Luật Sửa đổi bổ xung một số điều Luật Nghĩa vụ quân sự
19:36' 16/2/2008
Để khắc phục những nhược điểm, bất cập trong hệ thống pháp luật về quân sự, quốc phòng, kịp thời thể chế hoá các quan điểm, chủ trương, nhiệm vụ đã được đề ra trong các Nghị quyết của Đảng, nhằm đáp ứng các yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước và phù hợp với các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành, do đó việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật nghĩa vụ quân sự là cần thiết.


I- SỰ CẦN THIẾT PHẢI SỬA ĐỔI, BỔ SUNG LUẬT NGHĨA VỤ QUÂN SỰ

Luật nghĩa vụ quân sự được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá VII, kỳ họp thứ 2 thông qua ngày 30 tháng 12 năm 1981, được sửa đổi, bổ sung lần thứ nhất ngày 21 tháng 12 năm 1990, lần thứ 2 ngày 22 tháng 6 năm 1994.

Sau nhiều năm thực hiện, Luật nghĩa vụ quân sự đã đi vào cuộc sống của nhân dân, thực sự phát huy tác dụng, là cơ sở pháp lý để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, tạo điều kiện cho công dân làm tròn nghĩa vụ quân sự; đã góp phần quan trọng vào nhiệm vụ xây dựng quân đội và tăng cường quốc phòng, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Hiện nay đất nước ta đang đứng trước những thời cơ thuận lợi để phát triển theo hướng “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” song cũng phải đối mặt với những nguy cơ, thách thức to lớn. Vì vậy, xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam, xây dựng nền quốc phòng toàn dân, nhằm tăng cường quốc phòng, giữ vững an ninh quốc giavà toàn vẹn lãnh thổ là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân. Xây dựng phải đi đôi với bảo vệ, phải thể hiện rõ quan điểm, nguyên tắc mà Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ  IX đã xác định về công tác quốc phòng.

Với truyền thống yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng của nhân dân Việt Nam, với kinh nghiệm trong tổ chức thực hiện; những năm qua, cấp uỷ, chính quyền địa phương, chỉ huy các cấp trong quân đội và nhân dân đã quán triệt, tổ chức thực hiện Luật nghĩa vụ quân sự đạt kết quả cao.
Tuy nhiên, sau hơn mười năm thực hiện, cùng với sự phát triển về mọi mặt của đất nước và những yêu cầu đòi hỏi của nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, Luật nghĩa vụ quân sự đã bộc lộ những hạn chế, bất cập chưa theo kịp tình hình, đó là:

Thứ nhất, trong thời bình số lượng tuyển quân rất ít, nguồn công dân ở độ tuổi gọi nhập ngũ có số lượng lớn (từ đủ 18 tuổi đến hết 27 tuổi, hàng năm có trên 7 triệu người), thì những người không được gọi nhập ngũ phải chờ đến tuổi 28 mới được chuyển sang quân nhân dự bị hạng 2; trong khi đó, số lượng quân nhân dự bị để xếp vào lực lượng dự bị động viên hiện nay còn thiếu nhiều. Hàng năm với số lượng công dân hết tuổi 27 chuyển sang ngạch dự bị hạng 2 khoảng trên 600.000 người, nếu hạ độ tuổi gọi nhập ngũ từ đủ 18 tuổi đến hết 25 tuổi thì số lượng chuyển sang ngạch dự bị hạng 2 năm đầu sẽ tăng gấp đôi (trên 1 triệu người).

Mặt khác, thời gian phục vụ tại ngũ trong thời bình của hạ sỹ quan, binh sỹ còn dài, chưa phù hợp với tâm tư nguyện vọng của nhân dân. Qua khảo sát, nghiên cứu tại địa phương, nguyện vọng của nhân dân đều muốn rút ngắn thời hạn phục vụ tại ngũ để con em họ nhanh chóng ổn định cuộc sống gia đình. Thanh niên đi bộ đội, gia đình và bản thân họ thường thiệt thòi về sức lao động và nhiều mặt khác so với những thanh niên không đi bộ đội. Việc giải quyết công bằng trong thực hiện Luật nghĩa vụ quân sự còn nhiều vướng mắc vì số thanh niên trong độ tuổi được phục vụ tại ngũ chiếm tỷ lệ rất thấp so với độ tuổi gọi nhập ngũ và chế độ chính sách đối với hạ sĩ quan và binh sĩ tuy đã được cải thiện nhưng chưa thoả đáng.

Vì vậy, việc quy định lại độ tuổi gọi nhập ngũ và thời hạn phục vụ tại ngũ của hạ sĩ quan, binh sĩ để tăng số lượng, đảm bảo chất lượng nguồn quân nhân dự bị; đồng thời động viên được nhiều thanh niên nhập ngũ và để giải quyết một phần công bằng xã hội là rất cần thiết.

Thứ hai, từ khi Luật nghĩa vụ quân sự được ban hành đến nay, Quốc hội đã ban hành nhiều luật và pháp lệnh mới như: Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi); Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam; Bộ luật hình sự; Bộ luật tố tụng hình sự; Luật khiếu nại, tố cáo; Luật ngân sách; Pháp lệnh về lực lượng dự bị động viên; Pháp lệnh dân quân tự vệ... Vì vậy một số nội dung của Luật nghĩa vụ quân sự không còn phù hợp.  

 Đặc biệt Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX (4/2001) đã khẳng định quan điểm, nguyên tắc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, có liên quan trực tiếp đến nhiệm vụ của lực lượng vũ trang nhân dân, nền quốc phòng toàn dân: "Hoàn thiện hệ thống pháp luật về nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc", "Tăng cường quản lý nhà nước về quốc phòng - an ninh trên phạm vi cả nước và từng địa phương, cơ sở"…

Để khắc phục những nhược điểm, bất cập trong hệ thống pháp luật về quân sự, quốc phòng, kịp thời thể chế hoá các quan điểm, chủ trương, nhiệm vụ đã được đề ra trong các Nghị quyết của Đảng, nhằm đáp ứng các yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước và phù hợp với các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành, do đó việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật nghĩa vụ quân sự là cần thiết.

II- QUAN ĐIỂM SỬA ĐỔI, BỔ SUNG

Một là, việc sửa đổi, bổ sung Luật nghĩa vụ quân sự phải quán triệt Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX và Nghị quyết Trung ương 8 khoá IX về chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, trong đó có xác định nội dung xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân.

Hai là, việc sửa đổi, bổ sung Luật nghĩa vụ quân sự phải tạo điều kiện và động lực mới để xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, có sức chiến đấu cao, sẵn sàng hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao trong bất kỳ tình huống nào.

Ba là, tạo điều kiện để góp phần giải quyết tốt hơn vấn đề công bằng xã hội về thực hiện nghĩa vụ quân sự trong giai đoạn hiện nay.

Bốn là, chỉ sửa đổi, bổ sung những nội dung bức thiết, không còn phù hợp với sự phát triển của tình hình kinh tế - xã hội và các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành, bảo đảm tính khả thi và sự thống nhất của Luật nghĩa vụ quân sự với các văn bản khác trong hệ thống pháp luật của Nhà nước.

III- NỘI DUNG LUẬT SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT NGHĨA VỤ QUÂN SỰ

Ngày 14 tháng 6 năm 2005, tại kỳ họp thứ 7 Quốc hội khoá XI, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật nghĩa vụ quân sự. Ngày 24 tháng 6 năm 2005, Chủ tịch nước có Lệnh số 05/2005/L/ CTN công bố Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật nghĩa vụ quân sự (sau đây gọi tắt là Luật sửa đổi, bổ sung năm 2005).

1. Về bố cục:
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Nghiã vụ quân sự lần này vẫn giữ nguyên cơ cấu các chương, điều của Luật hiện hành; chỉ sửa đổi, bổ sung 10 điều về nội dung (Điều 12, 14, 16, 22, 24, 29, 37, 39, 52, 53) và sửa đổi, bổ sung về từ ngữ trong một số điều cho phù hợp với các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành. Trong 10 điều sửa đổi, bổ sung về nội dung, vấn đề cốt lõi nhất là giảm độ tuổi gọi nhập ngũ quy định tại Điều 12 và giảm thời hạn phục vụ tại ngũ quy định tại Điều 14 để phù hợp với xu hướng phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và đáp ứng yêu cầu xây dựng Quân đội nhân dân thực hiện nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới.

2. Nội dung sửa đổi, bổ sung cụ thể:

a- Sửa đổi, bổ sung Điều 12
Luật nghĩa vụ quân sự năm 1981, sửa đổi, bổ sung năm 1990 và năm 1994 quy định:
"Công dân nam giới đủ 18 tuổi được gọi nhập ngũ, lứa tuổi gọi nhập ngũ từ đủ 18 tuổi đến hết 27 tuổi”.

Với quy định như trên, hàng năm số lượng công dân ở độ tuổi gọi nhập ngũ rất lớn, nhưng số l­ượng tuyển quân hàng năm không nhiều, trong khi đó cần nâng cao số lượng, chất lượng quân nhân dự bị.

Vì vậy, hạ độ tuổi để những thanh niên ở độ tuổi 26 đến 27 không tham gia thực hiện nghĩa vụ tại ngũ sẽ đ­ược chuyển sang phục vụ ở ngạch dự bị.

Do vậy, Luật sửa đổi, bổ sung năm 2005 quy định như sau:
"Công dân nam đủ mười tám tuổi được gọi nhập ngũ, độ tuổi gọi nhập ngũ trong thời bình từ đủ mười tám tuổi đến hết hai mươi lăm tuổi".

b- Sửa đổi, bổ sung Điều 14
Luật nghĩa vụ quân sự năm 1981, sửa đổi, bổ sung năm 1990 và năm 1994 quy định:
“Thời hạn phục vụ tại ngũ trong thời bình của hạ sĩ quan và binh sĩ là 2 năm. Thời hạn phục vụ tại ngũ trong thời bình của hạ sĩ quan chỉ huy, hạ sĩ quan và binh sĩ chuyên môn kỹ thuật do quân đội đào tạo, hạ sĩ quan và binh sĩ trên tàu hải quân là 3 năm”.

Do số l­ượng tuyển quân hàng năm không nhiều, số công dân trong độ tuổi sẵn sàng nhập ngũ chưa đ­ược gọi vào phục vụ tại ngũ, hàng năm có trên 7 triệu ng­ười. Trong khi đó, nhu cầu xây dựng lực l­ượng dự bị động viên đòi hỏi phải nâng cao chất l­ượng, đủ số l­ượng, nh­ưng vẫn còn thiếu. Để có nhiều công dân đ­ược phục vụ tại ngũ, góp phần tạo nguồn quân nhân dự bị, giải quyết công bằng xã hội, phù hợp với nguyện vọng của nhân dân, tạo điều kiện cho thanh niên nhanh chóng hướng nghiệp và ổn định cuộc sống gia đình cần rút ngắn thời hạn phục vụ tại ngũ.

Do vậy, Luật sửa đổi, bổ sung năm 2005 quy định như sau:
"Thời hạn phục vụ tại ngũ trong thời bình của hạ sĩ quan và binh sĩ là mười tám tháng.
Thời hạn phục vụ tại ngũ trong thời bình của hạ sĩ quan chỉ huy, hạ sĩ quan và binh sĩ chuyên môn kỹ thuật do quân đội đào tạo, hạ sĩ quan và binh sĩ trên tàu hải quân là hai mươi bốn tháng".

c- Sửa đổi, bổ sung Điều 16
Luật nghĩa vụ quân sự năm 1981, sửa đổi, bổ sung năm 1990 và năm 1994 quy định: 
 "Thời gian chịu kỷ luật ở đơn vị của quân đội và thời gian đào ngũ không được tính vào thời hạn tại ngũ".

Thực tế những năm qua, việc áp dụng quy định này để tính trừ thời hạn phục vụ tại ngũ của hạ sĩ quan và binh sĩ phải chịu kỷ luật là không khả thi, vì Quân đội có tám hình thức kỷ luật như­: khiển trách, giữ tại trại trong ngày nghỉ, cảnh cáo giáng chức, cách chức ... cao nhất là tước danh hiệu quân nhân.

 Do vậy, Luật sửa đổi, bổ sung năm 2005 quy định như sau:
"Việc tính thời điểm bắt đầu và kết thúc thời hạn phục vụ tại ngũ của hạ sỹ quan và binh sĩ do Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định.
Thời gian đào ngũ không tính vào thời hạn phục vụ tại ngũ”.

d- Sửa đổi, bổ sung Điều 22
Luật nghĩa vụ quân sự năm 1981, sửa đổi, bổ sung năm 1990 và năm 1994 quy định: 
 “Người được gọi nhập ngũ phải có mặt đúng thời gian và địa điểm ghi trong lệnh gọi nhập ngũ; nếu không thể đến đúng thời hạn thì phải có giấy chứng nhận của Uỷ ban nhân dân.
Người không chấp hành lệnh gọi nhập ngũ đã bị xử lý theo điểm 1, Điều 69 của Luật này vẫn nằm trong diện gọi nhập ngũ cho đến khi hết 35 tuổi”.

Trong thực tế quân đội không tuyển những ng­ười không chấp hành lệnh gọi nhập ngũ đã bị xử lý theo điểm 1, Điều 69 của Luật nghĩa vụ quân sự trong độ tuổi từ 28 đến 35 vào phục vụ tại ngũ. Mặt khác quy định như­ vậy sẽ không phù hợp với quy định độ tuổi gọi nhập ngũ ở Điều 12.

 Do vậy, Luật sửa đổi, bổ sung năm 2005 quy định như sau:
"Công dân được gọi nhập ngũ phải có mặt đúng thời gian và địa điểm ghi trong lệnh gọi nhập ngũ, nếu có lý do chính đáng không thể đến đúng thời hạn và địa điểm thì phải có giấy xác nhận của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi là Uỷ ban nhân dân cấp xã) nơi cư trú".

đ- Sửa đổi, bổ sung Điều 24
Luật nghĩa vụ quân sự năm 1981, sửa đổi, bổ sung năm 1990 và năm 1994 quy định: 
 “Hội đồng nghĩa vụ quân sự các cấp gồm có Chủ tịch là Chủ tịch Uỷ ban nhân dân, Phó Chủ tịch là Chỉ huy trưởng quân sự, các uỷ viên là người phụ trách các ngành Kế hoạch, Lao động, Công an, Y tế, Văn hoá - Thông tin, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc, Liên đoàn lao động, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Phụ nữ, Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh”.

Luật nghĩa vụ quân sự trước đây không quy định cụ thể thành phần Hội đồng nghĩa vụ quân sự ở mỗi cấp; đồng thời, để Hội đồng hoạt động có hiệu quả tốt hơn, bảo đảm công tác xét duyệt tiêu chuẩn tuyển chọn công dân nhập ngũ, trong đó việc xét duyệt về tiêu chuẩn văn hoá, việc giám sát và xử lý các vi phạm trong thực hiện nghĩa vụ quân sự và xây dựng kế hoạch bảo đảm ngân sách cho công tác này, cần có đại diện của các cơ quan Tư pháp, Giáo dục, Tài chính vào Hội đồng nghĩa vụ quân sự; mặt khác, thực tế hiện nay, Uỷ ban nhân dân cấp xã chưa có người phụ trách một số chuyên ngành như kế hoạch, giáo dục... nên cần phải sửa đổi, bổ sung quy định trên cho phù hợp thực tế.

Do vậy, Luật sửa đổi, bổ sung năm 2005 quy định như sau:
“1. Uỷ ban nhân dân các cấp thành lập Hội đồng nghĩa vụ quân sự ở cấp mình để giúp Uỷ ban nhân dân tổ chức thực hiện công tác nghĩa vụ quân sự ở địa phương.
2. Thành phần của Hội đồng nghĩa vụ quân sự các cấp được quy định như sau:
a) Hội đồng nghĩa vụ quân sự tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh gồm có Chủ tịch là Chủ tịch Uỷ ban nhân dân, Phó Chủ tịch là Chỉ huy trưởng cơ quan quân sự địa phương, các uỷ viên là người phụ trách các ngành công an, tư pháp, kế hoạch, lao động - thương binh và xã hội, y tế, giáo dục, văn hoá - thông tin, tài chính và đại diện Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc, Liên đoàn lao động, Đoàn thanh niên, Hội liên hiệp phụ nữ, Hội nông dân, Hội cựu chiến binh;
b) Hội đồng nghĩa vụ quân sự xã, phường, thị trấn gồm có Chủ tịch là Chủ tịch Uỷ ban nhân dân, Phó Chủ tịch là xã đội trưởng, các uỷ viên là người phụ trách các ngành công an, tư pháp, y tế, tài chính và đại diện Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc, Đoàn thanh niên, Hội liên hiệp phụ nữ, Hội cựu chiến binh, một số thành viên khác do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cùng cấp  quyết định.
3. Hội  đồng nghĩa vụ quân sự làm việc theo nguyên tắc tập thể; nghị quyết của Hội đồng phải được quá nửa tổng số thành viên Hội đồng biểu quyết tán thành”.

e- Sửa đổi, bổ sung Điều 29
Điều 29 của Luật nghĩa vụ quân sự quy định về đối tượng được tạm hoãn và được miễn gọi nhập ngũ trong thời bình. Theo quy định tại khoản 1 Điều 29 của Luật nghĩa vụ quân sự năm 1981, sửa đổi, bổ sung năm 1990 và năm 1994 thì những công dân được tạm hoãn gọi nhập ngũ trong thời bình, hàng năm phải được kiểm tra, nếu không còn lý do tạm hoãn thì được nhập ngũ, hết 27 tuổi mà vẫn không được gọi nhập ngũ thì được chuyển sang ngạch dự bị.

 Để quy định độ tuổi chuyển sang ngạch dự bị động viên của những công dân được tạm hoãn và được miễn gọi nhập ngũ trong thời bình thống nhất với những quy định khác trong Luật sửa đổi, bổ sung năm 2005 (Khoản 2 Điều 37) nênđược sửa đổi như sau:

“1. Những công dân sau đây được tạm hoãn gọi nhập ngũ trong thời bình:
a) Chưa đủ sức khoẻ phục vụ tại ngũ theo kết luận của Hội đồng khám sức khoẻ;
b) Là lao động duy nhất phải trực tiếp nuôi người khác trong gia đình không còn sức lao động hoặc chưa đến tuổi lao động;
c) Có anh, chị hoặc em ruột là hạ sĩ quan, binh sĩ đang phục vụ tại ngũ;
d) Giáo viên, nhân viên y tế, thanh niên xung phong đang làm việc ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, vùng đặc biệt khó khăn; cán bộ, công chức, viên chức được điều động đến làm việc ở những vùng này;
đ) Đang nghiên cứu công trình khoa học cấp Nhà nước được Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ hoặc người có chức vụ tương đương chứng nhận;
e) Đang học ở các trường phổ thông, trường dạy nghề, trường trung cấp chuyên nghiệp, trường cao đẳng, trường đại học do Chính phủ quy định;
g) Đi xây dựng vùng kinh tế mới trong ba năm đầu.
Hằng năm, những công dân thuộc diện tạm hoãn gọi nhập ngũ quy định tại khoản này phải được kiểm tra, nếu không còn lý do tạm hoãn thì được gọi nhập ngũ.
2. Những công dân sau đây được miễn gọi nhập ngũ trong thời bình:
a) Con của liệt sĩ, con của thương binh hạng một, con của bệnh binh hạng một;
b) Một người anh hoặc em trai của liệt sĩ;
c) Một con trai của thương binh hạng hai;
d) Thanh niên xung phong, cán bộ, công chức, viên chức quy định tại điểm d khoản 1 Điều này đã phục vụ từ hai mươi bốn tháng trở lên.
3. Công dân thuộc diện được tạm hoãn gọi nhập ngũ hoặc được miễn gọi nhập ngũ quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này nếu tình nguyện thì có thể được tuyển chọn, gọi nhập ngũ.
4. Chính phủ quy định cụ thể vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, vùng đặc biệt khó khăn”.

g- Sửa đổi, bổ sung Điều 37
Luật nghĩa vụ quân sự năm 1981,  sửa đổi, bổ sung năm 1990 và năm 1994 quy định: Hạ sĩ quan và binh sĩ dự bị chia thành quân nhân dự bị hạng một và quân nhân dự bị hạng hai. Quân nhân dự bị hạng một gồm hạ sĩ quan và binh sĩ đã phục vụ tại ngũ đủ thời hạn hoặc trên hạn định; hạ sĩ quan và binh sĩ xuất ngũ trước thời hạn, nhưng đã phục vụ tại ngũ trên một năm; hạ sĩ quan và binh sĩ đã trải qua chiến đấu. Quân nhân dự bị hạng hai gồm hạ sĩ quan và binh sĩ đã phục vụ tại ngũ dưới một năm; công dân nam giới chưa phục vụ tại ngũ vì được tạm hoãn và được miễn gọi nhập ngũ trong thời bình, phụ nữ đã đăng ký nghĩa vụ quân sự.

Quân nhân nam giới thuộc loại dự bị hạng hai nếu đã qua huấn luyện tập trung 12 tháng, thì được chuyển lên quân nhân dự bị hạng 1.

Do hiện nay quân nhân dự bị hạng 2 đã đ­ược huấn luyện quân sự phổ thông, giáo dục quốc phòng trong các nhà trường theo ch­ương trình quy định, mặt khác, để phù hợp với khả năng vật chất, thời gian đối với việc huấn luyện quân nhân dự bị hạng 2 và yêu cầu tăng quân số dự bị động viên, Luật sửa đổi, bổ sung năm 2005 rút ngắn thời gian huấn luyện tập trung cho quân nhân dự bị hạng 2 chuyển lên quân nhân dự bị hạng 1 là từ 12 tháng xuống 6 tháng; hạ sĩ quan và binh sĩ đã phục vụ tại ngũ từ 1 năm xuống 6 tháng thì đ­ược công nhận là quân nhân dự bị hạng 1.

Mặt khác, hiện nay còn nhiều công dân đã qua độ tuổi gọi nhập ngũ trong thời bình, không thuộc diện tạm hoãn, miễn nh­ưng chưa được gọi nhập ngũ; nếu theo quy định của Luật hiện hành thì những ng­ười này không thuộc đối t­ượng dự bị hạng 2. Vì vậy phải quy định thêm cho cả đối t­ượng trên khi hết tuổi gọi nhập ngũ trong thời bình (từ 26 tuổi trở lên) đ­ược chuyển sang dự bị hạng hai cho phù hợp.

Do vậy, Luật sửa đổi, bổ sung năm 2005 quy định như sau:
“Hạ sĩ quan và binh sĩ dự bị được chia thành quân nhân dự bị hạng một và quân nhân dự bị hạng hai.
Quân nhân dự bị hạng một gồm hạ sĩ quan và binh sĩ đã phục vụ tại ngũ đủ thời hạn hoặc trên hạn định; hạ sĩ quan và binh sĩ xuất ngũ trước thời hạn, nhưng đã phục vụ tại ngũ trên sáu tháng; hạ sĩ quan và binh sĩ đã trải qua chiến đấu; nam quân nhân dự bị hạng hai đã qua huấn luyện tập trung đủ sáu tháng.
Quân nhân dự bị hạng hai gồm hạ sĩ quan và binh sĩ xuất ngũ trước thời hạn nhưng đã phục vụ tại ngũ dưới sáu tháng; công dân nam chưa phục vụ tại ngũ từ hai mươi sáu tuổi trở lên được chuyển sang ngạch dự bị; công dân nữ đã đăng ký nghĩa vụ quân sự theo quy định tại Điều 4 của Luật này”.

h- Sửa đổi, bổ sung Điều 39
Luật nghĩa vụ quân sự năm 1981, sửa đổi, bổ sung năm 1990 và năm 1994 quy định:
"Căn cứ vào độ tuổi, hạ sĩ quan và binh sĩ dự bị nam giới ở mỗi hạng được chia thành 2 nhóm: nhóm A gồm những người đến hết 35 tuổi, nhóm B gồm những người từ 36 tuổi đến hết 45 tuổi”.
Như vậy chưa có quy định về chia nhóm đối với công dân nữ, nên cần bổ sung
Do vậy, Luật sửa đổi, bổ sung năm 2005 quy định như sau:
“Căn cứ vào độ tuổi, hạ sĩ quan và binh sĩ dự bị ở mỗi hạng được chia thành hai nhóm:
Nhóm A: Nam đến hết ba mươi lăm tuổi; nữ đến hết ba mươi tuổi;
Nhóm B: Nam từ ba mươi sáu tuổi đến hết bốn mươi lăm tuổi; nữ từ ba mươi mốt tuổi đến hết bốn mươi tuổi”.

i- Sửa đổi, bổ sung  Điều 52
Luật nghĩa vụ quân sự năm 1981, sửa đổi, bổ sung năm 1990 và năm 1994 quy định: 
 “ Trong thời gian tập trung huấn luyện kiểm tra tình trạng sẵn sàng chiến đấu, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan và binh sĩ dự bị, gia đình quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan và binh sĩ dự bị hạng 1 được hưởng chế độ do Chính phủ quy định”.

Do thực tế hiện nay, quân nhân dự bị hạng 2 đều là lao động chính của gia đình, khi đi tập trung huấn luyện diễn tập, kiểm tra sẵn sàng động viên thì gia đình họ gặp khó khăn, như­ng theo quy định hiện hành thì gia đình họ không đ­ược h­ưởng chế độ gì, vì vậy cần bổ sung quy định về chế độ đối với gia đình quân nhân dự bị hạng hai để bảo đảm công bằng và giảm bớt khó khăn cho gia đình họ.

Do vậy, Luật sửa đổi, bổ sung năm 2005 quy định như sau:
“Quân nhân chuyên nghiệp dự bị; hạ sĩ quan và binh sĩ dự bị trong thời gian tập trung huấn luyện, diễn tập và kiểm tra sẵn sàng chiến đấu, bản thân và gia đình được hưởng chế độ chính sách do Chính phủ quy định”.

k- Sửa đổi, bổ sung Khoản 3 Điều 53
Khoản 3 Điều 53 của Luật nghĩa vụ quân sự năm 1981, sửa đổi, bổ sung năm 1990 và năm 1994 quy định: “từ tháng thứ 25 trở đi được hưởng thêm 200% phụ cấp hàng tháng; từ tháng thứ 37 trở đi được hưởng thêm 250% phụ cấp hàng tháng”.

Để phù hợp với nội dung rút ngắn thời hạn phục vụ tại ngũ đã sửa đổi, bổ sung ở Điều 14,Khoản 3 Điều 53 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“ Từ tháng thứ mười chín trở đi được hưởng thêm 200% phụ cấp quân hàm hiện hưởng hàng tháng, từ tháng thứ hai mươi lăm trở đi được hưởng thêm 250% phụ cấp quân hàm hiện hưởng hàng tháng;”.

IV. TỔ CHỨC THỰC HIỆN LUẬT SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT NGHĨA VỤ QUÂN SỰ

Để những quy định của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật nghĩa vụ quân sự sớm đi vào cuộc sống và phát huy hiệu quả, trong thời gian tới, các Bộ, ngành, địa phương triển khai tổ chức một số công việc chủ yếu sau:

1. Bộ Quốc phòng tổ chức thực hiện:
- Chuẩn bị dự thảo sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh về lực lượng dự bị động viên.
- Tổ chức soạn thảo các nghị định của Chính phủ, các văn bản hướng dẫn thi hành Luật của Bộ Quốc phòng và các Bộ, ngành để quy định chi tiết về thực hiện Luật nghĩa vụ quân sự, gồm những vấn đề có liên quan đến đăng ký nghĩa vụ quân sự, việc tạm hoãn, miễn gọi nhập ngũ trong thời bình, thời hạn phục vụ tại ngũ, chế độ chính sách đối với hạ sĩ quan, binh sĩ v.v... Đồng thời, Bộ Quốc phòng sẽ điều chỉnh chương trình huấn luyện, đào tạo, kế hoạch tuyển quân hàng năm cho phù hợp.

2. Đối với địa phương: tổ chức kiện toàn Hội đồng Nghĩa vụ quân sự các cấp, trong đó bổ sung thêm 3 thành phần vào Hội đồng Nghĩa vụ quân sự gồm: giáo dục, tư pháp, tài chính để kịp thời triển khai kế hoạch tuyển quân năm 2006 khi Luật này có hiệu lực.

3. Các Bộ, ngành, địa phương, các phương tiện thông tin đại chúng tổ chức giáo dục, tuyên truyền những nội dung mới sửa đổi, bổ sung của Luật nghĩa vụ quân sự đến mọi công dân để công dân hiểu biết và thực hiện nghiêm chỉnh nghĩa vụ quân sự.

Loại văn bản : Luật
Lĩnh vực : Quốc phòng
Toàn văn luật đã ban hành : Xem chi tiết

Luật Việt
Các tin tiếp
Luật Doanh nghiệp    (16/2/2008)
Luật Đấu thầu    (16/2/2008)
Luật thuế GTGT 2008    (29/12/2008)
Các tin trước
Luật Công an nhân dân    (16/2/2008)
Luật Thanh niên    (16/2/2008)
Luật Đầu tư    (16/2/2008)