Luật Đại biểu Quốc hội
17:35' 16/2/2008
Để phục vụ cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XII sẽ diễn ra vào ngày 20 tháng 5 năm 2007, Hội đồng bầu cử biên soạn Đề cương giới thiệu Luật bầu cử đại biểu Quốc hội, tập trung vào một số nội dung thường nảy sinh vướng mắc khi tổ chức thực hiện luật: 


1.Về quyền bầu cử, ứng cử:
Quyền  bầu cử và ứng cử vào cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất là một trong những quyền cơ bản về chính trị của công dân. Luật bầu cử đại biểu Quốc hội đã quy định công dân có quyền bầu cử, có quyền ứng cử đại biểu Quốc hội, đồng thời quy định rõ những người không được tham gia bầu cử và những người không được ứng cử đại biểu Quốc hội.
Công dân nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hoá, nghề nghiệp, thời hạn cư trú, đủ mười tám tuổi trở lên đều có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở  lên đều có quyền ứng cử đại biểu Quốc hội theo quy định của pháp luật (Điều 2).
Những người không được ghi tên vào danh sách cử tri là: người đang bị tước quyền bầu cử theo bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật; người đang phải chấp hành hình phạt tù; người đang bị tạm giam và người mất năng lực hành vi dân sự (Điều 23).
Những trường hợp không được ứng cử đại biểu Quốc hội là:
- Những người không được tham gia bầu cử đại biểu Quốc hội thì đương nhiên không được ứng cử đại biểu Quốc hội;
- Người đang bị khởi tố về hình sự;
- Người đang phải chấp hành bản án, quyết định hình sự của Toà án;
- Người đã chấp hành xong bản án, quyết định hình sự của Toà án nhưng chưa được xoá án tích;
- Người đang chấp hành quyết định xử lý hành chính về giáo dục tại xã, phường, thị trấn, tại cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh.
Uỷ ban thường vụ Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 1078/2007/NQ-UBTVQH11, ngày 29 tháng 01 năm 2007 quy định cụ thể những người được quyền bầu cử, những người không được quyền bầu cử; những người được quyền ứng cử, những người không được quyền ứng cử đại biểu Quốc hội.

2. Về tiêu chuẩn đại biểu Quốc hội:
Tiêu chuẩn đại biểu Quốc hội là nội dung rất quan trọng, góp phần quyết định chất lượng và hiệu quả hoạt động của Quốc hội.
Để Quốc hội hoàn thành tốt trách nhiệm của cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất, cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, đáp ứng yêu cầu thực hiện công cuộc đổi mới vì sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước, Quốc hội phải gồm các đại biểu tiêu biểu nhất trong nhân dân, có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt, có trình độ năng lực thực hiện nhiệm vụ đại biểu, tham gia quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, và có điều kiện tham gia các hoạt động của Quốc hội. Với tinh thần đó, Điều 3 quy định các tiêu chuẩn đại biểu Quốc hội, theo năm nhóm tiêu chuẩn sau để thuận tiện cho việc theo dõi, đối chiếu.

Các tiêu chuẩn đại biểu Quốc hội là:
- Trung thành với Tổ quốc và Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phấn đấu thực hiện công cuộc đổi mới vì sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh;
- Có phẩm chất đạo đức tốt, cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, gương mẫu chấp hành pháp luật, kiên quyết đấu tranh chống mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyên, tham nhũng và các hành vi vi phạm pháp luật;
- Có trình độ và năng lực thực hiện nhiệm vụ đại biểu Quốc hội, tham gia quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước;
- Liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến của nhân dân, được nhân dân tín nhiệm;
- Có điều kiện tham gia các hoạt động của Quốc hội.

3. Nhiệm vụ và quyền hạn của Uỷ ban thường vụ Quốc hội trong việc bầu cử đại biểu Quốc hội:
Uỷ ban thường vụ Quốc hội có vai trò rất quan trọng trong việc bầu cử đại biểu Quốc hội. Uỷ ban thường vụ Quốc hội công bố và chủ trì việc bầu cử đại biểu Quốc hội; giám sát việc bầu cử đại biểu  Quốc hội, bảo đảm cho việc bầu cử được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật (Điều 4).
Luật quy định chậm nhất 105 ngày trước ngày bầu cử, Uỷ ban thường vụ Quốc hội ấn định và công bố ngày bầu cử đại biểu Quốc hội (Điều 54) và thành lập Hội đồng bầu cử (Điều 14).
Uỷ ban thường vụ Quốc hội dự kiến số lượng đại biểu Quốc hội được bầu ở mỗi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (Điều 8); dự kiến số lượng đại biểu Quốc hội là người dân tộc thiểu số theo đề nghị của Hội đồng dân tộc của Quốc hội (Điều 10); dự kiến số đại biểu Quốc hội là phụ nữ trên cơ sở đề nghị của Đoàn Chủ tịch Ban chấp hành Trung ương Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam (Điều 10a);
Uỷ ban thường vụ Quốc hội phối hợp với một số cơ quan, tổ chức hữu quan dự kiến cơ cấu, thành phần đại biểu Quốc hội, số lượng đại biểu Quốc hội được bầu của các cơ quan, tổ chức đơn vị ở trung ương và ở địa phương (Điều 9).
Chậm nhất là 70 ngày trước ngày bầu cử, Uỷ ban thường vụ Quốc hội ấn định và công bố số đơn vị bầu cử, danh sách các đơn vị bầu cử và số đại biểu Quốc hội ở mỗi đơn vị bầu cử (Điều 11). 

4. Về các tổ chức phụ trách bầu cử:      
Uỷ ban thường vụ Quốc hội thành lập Hội đồng bầu cử (Điều 14); Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương sau khi đã thống nhất với Uỷ ban nhân dân và Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp quyết định thành lập Uỷ ban bầu cử, Ban bầu cử (Điều 15, Điều 16) và giao cho Chủ tịch Hội đồng nhân dân xã, phường, thị trấn, sau khi đã thống nhất với Uỷ ban nhân dân và Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp quyết định thành lập Tổ bầu cử (Điều 17).
Đồng thời, Luật quy định khi ra quyết định thành lập các tổ chức phụ trách bầu cử thì ấn định luôn  các chức danh cụ thể của các tổ chức này, để giảm bớt các thủ tục hành chính không cần thiết.
Về nhiệm vụ, quyền hạn của các tổ chức phụ trách bầu cử được quy định cụ thể như sau:

Nhiệm vụ và quyền hạn của Hội đồng bầu cử (Điều 14):
1- Lãnh đạo việc tổ chức bầu cử trong cả nước; kiểm tra, đôn đốc việc thi hành các quy định của pháp luật về bầu cử đại biểu Quốc hội;
2- Chỉ đạo công tác thông tin, tuyên truyền và vận động bầu cử;
3- Chỉ đạo công tác bảo vệ an ninh, trật tự an toàn xã hội trong cuộc bầu cử;
4- Nhận và xem xột hồ sơ của người được tổ chức chớnh trị, tổ chức chớnh trị - xó hội, tổ chức xó hội, lực lượng vũ trang nhõn dõn, cơ quan nhà nước ở Trung ương giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội; gửi tiểu sử túm tắt của những người ứng cử đến Ban thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;
5- Nhận hồ sơ và danh sách người ứng cử đại biểu Quốc hội do Uỷ ban bầu cử gửi đến;
6- Quy định mẫu thẻ cử tri và phiếu bầu cử đại biểu Quốc hội;
7- Lập và công bố danh sách những người ứng cử đại biểu Quốc hội theo từng đơn vị bầu cử trong cả nước;
8- Xét và giải quyết khiếu nại, tố cáo về công tác của Uỷ ban bầu cử, Ban bầu cử và Tổ bầu cử; xét và giải quyết khiếu nại, tố cáo về bầu cử do Uỷ ban bầu cử hoặc Ban bầu cử chuyển đến; xét và giải quyết khiếu nại, tố cáo về người ứng cử;  xét và giải quyết khiếu nại về kết quả bầu cử;
9- Nhận và kiểm tra biên bản xác định kết quả bầu cử do Uỷ ban bầu cử, Ban bầu cử gửi đến; làm biên bản tổng kết cuộc bầu cử trong cả nước;
10- Xét và quyết định việc bầu cử lại, bầu cử thêm hoặc huỷ bỏ kết quả bầu cử ở đơn vị bầu cử;
11- Công bố kết quả bầu cử trong cả nước;
12- Cấp giấy chứng nhận cho đại biểu trúng cử;
13- Trình Uỷ ban thường vụ Quốc hội khoá mới biên bản tổng kết cuộc bầu cử trong cả nước và những hồ sơ, tài liệu về bầu cử.

Nhiệm vụ và quyền hạn của Uỷ ban bầu cử (Điều 15):
1- Chỉ đạo việc chuẩn bị và tổ chức bầu cử ở các đơn vị bầu cử; kiểm tra, đôn đốc việc thi hành những quy định của pháp luật về bầu cử đại biểu Quốc hội của Ban bầu cử, Tổ bầu cử;
2- Chỉ đạo thực hiện công tác thông tin, tuyên truyền và vận động bầu cử ở địa phương;
3- Chỉ đạo thực hiện công tác bảo vệ an ninh, trật tự an toàn xã hội trong bầu cử ở địa phương;
4- Nhận và xem xét hồ sơ của người được tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, lực lượng vũ trang nhân dân, cơ quan Nhà nước ở địa phương giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội và hồ sơ của người tự ứng cử đại biểu Quốc hội; gửi danh sách trích ngang và tiểu sử tóm tắt của những người được giới thiệu ứng cử và những người tự ứng cử đến Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh, thành phố trực thuộc;
5- In tài liệu bầu cử; in thẻ cử tri và phiếu bầu theo mẫu của Hội đồng bầu cử;
6- Lập danh sách những người ứng cử theo đơn vị bầu cử và báo cáo Hội đồng bầu cử;
7- Kiểm tra việc lập và niêm yết danh sách cử tri;
8- Xét và giải quyết khiếu nại, tố cáo về công tác của Ban bầu cử, Tổ bầu cử; xét và giải quyết khiếu nại, tố cáo về bầu cử do Ban bầu cử, Tổ bầu cử chuyển đến; xét và giải quyết khiếu nại, tố cáo về người ứng cử;
9- Nhận và kiểm tra biên bản xác định kết quả bầu cử của các Ban bầu cử; lập  biên bản xác định kết quả bầu cử ở địa phương;
10- Thông báo kết quả bầu cử ở địa phương;
11- Báo cáo tình hình tổ chức và tiến hành bầu cử theo quy định của Hội đồng bầu cử;
12- Chuyển hồ sơ, biên bản xác định kết quả bầu cử đến Hội đồng bầu cử;
13- Tổ chức việc bầu cử lại, bầu cử thêm theo quyết định của Hội đồng bầu cử;

Nhiệm vụ và quyền hạn của Ban bầu cử (Điều 16);
1- Kiểm tra, đôn đốc việc thi hành các quy định của pháp luật về bầu cử đại biểu Quốc hội của các Tổ bầu cử;
2- Kiểm tra, đôn đốc việc bố trí các phòng bỏ phiếu;
3- Kiểm tra việc lập và niêm yết danh sách cử tri;
4- Phân phối thẻ cử tri, phiếu bầu cử cho các Tổ bầu cử chậm nhất là năm ngày trước ngày bầu cử;
5- Niêm yết danh sách những người ứng cử trong đơn vị bầu cử;
6- Kiểm tra công việc bầu cử tại các phòng bỏ phiếu;
7- Nhận xét kiểm tra biên bản kết quả kiểm phiếu do các Tổ bầu cử gửi đến; làm biên bản  xác định kết quả bầu cử ở đơn vị bầu cử để gửi đến Hội đồng bầu cử, Uỷ ban bầu cử và thông báo kết quả đó;
8- Nhận và chuyển đến Uỷ ban bầu cử khiếu nại, tố cáo về người ứng cử; xét và giải quyết khiếu nại, tố cáo về công tác của các Tổ bầu cử ;
9- Báo cáo tình hình tổ chức và tiến hành bầu cử theo quy định của Hội đồng bầu cử và Uỷ ban bầu cử;
10- Giao hồ sơ, tài liệu về bầu cử cho Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;
11- Tổ chức việc bầu cử lại, bầu cử thêm.

Nhiệm vụ và quyền hạn của Tổ bầu cử (Điều 17):
1- Tổ chức việc bầu cử trong khu vực bỏ phiếu;
2- Bố trí phòng bỏ  phiếu và chuẩn bị hòm phiếu;
3- Phát thẻ cử tri cho cử tri chậm nhất là hai ngày trước ngày bầu cử, trừ những trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 23 của Luật này; phát phiếu bầu cử cho cử tri có đóng dấu của Tổ bầu cử;
4- Bảo đảm trật tự trong phòng bỏ phiếu;
5- Kiểm phiếu và làm biên bản kết quả kiểm phiếu để gửi đến Ban bầu cử;
6- Giao biên bản kết quả kiểm phiếu và toàn bộ phiếu bầu cho Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn;
7- Báo cáo tình hình tổ chức và tiến hành bầu cử theo quy định của các tổ chức phụ trách bầu cử cấp trên;
8- Tổ chức thực hiện việc bầu cử lại, bầu cử thêm.

5. Trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong việc bầu cử đại biểu Quốc hội:
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội và các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, các tầng lớp xã hội, các dân tộc, các tôn giáo và người Việt Nam định cư ở nước ngoài”. Mặt trận tổ quốc có vai trò rất lớn trong việc bầu cử đại biểu Quốc hội. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có trách nhiệm tổ chức hiệp thương lựa chọn, giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội và tham gia giám sát việc bầu cử đại biểu Quốc hội để làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ chức đại diện khối đại đoàn kết toàn dân, là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân (Điều 5).

6. Vai trò của Thường trực Hội đồng nhân dân các cấp trong việc bầu cử đại biểu Quốc hội
Để phát huy và đề cao trách nhiệm  của Hội đồng nhân dân các cấp với tư cách là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương trong việc tổ chức và tiến hành bầu cử đại biểu Quốc hội, tại Điều 6 của Luật đã xác định rõ vị trí của Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, huyện, quận, thị xã thuộc tỉnh, xã, phường, thị trấn trong phạm vi nhiệm vụ và quyền hạn của mình có trách nhiệm thực hiện công tác bầu cử theo quy định của pháp luật. Và tại các điều 15, 16 và 17 đã chính thức giao cho Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương sau khi thống nhất với Uỷ ban nhân dân và Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp quyết định thành lập Uỷ ban bầu cử, Ban bầu cử; Chủ tịch Hội đồng nhân dân xã, phường, thị trấn sau khi thống nhất với Uỷ ban nhân dân, Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp quyết định thành lập các Tổ bầu cử.

7. Tổng số đại biểu Quốc hội và cách phân bổ số lượng đại biểu Quốc hội ở mỗi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương:

a. Về tổng số đại biểu Quốc hội:
Điều 8 của Luật quy định tổng số đại biểu Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam không quá 500 người.

b. Về cách phân bổ đại biểu Quốc hội:
Cũng tại Điều 8 của Luật quy định căn cứ để Uỷ ban thường vụ Quốc hội dự kiến phân bổ đại biểu Quốc hội được bầu của mỗi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, đó là:
- Mỗi tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có ít nhất 3 đại biểu cư trú, làm việc tại địa phương;
- Số đại biểu tiếp theo được tính theo số dân và dặc điểm của mỗi địa phương;
- Thủ đô Hà Nội được phân bổ số đại biểu thích đáng.

8. Về việc dự kiến cơ cấu, thành phần, số lượng đại biểu Quốc hội được bầu của các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, lực lượng vũ trang nhân dân, cơ quan Nhà nước ở trung ương và địa phương.
Uỷ ban thường vụ Quốc hội dự kiến cơ cấu, thành phần, số lượng đại biểu Quốc hội được bầu của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, lực lượng vũ trang nhân dân, cơ quan Nhà nước ở trung ương và địa phương (Điều 9).
Số đại biểu Quốc hội là người dân tộc thiểu số do Uỷ ban thường vụ Quốc hội dự kiến theo đề nghị của Hội đồng dân tộc của Quốc hội, bảo đảm để các thành phần dân tộc thiểu số có số đại biểu thích đáng (Điều 10).
Số đại biểu Quốc hội là phụ nữ do Uỷ ban thường vụ Quốc hội dự kiến trên cơ sở đề nghị của Đoàn Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam đảm bảo để có số đại biểu thích đáng (Điều 10a).
Luật bầu cử đại biểu Quốc hội quy định Uỷ ban thường vụ Quốc hội dự kiến cơ cấu, thành phần, số lượng đại biểu Quốc hội lần đầu, còn sau đó là điều chỉnh cơ cấu, thành phần, số lượng đại biểu Quốc hội của các cơ quan, tổ chức, đơn vị ở trung ương và địa phương theo đề nghị của Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận  Tổ quốc các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.

9. Về danh sách cử tri:
Điều 22 quy định mọi công dân có quyền bầu cử đại biểu Quốc hội (trừ những người quy định tại khoản 1, Điều 23 của Luật như đã nói ở trên) đều được ghi tên vào danh sách cử tri nơi mình thường trú hoặc tạm trú.
Điều 24 quy định danh sách cử tri do Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn lập theo khu vực bỏ phiếu. Đối với đơn vị vũ trang nhân dân thì danh sách cử tri do chỉ huy đơn vị lập.
Hiện nay có nhiều quân nhân có hộ khẩu thường trú ở địa phương. Để tạo điều kiện thuận lợi cho quân nhân thực hiện quyền bầu cử của mình, Luật bầu cử đại biểu Quốc hội đã quy định rõ là quân nhân có hộ khẩu thường trú ở địa phương gần khu vực đóng quân có thể được ghi tên vào danh sách cử tri nơi thường trú và được tham gia bỏ phiếu ở địa phương đó.
Điều 25 quy định chậm nhất là 30 ngày trước ngày bầu cử, cơ quan lập danh sách cử tri phải niêm yết danh sách cử tri tại trụ sở Uỷ ban nhân dân cấp xã và những nơi công cộng của khu vực bỏ phiếu, đồng thời phải thông báo việc niêm yết để nhân dân biết kiểm tra.
Trong trường hợp phát hiện có sai sót thì mọi người có quyền khiếu nại, tố cáo hoặc kiến nghị với cơ quan lập danh sách cử tri. Nếu không đồng ý với kết quả giải quyết thì khiếu nại lên Toà án nhân dân cấp huyện. Trong thời hạn 5 ngày, Toà án phải giải quyết. Quyết định của Toà án đó là quyết định cuối cùng.
Nếu vì lý do nào đó mà công dân không thể bỏ phiếu ở nơi đã được ghi tên vào danh sách cử tri thì có quyền xin giấy chứng nhận của Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi đó để được ghi tên và bỏ phiếu ở nơi mới đến.

10. Hồ sơ ứng cử và Hiệp thương giới thiệu người ứng cử:
a- Hồ sơ ứng cử:
- Thời gian nộp hồ sơ ứng cử:
+ Điều 28 quy định công dân ứng cử đại biểu Quốc hội (bao gồm người được cơ quan, tổ chức, đơn vị giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử đại biểu Quốc hội) (trừ những người quy định tại Điều 29 của Luật như đã nói ở trên), thì chậm nhất là 65 ngày trước ngày bầu cử phải nộp hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội.

- Hồ sơ ứng cử gồm:
+ Đơn xin ứng cử;
+ Sơ yếu lý lịch có chứng nhận của cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi người đó công tác hoặc Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi người đó thường trú;
+ Tiểu sử tóm  tắt và ba ảnh mầu cỡ 4x6.

- Nơi nộp hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội:
+ Người được tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, lực lượng vũ trang nhân dân, cơ quan nhà nước ở trung ương giới thiệu ứng cử thì nộp hồ sơ tại Hội đồng bầu cử.
+ Người được tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội- nghề nghiệp, tổ chức xã hội- nghề nghiệp, tổ chức xã hội, lực lượng vũ trang nhân dân, cơ quan nhà nước ở địa phương giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử thì nộp hồ sơ tại Uỷ ban bầu cử nơi mình ứng cử.

Trách nhiệm của Hội đồng bầu cử, Uỷ ban bầu cử:
Sau khi nhận và xem xét hồ sơ của những người ứng cử, nếu thấy hợp lệ theo quy định của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội, thì Hội đồng bầu cử chuyển tiểu sử tóm tắt và danh sách trích ngang của những người được các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội- nghề nghiệp, tổ chức xã hội- nghề nghiệp, tổ chức xã hội, lực lượng vũ trang nhân dân, cơ quan Nhà nước ở trung ương giới thiệu đến Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Uỷ ban bầu cử chuyển tiểu sử tóm tắt và danh sách trích ngang của những người được các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội- nghề nghiệp, tổ chức xã hội- nghề nghiệp, tổ chức xã hội, lực lượng vũ trang nhân dân, cơ quan nhà nước ở địa phương giới thiệu ứng cử và tiểu sử tóm tắt, danh sách trích ngang của những người tự ứng cử đến Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương để đưa vào danh sách hiệp thương.

b- Về quy trình hiệp thương giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội:
- Luật bầu cử đại biểu Quốc hội quy định rõ quy trình hiệp thương giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội gồm 3 bước như sau:
+ Điều 30 và Điều 31 quy định về việc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tổ chức hội nghị hiệp thương lần thứ nhất chậm nhất là 85 ngày trước ngày bầu cử, để thoả thuận về cơ cấu, thành phần đại biểu Quốc hội, số lượng người của cơ quan, tổ chức, đơn vị được bầu làm đại biểu Quốc hội, trên cơ sở dự kiến của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
+ Điều 37 và Điều 38 quy định về việc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tổ chức hội nghị hiệp thương lần thứ hai chậm nhất là 60 ngày trước ngày bầu cử để thoả thuận lập danh sách sơ bộ những người ứng cử đại biểu Quốc hội và gửi lấy ý kiến cử tri nơi cư trú (đối với người tự ứng cử  đại biểu Quốc hội thì đồng thời gửi lấy ý kiến cử tri nơi người đó công tác hoặc làm việc (nếu có)), trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
+ Điều 42 và Điều 43 quy định về việc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tổ chức hội nghị hiệp thương lần thứ  ba chậm nhất là 35 ngày trước ngày bầu cử để lựa chọn, lập danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Quốc hội, trên cơ sở điều chỉnh lần thứ hai của Uỷ ban thường vụ Quốc hội và kết quả lấy ý kiến cử tri.

- Thành phần hội nghị hiệp thương:
+ Hội nghị hiệp thương ở trung ương do Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tổ chức, thành phần gồm Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đại diện Ban lãnh đạo các tổ chức thành viên của Mặt trận. Đại diện Hội đồng bầu cử, Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Chính phủ được mời tham dự Hội nghị này.
+ Hội nghị hiệp thương ở địa phương do Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tổ chức, thành phần gồm Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp tỉnh, đại diện ban lãnh đạo các tổ chức thành viên của Mặt trận và đại diện Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh. Đại diện Uỷ ban bầu cử, Thường trực Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân cùng cấp được mời tham dự Hội nghị này.
11. Về việc giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội của các cơ quan, tổ chức, đơn vị (Điều 34, Điều 35):
+ Ở tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội- nghề nghiệp, tổ chức xã hội- nghề nghiệp, tổ chức xã hội thì Ban  lãnh đạo của tổ chức đó dự kiến người của tổ chức mình ứng cử đại biểu Quốc hội, tổ chức lấy ý kiến nhận xét của Hội nghị cử tri nơi người đó công tác. Trên cơ sở ý kiến của Hội nghị cử tri, Ban lãnh đạo tổ chức hội nghị Ban Thường vụ mở rộng, Ban Thường trực mở rộng hoặc Đoàn Chủ tịch mở rộng để thảo luận, giới thiệu người của tổ chức mình ứng cử đại biểu Quốc hội;
+ Ở cơ quan Nhà nước thì Ban lãnh đạo cơ quan phối hợp với Ban Chấp  hành công đoàn dự kiến người của cơ quan mình ứng cử đại biểu Quốc hội, tổ chức lấy ý kiến  nhận xét của Hội nghị cử tri nơi người đó công tác. Trên cơ sở ý kiến của Hội nghị cử tri, Thủ trưởng cơ quan tổ chức hội nghị gồm Ban lãnh đạo cơ quan, Ban Chấp hành công đoàn, đại diện lãnh đạo các đơn vị trực thuộc để thảo luận, giới thiệu người của cơ quan mình ứng cử đại biểu Quốc hội;
+ Ở đơn vị vũ trang nhân dân thì lãnh đạo, chỉ huy đơn vị dự kiến người của đơn vị mình ứng cử đại biểu Quốc hội, tổ chức lấy ý kiến nhận xét của Hội nghị cử tri nơi người đó công tác. Trên cơ sở ý kiến của Hội nghị cử tri, lãnh đạo, chỉ huy đơn vị tổ chức hội nghị gồm lãnh đạo, chỉ huy đơn vị, đại diện Ban Chấp hành công đoàn (nếu có), đại diện quân nhân và chỉ huy cấp dưới trực tiếp để thảo luận, giới thiệu người của đơn vị mình ứng cử đại biểu Quốc hội.

12. Quy trình tiến hành hội nghị cử tri (Điều 39):
Luật bầu cử đại biểu Quốc hội quy định:
+ Hội nghị cử tri ở xã, phường, thị trấn được tổ chức theo đơn vị thôn, xóm, tổ dân phố buôn, bản, ấp nơi cư trú thường xuyên của người ứng cử do Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc  xã, phường, thị trấn phối hợp với Uỷ ban nhân dân cùng cấp triệu tập và chủ trì.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại diện cơ quan, tổ chức, đơn vị có người ứng cử được mời tham dự Hội nghị này.
+ Hội nghị cử tri ở tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội- nghề nghiệp, tổ chức xã hội- nghề nghiệp, tổ chức xã hội do Ban lãnh đạo và Ban Chấp hành công đoàn tổ chức triệu tập và chủ trì; Hội nghị cử tri ở cơ quan Nhà nước do Ban lãnh đạo phối hợp với Ban Chấp hành công đoàn cơ quan triệu tập và chủ trì; Hội nghị cử tri ở đơn vị vũ trang nhân dân là Hội nghị quân nhân do lãnh đạo, chỉ huy đơn vị triệu tập và chủ trì.
Người ứng cử  đại biểu Quốc hội được mời tham dự Hội nghị này.
+ Tại các Hội nghị trên, cử tri đối chiếu với tiêu chuẩn đại biểu Quốc hội nhận xét, bày tỏ sự tín nhiệm đối với người ứng cử đại biểu Quốc hội  bằng cách giơ tay hoặc bỏ phiếu kín theo quyết định của Hội nghị.
Biên bản Hội nghị cử tri lấy ý kiến về những người do cơ quan, tổ chức, đơn vị ở trung ương giới thiệu được gửi đến Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Biên bản Hội nghị cử tri lấy ý kiến về những người do cơ quan, tổ chức, đơn vị ở địa phương giới thiệu và những người tự ứng cử được gửi đến Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.
+ Việc tổ chức Hội nghị cử tri nêu trên do Uỷ ban thường vụ Quốc hội phối hợp với Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hướng dẫn.
Uỷ ban thường vụ Quốc hội đã phối hợp với Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ban hành Nghị quyết liên tịch số 618/NQLT/UBTVQH-ĐCTUBTWMTTQVN ngày 24 tháng 1 năm 2007 ban hành Quy trình hiệp thương lựa chọn, giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội, trong đó hướng dẫn chi tiết về thành phần tham dự các Hội nghị, nội dung hội nghị và quy trình giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XII.

13. Về danh sách những người ứng cử:
 - Điều 44 và Điều 45 quy định chậm nhất là 30 ngày trước ngày bầu cử, Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam gửi đến Hội đồng bầu cử, Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương gửi đến Uỷ ban bầu cử danh sách chính thức những người được Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội.
- Điều 46 và Điều 47 quy định chậm nhất là 25 ngày trước ngày bầu cử, Hội đồng bầu cử lập và công bố danh sách những người ứng cử theo từng đơn vị bầu cử trong cả nước theo danh sách chính thức do Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các Uỷ ban bầu cử gửi đến; chậm nhất là 20 ngày trước ngày bầu cử Ban bầu cử phải niêm yết danh sách người ứng cử ở địa phương mình theo quyết định của Hội đồng bầu cử.

14. Về tuyên truyền vận động bầu cử:
Hội đồng bầu cử chỉ đạo công tác thông tin, tuyên truyền và vận động bầu cử trong phạm vi cả nước; Uỷ ban bầu cử chỉ đạo công tác thông tin, tuyên truyền  và vận động bầu cử tại địa phương (Điều 50). Các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân, cơ quan thông tấn báo chí trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm tuyên truyền về cuộc bầu cử (Điều 51).
Người ứng cử thực hiện quyền vận động bầu cử thông qua việc gặp gỡ, tiếp xúc với cử tri và các phương tiện thông tin đại chúng để báo cáo với cử tri dự kiến thực hiện trách nhiệm của người đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội; việc gặp gỡ, tiếp xúc cử tri do Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tổ chức (Điều 52).
Nguyên tắc tiến hành vận động bầu cử là bảo đảm dân chủ, bình đẳng đúng pháp luật và bảo đảm trật tự, an toàn xã hội (Điều 53) và căn cứ chương II của Nghị quyết số 1078/2007/NQ-UBTVQH11 ngày 29 tháng 01 năm 2007 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội hướng dẫn một số điểm về việc tổ chức cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XII.

15. Về việc giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến bầu cử:
Luật bầu cử đại biểu Quốc hội quy định khá cụ thể về khiếu nại, tố cáo và kiến nghị của công dân liên quan đến bầu cử. Các cơ quan, tổ chức hữu quan có trách nhiệm nghiên cứu, xác minh và giải quyết các khiếu nại, tố cáo hoặc kiến nghị đó theo trình tự, thủ tục, thời hạn do pháp luật quy định và theo Nghị quyết số 1078/2007/NQ-UBTVQH11 ngày 29 tháng 01 năm 2007 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

16. Về trình tự bầu cử:
Điều 54 quy định ngày bầu cử phải là ngày chủ nhật, do Uỷ ban thường vụ Quốc hội ấn định và công bố chậm nhất là 105 ngày trước ngày bầu cử.
Trong trường hợp đặc biệt cần hoãn ngày bỏ phiếu hoặc bỏ phiếu sớm hơn thì Ban bầu cử phải báo cáo với Uỷ ban bầu cử để đề nghị Hội đồng bầu cử xem xét, quyết định (Điều 55).
Điều 56 quy định trong thời hạn 10 ngày trước ngày bầu cử, Tổ bầu cử phải thường xuyên thông báo cho cử tri biết ngày bầu cử, nơi bỏ phiếu, thời gian bỏ phiếu.
Luật quy định rõ cử tri phải tự mình đi bầu. Trong trường hợp cử tri không thể tự mình viết được phiếu thì nhờ người khác viết hộ, nhưng phải tự mình bỏ phiếu, người viết hộ phải bảo đảm bí mật phiếu bầu; người vì tàn tật không tự bỏ phiếu được thì nhờ người khác bỏ phiếu vào hòm phiếu. Trong trường hợp cử tri ốm đau, già yếu, tàn tật không thể đến phòng bỏ phiếu được thì Tổ bầu cử mang hòm phiếu phụ và phiếu bầu đến chỗ ở của cử tri để cử tri bầu; mỗi cử tri chỉ có quyền bỏ một phiếu bầu. Nếu viết hỏng cử tri có quyền đề nghị Tổ bầu cử đổi phiếu bầu khác.
Khi đã hết giờ bỏ phiếu, nếu còn cử tri có mặt tại phòng bỏ phiếu mà chưa kịp bỏ phiếu thì chỉ sau khi số cử tri này bỏ phiếu xong, Tổ bầu cử mới được tuyên bố kết thúc cuộc bỏ phiếu.

17. Về kết quả bầu cử:
a) Sau khi nhận được biên bản kết quả kiểm phiếu của các Tổ bầu cử, Ban bầu cử kiểm tra biên bản và lập biên bản xác định kết quả bầu cử ở đơn vị bầu cử của mình gửi đến Hội đồng bầu cử, Uỷ ban bầu cử. Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chậm nhất là 5 ngày sau ngày bầu cử.
 b) Sau khi nhận và kiểm tra biên bản xác định kết quả bầu cử của các Ban bầu cử và giải quyết các khiếu nại (nếu có), Uỷ ban bầu cử lập biên bản xác định kết quả bầu cử ở địa phương, gửi đến Hội đồng bầu cử Uỷ ban  trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chậm nhất là 7 ngày sau ngày bầu cử.
c) Trong cuộc bầu cử nếu số người trúng cử chưa đủ số đại biểu được bầu ở đơn vị bầu cử thuộc địa phương nào thì Uỷ ban bầu cử ở địa phương đó báo cáo ngay đến Hội đồng bầu cử xem xét, quyết định việc bầu cử  thêm. Nếu bầu cử thêm thì ngày bầu cử được tiến hành chậm nhất là 20 ngày sau ngày bầu cử.
d) Ở đơn vị bầu cử thuộc địa phương nào nếu số cử tri đi bỏ phiếu chưa được quá nửa số cử tri ghi trong danh sách thì Uỷ ban bầu cử ở địa phương đó báo cáo ngay đến Hội đồng bầu cử xem xét , quyết định việc bầu cử lại ở đơn vị bầu cử đó. Nếu bầu cử lại thì ngày bầu cử được tiến hành chậm nhất là 15 ngày sau ngày bầu cử.

Về việc xác định phiếu không hợp lệ.
Điều 65 quy định những phiếu bầu sau đây là phiếu không hợp lệ:
1- Phiếu không theo mẫu quy định do Tổ bầu cử phát;
2- Phiếu không có dấu của Tổ bầu cử;
3- Phiếu để số người được bầu quá số đại biểu mà đơn vị bầu cử được bầu;
4- Phiếu gạch xoá hết tên những người ứng cử;
5- Phiếu ghi tên người ngoài danh sách ứng cử;  phiếu có viết thêm; phiếu có gạch vào khoảng cách giữa họ và tên hai ứng cử viên; phiếu khoanh tròn họ và tên ứng cử viên.

18. Việc bầu cử thêm, bầu cử lại:
Để đảm bảo công bằng, bình đẳng đối với người trúng cử trong cuộc bầu cử lần thứ nhất và người trúng cử trong cuộc bầu cử thêm, bầu cử lại, Điều 71 và Điều 72 quy định: Đối với cuộc bầu cử thêm và bầu cử lại chỉ có giá trị khi có quá nửa số cử tri đi bầu. Người trúng cử phải được quá nửa số phiếu hợp lệ. Nếu bầu cử thêm mà vẫn chưa đủ số đại biểu thì không tổ chức bầu cử thêm lần thứ 2; nếu bầu cử lại mà số cử tri đi bầu vẫn chưa được quá nửa số cử tri ghi tên trong  danh sách thì không tổ chức bầu cử lại lần thứ hai.

19. Việc huỷ bỏ kết quả bầu cử và việc giải quyết khiếu nại về kết quả bầu cử:
a) Việc huỷ bỏ kết quả bầu cử:
Điều 73 quy định: Hội đồng bầu cử tự mình hoặc theo đề nghị của Chính phủ, Uỷ ban trunh ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Uỷ ban bầu cử huỷ bỏ kết quả bầu cử ở đơn vị bầu cử có vi phạm pháp luật nghiêm trọng và quyết định ngày bầu cử lại ở đơn vị bầu cử đó.

b) Việc giải quyết khiếu nại về kết quả bầu cử
Điều 78 quy định về việc giải quyết khiếu nại về kết quả bầu cử:
- Mọi khiếu nại về kết quả bầu cử phải được gửi đến Hội đồng bầu cử chậm nhất là mười ngày kể từ ngày Hội đồng bầu cử công bố kết quả bầu cử.
- Hội đồng bầu cử có trách nhiệm xem xét, giải quyết khiếu nại về kết quả bầu cử trong thời hạn ba mươi ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại. Quyết định  giải quyết khiếu nại về kết quả bầu cử  của Hội đồng bầu cử là quyết định cuối cùng. Hội đồng bầu cử quyết định cuối cùng về khiếu nại kết quả bầu cử là để đảm bảo thời gian trình kỳ họp đầu tiên cuả Quốc hội mới (60 ngày sau ngày bầu cử); sau đó các cơ quan chức năng sẽ tiếp tục xem xét giải quyết theo  quy định của pháp luật.

20. Về việc bầu cử bổ sung đại biểu Quốc hội:
Điều 79 quy định trong nhiệm kỳ, nếu đơn vị bầu cử nào khuyết đại biểu Quốc hội thì có thể bầu bổ sung đại biểu Quốc hội ở đơn vị đó; nếu thời gian còn lại  của nhiệm kỳ Quốc hội dưới 2 năm thì không tổ chức bầu cử bổ sung.
Điều 80 quy định Uỷ ban thường vụ Quốc hội có thẩm quyền quyết định việc bầu cử bổ sung, thành lập Uỷ ban bầu cử bổ sung, quyết định ngày bầu cử bổ sung và công bố chậm nhất là 30 ngày trước ngày bầu cử.
Điều 82 quy định chậm nhất là 20 ngày trước ngày bầu cử bổ sung, Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương sau khi thống nhất ý kiến với Uỷ ban nhân dân, Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp quyết định thành lập Ban bầu cử bổ sung.
Điều 83 quy định chậm nhất là 15 ngày trước ngày bầu cử bổ sung, Chủ tịch Hội đồng nhân dân xã, phường, thị trấn sau khi thống nhất với Uỷ ban nhân dân, Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp quyết định thành lập Tổ bầu cử bổ sung.
Nhiệm vụ và quyền hạn của Uỷ ban bầu cử bổ sung, Ban bầu cử bổ sung, Tổ bầu cử bổ sung cũng như thể thức bỏ phiếu, trình tự bầu cử và xác định kết quả bầu cử bổ sung được áp dụng các quy định tương ứng của Luật này.

21. Về việc xử lý vi phạm về bầu cử:
Điều 87 và Điều 88 quy định rõ người nào dùng thủ đoạn lừa gạt, mua chuộc hoặc cưỡng ép làm trở ngại việc bầu cử, ứng cử đại biểu Quốc hội của công dân; người giả mạo giấy tờ, gian lận phiếu bầu hoặc dùng thủ đoạn khác để làm sai lệch kết quả bầu cử hoặc trả thù người khiếu nại, tố cáo về bầu cử, thì tuỳ theo mức độ vi phạm mà xử lý kỷ luật hoặc xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.

* Luật bầu cử đại biểu Quốc hội năm 1997 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội số 31/2001/QH 10 ngày 25 tháng 12 năm 2001của Quốc hội khoá X, kỳ họp thứ 10 (gọi chunglà Luật bầu cử đại biểu Quốc hội).

Loại văn bản : Luật
Lĩnh vực : Tổ chức nhà nước
Toàn văn luật đã ban hành : Xem chi tiết

Luật Việt
Các tin tiếp
Luật Dược    (16/2/2008)
Các tin trước
Luật Chứng khoán    (16/2/2008)
Luật An ninh quốc gia    (16/2/2008)
Luật Thanh tra    (15/2/2008)
Luật Cư trú    (15/2/2008)
Pháp lệnh Thú y    (15/2/2008)