Một số nội dung cơ bản của Luật trưng mua, trưng dụng tài sản
15:45' 28/6/2008
Ngày 03/6/2008, Quốc hội nước ta đã thông qua Luật trưng mua, trưng dụng tài sản. Với 4 Chương và 42 Điều, Luật này quy định những nội dung cơ bản về trưng mua, trưng dụng tài sản; quyền và trách nhiệm của cơ quan nhà nước trong việc trưng mua, trưng dụng tài sản; quyền và nghĩa vụ của người có tài sản trưng mua, trưng dụng; quyền và nghĩa vụ của người khác có liên quan đến việc trưng mua, trưng dụng tài sản.

Theo Luật, trưng mua tài sảnlà việc Nhà nước mua tài sản của tổ chức (không bao gồm cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập, đơn vị vũ trang nhân dân), cá nhân, hộ gia đình thông qua quyết định hành chính trong trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh và vì lợi ích quốc gia. Người có tài sản mua trưng là tổ chức, cá nhân, hộ gia đình trong nước, tổ chức, cá nhân nước ngoài có quyền sở hữu tài sản thuộc đối tượng trưng mua. Quyền sở hữu tài sản trưng mua thuộc về Nhà nước kể từ thời điểm quyết định trưng mua tài sản có hiệu lực thi hành.

Trưng dụng tài sảnlà việc Nhà nước sử dụng có thời hạn tài sản của tổ chức, cá nhân, hộ gia đình, cộng đồng dân cư thông qua quyết định hành chính trong trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh và vì lợi ích quốc gia. Người có tài sản trưng dụng là tổ chức, cá nhân, hộ gia đình, cộng đồng dân cư trong nước, tổ chức, cá nhân nước ngoài có quyền sở hữu tài sản hoặc quyền sử dụng tài sản thuộc đối tượng trưng dụng. Quyền sở hữu tài sản trưng dụng vẫn thuộc về người có tài sản trưng dụng; quyền quản lý, sử dụng tài sản trưng dụng trong thời gian trưng dụng thuộc về Nhà nước.

Chính sách của Nhà nước đối với người có tài sản trưng mua, trưng dụng

Người có tài sản trưng mua được thanh toán tiền trưng mua tài sản; người có tài sản trưng dụng bị thiệt hại về tài sản do việc trưng dụng gây ra thì được bồi thường thiệt hại theo giá thị trường.

Khi nào thực hiện việc trưng mua, trưng dụng tài sản?

Điều 4, Điều 5 của Luật đã quy định: Việc trưng mua, trưng dụng tài sản chỉ được thực hiện trong trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia và khi Nhà nước có nhu cầu sử dụng tài sản mà các biện pháp huy động khác không thực hiện được, thuộc một trong các trường hợp: Khi đất nước trong tình trạng chiến tranh hoặc trong tình trạng khẩn cấp về quốc phòng theo quy định của pháp luật về quốc phòng và pháp luật về tình trạng khẩn cấp; khi an ninh quốc gia có nguy cơ bị đe doạ theo quy định của pháp luật về an ninh quốc gia; khi mục tiêu quan trọng về an ninh quốc gia có khả năng bị xâm phạm hoặc cần được tăng cường bảo vệ theo quy định của pháp luật về quốc phòng và pháp luật về an ninh quốc gia; khi phải đối phó với nguy cơ hoặc để khắc phục thảm hoạ do thiên tai, dịch bệnh gây ra trên diện rộng hoặc nếu không ngăn chặn kịp thời sẽ gây hậu quả nghiêm trọng đến tính mạng, sức khoẻ và tài sản của nhân dân, tài sản của Nhà nước.

Những tài sản thuộc đối tượng trưng mua, trưng dụng

Cả trưng mua, trưng dụng đều có đối tượng là nhà, đất và tài sản khác gắn liền với đất; máy móc, thiết bị, phương tiện giao thông vận tải, thông tin liên lạc và phương tiện kỹ thuật khác. Nhưng nhà, đất và tài sản gắn liền với đất chỉ là đối tượng của trưng mua khi đất nước trong tình trạng chiến tranh hoặc trong tình trạng khẩn cấp về quốc phòng theo quy định của pháp luật về quốc phòng và pháp luật về tình trạng khẩn cấp. Ngoài ra, đối tượng của trưng mua tài sản còn bao gồm thuốc chữa bệnh, lương thực, thực phẩm, công cụ, dụng cụ và vật tư, vật dụng thiết yếu khác.

Thẩm quyền quyết định trưng mua, trưng dụng tài sản

Thủ tướng Chính phủ quyết định trưng mua tài sản là nhà và những tài sản gắn liền với đất. Những tài sản là đối tượng trưng mua, trưng dụng còn lại thuộc thẩm quyền của Bộ trưởng các Bộ: Tài chính, Bộ Quốc phòng,  Công an, Bộ Giao thông vận tải, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Y tế, Bộ Công Thương và Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh.

Ngoài những nội dung cơ bản trên đây, Luật cũng quy định về giá trưng mua tài sản; cưỡng chế thi hành quyết định trưng mua, trưng dụng; kinh phí thực hiện trưng mua tài sản; kinh phí thực hiện bồi thường thiệt hại do trưng dụng tài sản gây ra; thời hạn trưng dụng và thời điểm hoàn trả tài sản trưng dụng.

 
Nguồn: Cổng thông tin Bộ Tư pháp

Các tin tiếp
Luật thuế GTGT 2008    (29/12/2008)
Các tin trước
Luật Đấu thầu    (16/2/2008)
Luật Doanh nghiệp    (16/2/2008)
Luật Công an nhân dân    (16/2/2008)
Luật Thanh niên    (16/2/2008)
Luật Đầu tư    (16/2/2008)