Luật Thanh niên
19:29' 16/2/2008
... Các thách thức đó của thanh niên đòi hỏi phải ban hành Luật Thanh niên, nhằm điều chỉnh quyền và nghĩa vụ của thanh niên, điều chỉnh các quan hệ xã hội liên quan đến thanh niên, tạo ra môi trư­ờng pháp lý, kinh tế, văn hoá và xã hội lành mạnh cho thanh niên học tập, rèn luyện và phát huy đầy đủ tiềm năng của mình, góp phần hình thành và phát huy nguồn nhân lực thanh niên phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nư­ớc...


I. SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH LUẬT THANH NIÊN

1. Tình hình thanh niên hiện nay đòi hỏi phải ban hành Luật Thanh niên.
Thanh niên là lực l­ượng xã hội to lớn, góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Ngày nay thanh niên có trình độ học vấn, trình độ chuyên môn kỹ thuật, khoa học công nghệ cao hơn trước, đời sống vật chất, tinh thần và sức khoẻ được nâng cao, có khát vọng vươn lên, không cam chịu đói nghèo, lạc hậu, mong muốn xây dựng đất nước theo mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Ý thức tự lập thân, lập nghiệp, lòng nhân ái, nhân văn, tính tích cực xã hội, tinh thần xung phong tình nguyện thanh niên đang được phát huy và thể hiện trên nhiều lĩnh vực.

Tuy nhiên, đứng tr­ước những yêu cầu ngày càng cao của công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế, trong thanh niên cũng còn bộc lộ những hạn chế: Trình độ học vấn chuyên môn kỹ thuật tuy có cao hơn trước nhưng còn hạn chế về tư duy sáng tạo, về năng lực vận dụng những điều đã học vào giải quyết những vấn đề đặt ra trong cuộc sống. Nhìn chung thanh niên Việt Nam còn thiếu những kiến thức, kỹ năng cần thiết cho yêu cầu phát triển và hội nhập, như trình độ tin học, ngoại ngữ,  giao tiếp, hợp tác, tính chủ động sáng tạo, khả năng tự lập, khả năng thích ứng trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN.

Công cuộc đổi mới đất nước trong những năm qua đã đạt được những thành tựu to lớn về kinh tế- xã hội, góp phần nâng cao đời sống vật chất tinh thần của nhân dân, tạo ra những điều kiện tốt hơn cho việc đào tạo, bồi dưỡng và phát huy vai trò thanh niên. Nhưng đồng thời, thanh niên cũng đang phải đối mặt với nhiều thách thức mới, nh­ư sự phân hoá giàu nghèo, những biểu hiện xuống cấp về đạo đức xã hội, tỷ lệ ly hôn tăng, nhất là trong các cặp vợ chồng trẻ; lốisống thực dụng, chạy theo tiền bạc, coi thư­ờng giá trị văn hoá dân tộc...đang tác động trực tiếp đến nhận thức và hành vi của bộ phận thanh niên. Tỷ lệ thanh niên đôthị thất nghiệp, thanh niên khu vực nông thôn thiếu việc làm còn cao; số lao động trẻ qua đào tạo chiếm tỷ lệ thấp (mới đạt khoảng trên 15%). Nhiều thanh niên được đào tạo cơ bản có trình độ, năng lực nhưng chưa được sử dụng hợp lý. Tầm vóc, thể lực của thanh niên tuy có tiến bộ nhưng còn chưa theo kịp các nước trong khu vực.

Tình trạng vi phạm pháp luật, mắc tệ nạn xã hội trong thanh niên diễn biến phức tạp và có xu hướng gia tăng. Theo số liệu thống kê của các cơ quan pháp luật, năm 2002 có hơn 70% số tội phạm hình sự và gần 80% số người mắc tệ nạn ma tuý, mại dâm là thanh niên, khoảng 70,6 % số người nhiễm HIV ở độ tuổi dưới 30.

Những năm gần đây, số thanh niên lao động nhập cư từ nông thôn về thành phố, về làm việc tại các khu công nghiệp, thanh niên đi học tập, lao động ở nước ngoài tăng nhanh (TP Hồ Chí Minh có khoảng 1,2 triệu lao động nhập cư, trong đó có tới trên 70% là thanh niên, tỉnh Bình Dương, tỉnh Đồng Nai có hàng trăm nghìn thanh niên lao động trong các khu công nghiệp, cả nước có khoảng 4 vạn thanh niên đi xuất khẩu lao động); tỷ lệ thanh niên nghèo, thanh niên có hoàn cảnh đặc biệt… còn cao, đang tạo nên áp lực lớn đối với công tác quản lý nhà nước và việc đảm bảo các điều kiện để cải thiện đời sống cho người lao động, trong đó có lao động trẻ.

Những điểm mạnh, yếu, khó khăn và thách thức trên đây của thanh niên đòi hỏi phải ban hành Luật Thanh niên, nhằm điều chỉnh quyền và nghĩa vụ của thanh niên, điều chỉnh các quan hệ xã hội liên quan đến thanh niên, tạo ra môi trư­ờng pháp lý, kinh tế, văn hoá và xã hội lành mạnh cho thanh niên học tập, rèn luyện và phát huy đầy đủ tiềm năng của mình, góp phần hình thành và phát huy nguồn nhân lực thanh niên phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nư­ớc.

2. Việc ban hành Luật Thanh niên là sự thể chế hoá các chủ trương, đư­ờng lối của Đảng về thanh niên và công tác thanh niên.
Ngay từ khi ra đời, Đảng ta đã xác định công tác thanh niên là công tác của Đảng, một trong các vấn đề có ý nghĩa quyết định sự thành bại của cách mạng. Tại Án nghị quyết về Cộng sản thanh niên vận động tháng 10 năm 1930, Đảng ta khẳng định : "Thanh niên lao động đã thành một lực lượng cách mạng quan trọng không thể không kể tới đ­ược". Trải qua 75 năm xây dựng và phát triển, Đảng ta đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị, văn bản quan trọng về công tác thanh niên. Trong các văn bản này, Đảng ta không chỉ khẳng định vai trò to lớn của thanh niên trong sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc, mà còn khẳng định sự cần thiết phải tăng c­ường quản lý nhà nư­ớc đối với thanh niên, ban hành Luật Thanh niên, tạo ra môi trư­ờng pháp lý thuận lợi để các cấp, các ngành và mỗi công dân chăm lo bồi d­ưỡng, giáo dục và phát huy tiềm năng to lớn của thanh niên. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ­ương Đảng (khoá VII) về công tác thanh niên trong thời kỳ mới khẳng định: “Sự nghiệp đổi mới có thành công hay không, đất n­ước b­ước vào thế kỷ 21 có vị trí xứng đáng trong cộng đồng thế giới hay không phần lớn tuỳ thuộc vào lực lượng thanh niên, vào việc bồi dưỡng, rèn luyện thế hệ thanh niên; công tác thanh niên là vấn đề sống còn của dân tộc, là một trong những nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng”.

Thực hiện các chủ trư­ơng của Đảng về thanh niên và công tác thanh niên, những năm qua, Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương chính sách nhằm chăm lo cho sự nghiệp đào tạo, bồi dưỡng và phát huy vai trò to lớn của thanh niên, nhưng việc thể chế hoá chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước đối với thanh niên còn hạn chế, ch­ưa mang tính toàn diện và thiếu đồng bộ; việc ban hành Luật Thanh niên theo yêu cầu tại Nghị quyết 26 của Bộ chính trị (khoá V), Nghị quyết Trung ư­ơng 4 (khoá VII) về công tác thanh niên trong thời kỳ mới và Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII ch­ưa đư­ợc thực hiện;  Một số chính sách chư­a phù hợp thực tiễn và chậm đ­ược bổ sung, sửa đổi như các chính sách liên quan đến giáo dục và đào tạo, chính sách dạy nghề và tạo việc làm, chính sách sử dụng trí thức trẻ, chính sách tài năng trẻ, chính sách chăm sóc sức khoẻ và phát triển nền thể thao hiện đại, chính sách quản lý và h­ưởng thụ văn hoá.... Việc xác định thẩm quyền quản lý nhà nư­ớc đối với công tác thanh niên chư­a rõ ràng và thiếu tính khả thi. Ở không ít đơn vị, địa phư­ơng, công tác thanh niên hiện nay dư­ờng nh­ư là công việc của riêng cấp uỷ Đảng và của Đoàn thanh niên; việc phối hợp giữa các cơ quan Nhà nước, đoàn thể với Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh và Hội Liên hiệp thanh niên Việt Nam, Hội Sinh viên Việt Nam trong việc thực hiện các chính sách còn thiếu chặt chẽ. Sự tham gia công tác thanh niên của Nhà nước với tư­ cách là chủ thể quản lý, của các cấp, các ngành, của gia đình và các chủ thể xã hội khác còn thiếu cơ sở pháp lý và các cơ chế phối hợp thích hợp, chư­a huy động đư­ợc sức mạnh tổng hợp của toàn xã hội trong việc bảo vệ, chăm lo bồi dư­ỡng, phát huy thanh niên cũng như­ đầu tư­ cho công tác thanh niên, làm cho việc giáo dục, bồi d­ưỡng và phát huy nguồn nhân lực thanh niên tiếp tục khó khăn, lúng túng và kém hiệu quả, ảnh hưởng trực tiếp đến công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam theo con đư­ờng xã hội chủ nghĩa.

Nguyên nhân quan trọng của tình trạng trên đây là chúng ta còn thiếu cơ sở pháp lý để thực thi công tác thanh niên. Vì vậy, việc ban hành Luật Thanh niên hiện nay là cần thiết và cấp bách, là quá trình thể chế hoá đầy đủ các chủ trư­ơng của Đảng về công tác thanh niên, tạo ra môi trư­ờng xã hội thuận lợi cho việc giáo dục, bồi d­ưỡng để hình thành thế hệ thanh niên kế tục trung thành và xuất sắc sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng và dân tộc.

3. Việc ban hành Luật Thanh niên là đòi hỏi của quá trình xây dựng nhà n­ước pháp quyền XHCN.
Công tác thanh niên do Đảng lãnh đạo trực tiếp và toàn diện bằng các chỉ thị, nghị quyết và các chủ tr­ương công tác khác. Nhà nư­ớc, các đoàn thể, các tổ chức căn cứ chủ tr­ương của Đảng để tổ chức triển khai thực hiện. Trong thời kỳ mới, Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị thực hiện nhiệm vụ công tác thanh niên không chỉ thông qua việc ban hành các chỉ thị, nghị quyết, các chủ trư­ơng, mà còn thông qua việc lãnh đạo các cơ quan nhà nư­ớc có thẩm quyền thể chế các chủ tr­ương đó bằng các chính sách, pháp luật, để các chỉ thị, nghị quyết, các chủ trư­ơng của Đảng đi vào cuộc sống. Công tác thanh niên, do đó cũng đư­ợc quản lý bằng pháp luật, bằng hệ thống tổ chức của nhà nư­ớc và cơ chế phối hợp giữa các ngành, các cấp, gia đình, nhà trường và các chủ thể xã hội khác. Điều 66, Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) khẳng định: “Thanh niên đ­ược gia đình, Nhà n­ước và xã hội tạo điều kiện học tập, lao động và giải trí, phát triển thể lực, trí lực, bồi d­ưỡng về đạo đức, truyền thống dân tộc, ý thức công dân và lý tưởng xã hội chủ nghĩa, đi đầu trong công cuộc lao động sáng tạo và bảo vệ Tổ quốc”.

Việc ban hành Luật Thanh niên là quá trình cụ thể hoá Hiến pháp, là đòi hỏi của quá trình xây dựng nhà n­ước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội có liên quan đến thanh niên, góp phần xác định và đề cao trách nhiệm của Nhà n­ước, các cấp, các ngành, gia đình và xã hội đối với thanh niên và công tác thanh niên, tạo cơ sở pháp lý thúc đẩy việc thực hiện chủ tr­ương xã hội hoá công tác thanh niên, huy động các nguồn lực xã hội trong việc chăm lo giải quyết các nhu cầu chính đáng của thanh niên.

4. Việc ban hành Luật Thanh niên đáp ứng yêu cầu mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế của Nhà n­ước ta, trong đó có lĩnh vực thanh niên.
Vấn đề thanh niên luôn là mối quan tâm của các quốc gia trên thế giới và các tổ chức quốc tế, đặc biệt là cơ quan Liên hiệp quốc. Tại hầu hết các quốc gia, ở các mức độ khác nhau, trực tiếp hay gián tiếp, Nhà nư­ớc đều có các chủ trư­ơng đối với thanh niên. Các chủ tr­ương này (có thể tồn tại dư­ới dạng văn bản luật, chính sách, ch­ương trình, hay chiến l­ược...) đều hướng tới mục tiêu đào tạo, bồi d­ưỡng, giáo dục thanh niên và phát huy tốt nhất tiềm năng của thanh niên, phục vụ sự phát triển của mỗi quốc gia, dân tộc. Quốc gia thịnh hay suy, phát triển hay không phát triển và phát triển theo chiều hướng nào, một phần rất quan trọng phụ thuộc vào việc bồi dưỡng, phát huy cũng như­ định hư­ớng cho thanh niên. Để làm đ­ược việc đó, các quốc gia đều ban hành các chính sách/ luật pháp ở các mức độ và hình thức khác nhau với đối t­ượng tác động chính là thanh niên và các chủ thể xã hội liên quan đến thanh niên, bao gồm cả hệ thống bộ máy các cơ quan nhà nư­ớc.

Trong bối cảnh đó, việc ban hành Luật Thanh niên không chỉ khẳng định tính ­ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa, sự quan tâm của Đảng và Nhà nước ta đối với thanh niên, mà còn tạo thêm những điều kiện pháp lý cần thiết và tư­ơng thích, giúp cho việc đào tạo, bồi dư­ỡng thanh niên phù hợp với yêu cầu của các chuẩn mực quốc tế về thanh niên và công tác thanh niên. Ngày 29 tháng 11 năm 2005, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 8 đã thông qua Luật Thanh niên và ngày 09 tháng 12 năm 2005 Chủ tịch nước đã ký Lệnh số 24/2005/L/CTN công bố Luật Thanh niên.

II. QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO VIỆC XÂY DỰNG LUẬT THANH NIÊN

1. Quán triệt và thể chế hoá quan điểm của Đảng và tư tưởng Hồ Chí Minh, cụ thể hoá Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) về thanh niên và công tác thanh niên.

2. Tư tưởng xuyên suốt của dự án Luật Thanh niên là nhằm chăm lo giáo dục, bồi dưỡng và phát huy vai trò, tiềm năng to lớn của thanh niên trong thời kỳ mới - thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Dự án Luật Thanh niên cần làm rõ quyền và nghĩa vụ của thanh niên; làm rõ vai trò, trách nhiệm của Nhà nước, gia đình và xã hội trong việc đảm bảo cho thanh niên thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình.

Dự án Luật Thanh niên được xây dựng nhằm tạo cơ sở pháp lý thực hiện chăm lo, giáo dục, bồi dưỡng và phát huy thanh niên, quan tâm, đáp ứng nhu cầu, lợi ích chính đáng của thanh niên để họ trở thành nguồn nhân lực có chất lượng cao đi đầu trong công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và tăng cường quản lý Nhà nước về công tác thanh niên.

3. Dự án Luật Thanh niên phải phù hợp với trình độ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, bảo đảm tính khả thi và bảo đảm sự phù hợp, thống nhất với các luật khác trong hệ thống pháp luật Việt Nam.

III. BỐ CỤC VÀ NỘI DUNG CHỦ YẾU CỦA LUẬT

1. Bố cục:

Luật Thanh niên gồm 6 chương, với 36 điều:
- Chương I: Những quy định chung gồm 8 điều, từ Điều 1 đến Điều 8.
- Chương II: Quyền và nghĩa vụ của thanh niên gồm 8 điều, từ Điều 9 đến Điều 16.
- Chương III: Trách nhiệm của Nhà nước, gia đình và xã hội đối với thanh niên, gồm 11 điều, từ Điều 17 đến Điều 27.
- Chương IV: Trách nhiệm của Nhà nước, gia đình và xã hội trong việc bảo vệ, bồi dưỡng thanh niên từ đủ mười sáu tuổi đến dưới mười tám tuổi, gồm 4 điều, từ Điều 28 đến Điều 31. 
- Chương V: Tổ chức Thanh niên, có 3 điều, từ Điều 32 đến Điều 34.
- Chương VI: Điều khoản thi hành, có 2 điều, Điều 35 và Điều 36.

2. Nội dung chủ yếu của Luật.
Chương I: Những quy định chung.
Quy định những vấn đề chung nhất, mang tính nguyên tắc như: khái niệm thanh niên; phạm vi điều chỉnh và đối tư­ợng áp dụng; về quyền và nghĩa vụ của thanh niên... đặc biệt Luật nêu lên vấn đề mang tính nguyên tắc về sự bình đẳng giữa quyền và nghĩa vụ đối với các đối tượng thanh niên “ thanh niên không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hoá, nghề nghiệp đều được tôn trọng và bình đẳng về quyền và nghĩa vụ”; về vị trí, vai trò của thanh niên; trách nhiệm của Nhà n­ước, gia đình và xã hội đối với thanh niên, xã hội hoá công tác thanh niên; về Quản lý nhà nư­ớc về công tác thanh niên; Uỷ ban quốc gia về thanh niên Việt Nam; Hợp tác quốc tế về thanh niên và các hành vi bị nghiêm cấm đối với thanh niên.
Về độ tuổi thanh niên: căn cứ từ sự phân tích về phát triển thể chất, tâm lý, sinh lý, sự phát triển về mặt xã hội, ý thức tự lập, tự chủ của thanh niên; vừa đảm bảo sự kế tiếp với tuổi trẻ em đã được quy định trong Luật Bảo vệ, Chăm sóc và Giáo dục trẻ em, đồng  thời phù hợp với điều kiện thực tế Việt Nam và có tham khảo về quy định độ tuổi thanh niên của các nước trong khu vực và trên thế giới, Điều 1 Luật Thanh niên qui định độ tuổi của thanh niên là từ đủ 16 tuổi đến 30 tuổi.

Về cơ quan quản lý nhà nước về công tác thanh niên: để phù hợp với chủ trương cải cách hành chính nên trong Luật không quy định về tổ chức bộ máy làm nhiệm vụ quản lý công tác thanh niên. Việc quản lý nhà nước về công tác thanh niên thuộc trách nhiệm của Thủ trưởng các bộ, ngành và Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các cấp. Do đó, nếu thành lập một cơ quan ngang bộ để thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về công tác thanh niên sẽ dẫn đến chồng chéo  về chức năng, nhiệm vụ. Hơn nữa, ở nước ta, bên cạnh các cơ quan Nhà nước còn có tổ chức Đoàn TNCS Hồ Chí Minh là nơi tập hợp, đoàn kết, giáo dục thanh niên, đại diện chăm lo và bảo vệ lợi ích của thanh niên có trách nhiệm phát triển công tác thanh niên, làm lực lượng nòng cốt chính trị trong phong trào thanh niên và được quyền tham gia hoạt động quản lý Nhà nước và xã hội. Vì vậy, Điều 6 Luật Thanh niên quy định về Uỷ ban quốc gia về thanh niên Việt Nam là cơ quan tư vấn của Thủ tướng Chính phủ về công tác thanh niên nhằm tạo điều kiện cho Uỷ ban quốc gia về thanh niên Việt Nam làm tốt chức năng tư vấn cho Thủ tướng Chính phủ về công tác thanh niên.

Về các hành vi bị nghiêm cấm: Với tư cách là công dân, thanh niên phải thực hiện những hành vi  bị nghiêm cấm đã được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật như mọi công dân khác. Tuy nhiên, theo báo cáo của các cơ quan pháp luật, tình hình tội phạm và tệ nạn xã hội trong thanh thiếu niên có xu hướng gia tăng, nhất là những tội phạm về ma tuý, mại dâm, gây rối trật tự công cộng… đặc biệt là tội đua xe trái phép, sử dụng thuốc lắc…,  thực sự là vấn đề đáng lo ngại của toàn xã hội. Vì vậy, Điều 8 Luật Thanh niên quy định về các hành vi bị nghiêm cấm mang tính đặc thù thường xảy ra đối với lứa tuổi thanh niên và nghiêm cấm các tổ chức, cá nhân dụ dỗ, lôi kéo, ép buộc thanh niên thực hiện các hành vi này.

Chương II: Quyền và nghĩa vụ của thanh niên.
Chương này quy định về quyền, nghĩa vụ,trách nhiệm của thanh niên trong học tập; lao động; bảo vệ Tổ quốc; hoạt động khoa học, công nghệ và bảo vệ tài nguyên, môi trư­ờng; hoạt động văn hoá, nghệ thuật, du lịch, vui chơi, giải trí; bảo vệ sức khoẻ, hoạt động thể dục, thể thao; hôn nhân và gia đình; trong việc tham gia quản lý nhà nư­ớc và xã hội.

Luật Thanh niên nhằm tạo hành lang pháp lý thúc đẩy sự nghiệp đào tạo, bồi dưỡng và phát huy thanh niên. Ở chương này, căn cứ vào quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân để xác định quyền và nghĩa vụ thanh niên, đồng thời làm cơ sở pháp lý để định hướng cho thanh niên rèn luyện phấn đấu nâng cao trách nhiệm đối với bản thân mình, đối với dân tộc, đất nước thông qua việc tích cực thực hiện quyền và nghĩa vụ của thanh niên để vươn lên tự hoàn thiện mình, tích cực học tập, lao động lập thân, lập nghiệp. Quyền và nghĩa vụ thanh niên quy định tại chương này cũng là cơ sở để Nhà nước ban hành các chính sách, xác định trách nhiệm của Nhà nước, gia đình và xã hội nhằm tạo điều kiện cho việc đào tạo, phát huy thanh niên.

Ch­ương III: Trách nhiệm của Nhà n­ước, gia đình và xã hội đối với thanh niên
Những quy định ở chương này thể hiện những chính sách cơ bản của Nhà nước và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân nhằm huy động sức mạnh của các chủ thể cùng chăm lo giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng thanh niên, tạo những điều kiện thuận lợi để thanh niên có thể phát huy hết khả năng của mình rèn luyện, phấn đấu, lập thân, lập nghiệp, góp phần phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Các chính sách hướng đến việc tăng cường khả năng lập thân, lập nghiệp, khả năng tự giải quyết những vấn đề xã hội bức xúc của thanh niên trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN.

Từ Điều 17 đến Điều 23 là những quy định về trách nhiệm của Nhà nước, các chính sách của Nhà nư­ớc đối với thanh niên nói chung trong các lĩnh vực học tập và hoạt động khoa học, công nghệ, lao động, bảo vệ tổ quốc, hoạt động văn hoá nghệ thuật, vui chơi, giải trí, bảo vệ sức khoẻ và hoạt động thể dục, thể thao, hôn nhân và gia đình, tham gia quản lý nhà nước và xã hội.

Đối với một số đối tượng thanh niên có tính đặc thù như những đối tượng thanh niên có yếu thế trong cơ hội phát triển (thanh niên khuyết tật, tàn tật, thanh niên nhiễm HIV/AIDS, thanh niên sau cai nghiện ma tuý, sau cải tạo) hoặc là có tính tiên tiến, tích cực, có khả năng cống hiến (thanh niên xung phong, thanh niên có tài năng), Luật đã có quy định thêm một số chính sách nhằm để hỗ trợ cho nhóm yếu thế và phát huy nhóm thanh niên tích cực, tạo cơ hội bình đẳng về phát triển cho mọi đối tượng thanh niên: Từ Điều 24 đến Điều 27, quy định chính sách cho một số đối tư­ợng thanh niên, gồm thanh niên dân tộc thiểu số, thanh niên xung phong, thanh niên có tài năng, thanh niên khuyết tật, tàn tật, thanh niên nhiễm HIV/AIDS, thanh niên sau cai nghiện ma tuý, sau cải tạo.

Chư­ơng IV: Trách nhiệm của nhà n­ước, gia đình và xã hội trong việc bảo vệ, bồi dưỡng thanh niên từ đủ mười sáu đến d­ưới mười tám tuổi
Chương này quy định về trách nhiệm của nhà n­ước, gia đình, nhà trường và xã hội đối với thanh niên từ đủ mười sáu đến dưới mười tám tuổi; việc áp dụng Công ư­ớc quốc tế về quyền trẻ em đối với thanh niên từ đủ mười sáu đến dưới mười tám tuổi.

Thanh niên từ đủ mười sáu đến mười tám tuổi, là đối tư­ợng thanh niên chư­a thành niên, là lớp ngư­ời cần đư­ợc chăm lo giáo dục, bồi dưỡng để phát triển hoàn thiện bản thân trở thành ng­ười có ích cho xã hội. Đồng thời, theo công ước quốc tế về quyền trẻ em của Liên hiệp quốc mà nước ta đã ký kết và gia nhập năm 1990, thanh niên trong độ tuổi này vẫn là trẻ em. Vì vậy Luật Thanh niên dành riêng một chương quy định  trách nhiệm của Nhà nước, gia  đình và xã hội đối với lớp thanh niên này, đây là sự tiếp nối với Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em được Quốc hội khoá XI thông qua tại kỳ họp thứ 5 năm 2004, tạo nên một hệ thống các chế định pháp lý để bảo vệ, chăm sóc và giáo dục tốt hơn cho trẻ em theo quy định của công ước quốc tế về quyền trẻ em và cũng là thể hiện sự nhất quán về thái độ tích cực của Nhà nước ta nhằm thực hiện ngày càng tốt hơn những điều mà chúng ta đã cam kết với cộng đồng quốc tế. Các quy định trong chương này thể hiện sự ưu tiên trong việc chăm sóc, bảo vệ, bồi dưỡng, tạo những điều kiện thuận lợi cho thanh niên lứa tuổi này phát triển toàn diện trong quá trình hình thành nhân cách.
 
Ch­ương V: Tổ chức thanh niên
Chương này quy định về khái niệm tổ chức thanh niên; vị trí, vai trò của Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam.
Thanh niên là một lực lượng xã hội, nhưng là lực lượng có tổ chức, dưới sự lãnh đạo của Đảng; Trong thực tiễn, các tổ chức thanh niên là những tổ chức có vai trò quan trọng trong việc giáo dục, bồi dưỡng và phát huy tiềm năng của thanh niên. Vì vậy Luật Thanh niên đã có những quy định về tổ chức thanh niên; vị trí, vai trò của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh - tổ chức chính trị xã hội của thanh niên và của Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam - tổ chức xã hội rộng rãi của thanh niên. Còn vấn đề cụ thể về tổ chức và hoạt động của tổ chức thanh niên thì được thể hiện trong điều lệ của các tổ chức thanh niên chứ không đưa vào Luật này.

Chư­ơng VI: Điều khoản thi hành
Chương này có 2 điều quy định về hiệu lực thi hành của Luật Thanh niên và hư­ớng dẫn thi hành Luật Thanh niên.

PHẦN IV. TỔ CHỨC THỰC HIỆN

1. Ban hành văn bản hướng dẫn:
1.1. Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Thanh niên.
 Điều 36 Luật Thanh niên quy định: “Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật này”. Để triển khai thực hiện Luật Thanh niên có hiệu lực từ ngày 01/7/2006, Chính phủ sẽ phân công các Bộ, ngành có liên quan xây dựng Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Thanh niên để trình Chính phủ ban hành.

1.2. Về chính sách đối với thanh niên xung phong:
Thời gian qua, Bộ Nội vụ đã chủ trì, phối hợp với Trung ư­ơng Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Uỷ ban quốc gia về thanh niên Việt Nam và các Bộ, ngành có liên quan xây dựng dự thảo Nghị định về thanh niên xung phong. Hiện nay, Nghị định đã dự thảo xong và đang trình Chính phủ xem xét ban hành. 

2. Tổ chức phổ biến, tuyên truyền Luật Thanh niên:
Để Luật Thanh niên sớm đi vào cuộc sống, trong thời gian tới Uỷ ban quốc gia về thanh niên, Trung ương Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh và Hội Liên hiệp thanh niên Việt Nam phối hợp với các Bộ, Ban, ngành, đoàn thể triển khai một số công việc sau:
- Tổ chức tuyên truyền, phổ biến rộng rãi nội dung Luật Thanh niên trong toàn xã hội để mọi cá nhân, tổ chức hiểu và thực hiện có hiệu quả Luật Thanh niên. Biên soạn các tài liệu: “Giới thiệu về Luật Thanh niên”,  "Hỏi đáp về Luật Thanh niên”; cung cấp “Luật Thanh niên” và tài liệu tuyên truyền đến xã, phường, thị trấn.
- Tổ chức tập huấn cho đội ngũ báo cáo viên pháp luật cấp tỉnh, cấp huyện, tuyên truyền viên pháp luật cấp xã để làm nòng cốt cho việc tuyên truyền, thực hiện Luật Thanh niên ở địa phương.
- Phối hợp với các cơ quan truyền thông để tổ chức các cuộc thi tìm hiểu về Luật Thanh niên.
- Đổi mới và phát triển các hình thức tuyên truyền, phổ biến Luật Thanh niên phong phú và hấp dẫn.
Tỉnh Đoàn thanh niên chủ động phối hợp với Sở Tư pháp và các Sở, ban, ngành liên quan tổ chức phổ biến, giới thiệu Luật Thanh niên trong đó cần nhấn mạnh trách nhiệm thực hiện quyền, nghĩa vụ thanh niên và trách nhiệm của Nhà nước và xã hội trong việc chăm lo bồi dưỡng cho thanh niên./.  

Loại văn bản : Luật
Lĩnh vực : Lao động - thương binh - xã hội
Toàn văn luật đã ban hành : Xem chi tiết

Luật Việt
Các tin tiếp
Luật Công an nhân dân    (16/2/2008)
Luật Doanh nghiệp    (16/2/2008)
Luật Đấu thầu    (16/2/2008)
Các tin trước
Luật Đầu tư    (16/2/2008)