạ tầng đường sắt gồm 13 điều (từ Điều 25 đến Điều 37)
Mục này quy định nội dung và phạm vi bảo vệ cụ thể đối với từng loại công trình đường sắt, việc xây dựng công trình và tiến hành hoạt động trong và ở vùng lân cận phạm vi bảo vệ công trình đường sắt, hành lang an toàn giao thông đường sắt; trách nhiệm của tổ chức, cá nhân trong việc bảo vệ kết cấu hạ tầng đường sắt và việc phòng chống, khắc phục hậu quả sự cố, thiên tai, tai nạn đối với kết cấu hạ tầng đường sắt.
Trước tình hình xâm phạm nghiêm trọng phạm vi bảo vệ công trình và hành lang an toàn giao thông đường sắt, các quy định tại Mục 2 đã xác định cụ thể trách nhiệm của Uỷ ban nhân dân các cấp nơi có đường sắt đi qua, trách nhiệm của Bộ giao thông vận tải, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng trong việc bảo vệ kết cấu hạ tầng đường sắt (Điều 36) đồng thời cũng quy định rõ các trách nhiệm cụ thể của các tổ chức, cá nhân có liên quan khi xảy ra sự cố, thiên tai, tai nạn đối với kết cấu hạ tầng đường sắt.

Chương III. Phương tiện giao thông đường sắt gồm 8 điều (từ Điều 38 đến Điều 45)
Chương này quy định điều kiện lưu hành của phương tiện giao thông đường sắt như phương tiện phải có đủ giấy chứng nhận đăng ký, đăng kiểm; việc đăng ký phương tiện giao thông đường sắt như phương tiện phải có nguồn gốc hợp pháp, đạt tiêu chuẩn an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường; việc đăng kiểm phương tiện giao thông đường sắt như phương tiện phải phù hợp với tiêu chuẩn chất lượng, tiêu chuẩn an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường, được cơ quan đăng kiểm xác nhận và phải kiểm tra định kỳ; việc nhập khẩu phương tiện giao thông đường sắt như phương tiện phải phù hợp với tiêu chuẩn kỹ thuật đường sắt Việt Nam; thông tin, chỉ dẫn, trang thiết bị trên phương tiện giao thông đường sắt; việc tạm đình chỉ tham gia giao thông đối với phương tiện giao thông đường sắt.

Chương IV. Nhân viên đường sắt trực tiếp phục vụ chạy tàu gồm 9 điều (từ  Điều 46 đến Điều 54)
Chương này quy định về điều kiện, nhiệm vụ, quyền hạn của nhân viên đường sắt trực tiếp phục vụ chạy tàu như trưởng tàu, lái tàu, phụ lái tàu, nhân viên điều độ chạy tàu, trực ban chạy tàu ga, tuần đường...; quản lý các cơ sở đào tạo chức danh tài xế.

Chương V. Đường sắt đô thị gồm 8 điều (từ Điều 55 đến Điều 62)
Chương này quy định về các loại hình đường sắt đô thị, chính sách phát triển đường sắt đô thị, điều kiện để lập quy hoạch đường sắt đô thị, điều kiện kinh doanh vận tải đường sắt đô thị; quản lý, bảo trì kết cấu hạ tầng đường sắt đô thị, những nguyên tắc chung đảm bảo an toàn cho người, phương tiện tham gia giao thông vận tải đường sắt đô thị cũng như an toàn cho công trình đường sắt đô thị.
Trước tình hình diễn biến hết sức phức tạp về quy hoạch, quản lý về giao thông đô thị, tình trạng ùn tắc giao thông, ô nhiễm môi trường, tai nạn giao thông  đang diễn ra nghiêm trọng tại một số thành phố lớn thì việc xuất hiện của đường sắt đô thị là một trong những giải pháp tối ưu để giải quyết triệt để tình trạng nêu trên trong điều kiện hiện nay. Các thành phố lớn như thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh đang có những dự án lớn để xây dựng hệ thống đường sắt đô thị. Chính vì vậy Luật Đường sắt đã đưa ra quy định về chính sách ưu đãi nhằm thu hút các thành phần kinh tế trong và ngoài nước vào đầu tư xây dựng, khai thác đường sắt đô thị; việc hỗ trợ từ ngân sách trung ương để phát triển đường sắt đô thị ( Điều 56)

Chương VI. Tín hiệu, quy tắc giao thông đường sắt và bảo đảm trật tự, an toàn giao thông vận tải đường sắt gồm 20 điều (từ Điều 63 đến Điều 82), được chia thành 2 mục:

Mục 1. Tín hiệu, quy tắc giao thông đường sắt gồm 10 điều (từ Điều 63 đến Điều 72)
Mục này quy định về hệ thống tín hiệu sử dụng trong giao thông đường sắt, việc chấp hành tín hiệu giao thông đường sắt; quy tắc đi, dừng, tránh, vượt cho phương tiện giao thông đường sắt, cho người tham gia giao thông tại đường ngang, cầu chung, trong hầm.
Mục 2. Bảo đảm trật tự, an toàn giao thông vận tải đường sắt gồm 10 điều từ (Điều 73 đến Điều 82)
Mục này quy định về nội dung hoạt động bảo đảm trật tự, an toàn giao thông vận tải đường sắt, điều hành giao thông vận tải đường sắt, chứng chỉ an toàn đối với doanh nghiệp kinh doanh đường sắt, việc xây dựng biểu đồ chạy tàu, nguyên tắc điều độ chạy tàu, xử lý khi phát hiện sự cố, vi phạm trên đường sắt và trách nhiệm của doanh nghiệp kinh doanh kết cấu hạ tầng đường sắt, lực lượng công an, Uỷ ban nhân dân các cấp trong việc bảo đảm trật tự, an toàn giao thông vận tải đường sắt.
Trách nhiệm bảo vệ an ninh, trật tự, an toàn trong hoạt động đường sắt được quy định cụ thể đối với doanh nghiệp kinh doanh đường sắt (Điều 80), đối với lực lượng công an (Điều 81) và đối với Uỷ ban nhân dân các cấp (Điều 82),  từ đó các cơ quan, đơn vị có liên quan trong phạm vi trách nhiệm, quyền hạn của mình chủ trì hoặc phối hợp trong công tác bảo vệ an ninh, bảo đảm trật tự, an toàn giao thông đường sắt.
luật cũng có quy định rõ ràng để tổ chức, cá nhân thực hiện khi phát hiện sự cố, vi phạm trên đường sắt (Điều 79).

Chương VII. Kinh doanh đường sắt gồm 29 điều (từ Điều 83 đến Điều 111)
Chương này quy định các nội dung cơ bản về kinh doanh kết cấu hạ tầng, kinh doanh vận tải và kinh doanh dịch vụ hỗ trợ vận tải đường sắt; bảo đảm không phân biệt đối xử trong kinh doanh đường sắt; quyền và nghĩa vụ của các tổ chức, cá nhân trong kinh doanh đường sắt; vận tải quốc tế, vận tải phục vụ nhiệm vụ đặc biệt, vận tải hàng nguy hiểm, động vật sống, thi hài, hài cốt, hàng siêu trường, siêu trọng; xử lý hàng hoá, hành lý, bao gửi không có người nhận hoặc người nhận từ chối; giải quyết tranh chấp trong kinh doanh đường sắt.
Luật đã quy định cụ thể quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp kinh doanh kết cấu hạ tầng đường sắt (Điều 88), của doanh nghiệp kinh doanh vận tải đường sắt (Điều 90, 97, 98, 100), của hành khách đi tàu và người gửi bao gửi (Điều 99, của người thuê vận tải (Điều 101); quy định về việc giải quyết các tranh chấp, khiếu nại, đòi bồi thường trong hoạt động đường sắt (Điều 107, 108, 109, 110).

Chương VIII. Điều khoản thi hành gồm 3 điều (từ Điều 112 đến Điều 114)
Chương này quy định về yêu cầu đối với tổ chức, cá nhân hoạt động đường sắt sau khi Luật Đường sắt có hiệu lực, quy định về hiệu lực thi hành và hướng dẫn thi hành Luật Đường sắt. 

IV. TỔ CHỨC THỰC HIỆN LUẬT ĐƯỜNG SẮT
Luật Đường sắt có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2006, để những quy định của luật sớm đi vào cuộc sống và phát huy hiệu quả, trong thời gian tới Chính phủ, Bộ Giao thông vận tải và các Bộ, ngành sẽ ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành Luật sau đây:

A. Các văn bản của Chính phủ
1. Nghị định của Chính phủ quy định về nhiệm vụ, quyền hạn, trang thiết bị, trang phục, phù hiệu của lực lượng bảo vệ trên tàu hoả
2. Nghị định của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đường sắt
3. Nghị định của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Đường sắt

B. Các văn bản cấp Bộ
Bộ Giao thông vận tải dự kiến sẽ ban hành theo thẩm quyền hoặc phối hợp với một số Bộ, ngành liên quan để ban hành một số văn bản dưới Luật Đường sắt như sau:
- Quyết định của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải quy định tiêu chuẩn chất lượng, an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường của phương tiện giao thông đường sắt; quy định tiêu chuẩn, điều kiện cơ sở vật chất, kỹ thuật của cơ quan đăng kiểm đường sắt.
- Quyết định của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải quy định việc đăng ký phương tiện giao thông đường sắt.
- Quyết định của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải quy định việc tổ chức sát hạch, cấp, đổi, thu hồi giấy phép lái tàu.
- Quyết định của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải quy định nội dung, chương trình đào tạo, điều kiện đối với cơ sở đào tạo và tiêu chuẩn các chức danh nhân viên đường sắt trực tiếp phục vụ chạy tàu.
- Quyết định của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải ban hành tiêu chuẩn kỹ thuật, cấp kỹ thuật đường sắt; quy phạm khai thác kỹ thuật đường sắt; tín hiệu đường sắt.
- Quyết định của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải ban hành Điều lệ đường ngang.
- Quyết định của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải quy định về việc cấp giấy phép xây dựng, thực hiện hoạt động trong phạm vi bảo vệ công trình đường sắt.
- Quyết định của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải ban hành Thể lệ vận tải đường sắt.
- Quyết định của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải ban hành quy định về xây dựng, phê duyệt, ban hành biểu đồ chạy tàu.
Đồng thời, có một số văn bản khác do Bộ Giao thông vận tải và các Bộ, ngành có liên quan ban hành do Luật Đường sắt giao như sau:
- Thông tư liên tịch Bộ Tài chính – Bộ Xây dựng –Bộ Giao thông vận tải ban hành định mức chi cho việc lập, thẩm định, công bố quy hoạch, cắm mốc chỉ giới phạm vi đất quy hoạch và điều chỉnh quy hoạch phát triển kết cấu hạ tầng đường sắt quốc gia và đường sắt đô thị.
- Quyết định của Bộ trưởng Bộ Y tế quy định về tiêu chuẩn sức khoẻ đối với nhân viên đường sắt trực tiếp phục vụ chạy tàu.
Việc ban hành Luật đường sắt là một thuận lợi lớn cho việc phát triển ngành đường sắt. Tuy nhiên, bản thân Luật không làm được điều đó mà cần phải tổ chức thực hiện để đưa Luật Đường sắt vào thực tế cuộc sống, tạo nên sức mạnh vật chất thực sự nhằm tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước trong lĩnh vực đường sắt, đề cao ý thức trách nhiệm của các cấp, các ngành và mọi tổ chức, cá nhân nhằm bảo đảm giao thông vận tải đường sắt thông suốt, trật tự, an toàn, thoả mãn nhu cầu vận tải hàng hoá ngày càng tăng, nhu cầu đi lại ngày càng cao của nhân dân và để thu hút các thành phần kinh tế trong và ngoài nước vào đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, khai thác vận tải đường sắt, phù hợp với tiến trình hội nhập khu vực và quốc tế, đáp ứng yêu cầu ngày càng tăng của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

Để thực hiện được các mục tiêu quan trọng đó, song song với việc khẩn trương soạn thảo để ban hành các văn bản hướng dẫn Luật Đường sắt một cách kịp thời, đồng bộ khi Luật có hiệu lực, Bộ Giao thông vận tải cần có chương trình tuyên truyền, phổ biến Luật Đường sắt đến từng địa phương, mọi tổ chức, cá nhân trực tiếp hoặc gián tiếp có hoạt động đường sắt, phối hợp với các cơ sở giáo dục đào tạo, các Bộ, ngành có liên quan để mọi cán bộ, công chức, viên chức, mọi công dân biết và thực hiện nghiêm Luật Đường sắt.  
Loại văn bản : Luật
Lĩnh vực : Giao thông vận tải
Toàn văn luật đã ban hành : Xem chi tiết

Luật Việt
Các tin tiếp
Pháp lệnh Thú y    (15/2/2008)
Luật Cư trú    (15/2/2008)
Luật Thanh tra    (15/2/2008)
Luật An ninh quốc gia    (16/2/2008)
Luật Chứng khoán    (16/2/2008)
Các tin trước
Luật Cạnh tranh    (15/2/2008)
Luật Giáo dục    (15/2/2008)
Luật Đê điều    (15/2/2008)
Luật Hiến mô    (15/2/2008)