Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008
2:50' 29/12/2008
Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996 đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2002 là công cụ trực tiếp xác lập trật tự, kỷ cương trong hoạt động lập pháp, lập quy, đưa công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam ngày càng đi vào nền nếp, có nhiều tiến bộ, cải thiện hệ thống pháp luật cả về số lượng các văn bản quy phạm pháp luật và chất lượng của hệ thống pháp luật.

I. NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬT BAN HÀNH VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT NĂM 2008

1. Sự cần thiết ban hành Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008

Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996 đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2002 là công cụ trực tiếp xác lập trật tự, kỷ cương trong hoạt động lập pháp, lập quy, đưa công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam ngày càng đi vào nền nếp, có nhiều tiến bộ, cải thiện hệ thống pháp luật cả về số lượng các văn bản quy phạm pháp luật và chất lượng của hệ thống pháp luật. Việc triển khai thực hiện các luật này, một mặt, đã giúp đẩy nhanh quá trình xây dựng hệ thống pháp luật và mặt khác, đã tạo sự chuyển biến một bước về chất trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật nói chung và trong hoạt động xây dựng văn bản quy phạm pháp luật nói riêng; cơ bản đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân theo đường lối, chính sách của Đảng.

Bên cạnh những thành tựu nêu trên, trong công tác xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật hiện nay vẫn còn những tồn tại, hạn chế lớn như sau:

Thứ nhất, về việc lập chương trình xây dựng luật, pháp lệnh

Về nguyên tắc, việc lập chương trình xây dựng luật, pháp lệnh là giai đoạn hết sức quan trọng, cần có sự nghiên cứu kỹ lưỡng, nhằm xác định nhu cầu xã hội, chính sách pháp luật phù hợp để giải quyết các vấn đề kinh tế, xã hội phát sinh, cũng như để điều chỉnh công tác quản lý của Nhà nước. Tuy nhiên, hiện nay việc lập chương trình xây dựng luật, pháp lệnh nhìn chung còn chưa thực sự khoa học, thiếu những định hướng chính sách pháp luật, làm cho quá trình soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật ít nhiều gặp khó khăn, lúng túng, ảnh hưởng đến tiến độ và chất lượng soạn thảo văn bản. Một số luật, pháp lệnh được ban hành thiếu tính khả thi hoặc chưa đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ quản lý nhà nước và phát triển kinh tế - xã hội, gây lãng phí các nguồn lực.

Mặt khác, việc lập chương trình xây dựng luật, pháp lệnh cũng chưa quan tâm đúng mức đến việc xác định thứ tự ưu tiên của văn bản, dẫn đến trên thực tế có văn bản thực sự cần thiết lại chưa được ban hành hoặc có văn bản cần ban hành trước, nhưng lại được ban hành sau.

Thứ hai, về việc soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật

Chưa có sự phân công rành mạch và hợp lý giữa các cơ quan trong quá trình soạn thảo, chưa có sự phối hợp nhịp nhàng giữa các cơ quan liên quan trong quá trình đó, dẫn đến tình trạng chờ đợi, làm chậm tiến độ soạn thảo và giảm chất lượng của văn bản (ví dụ: chưa quy định hợp lý trách nhiệm của cơ quan trình, cơ quan chủ trì soạn thảo, ban soạn thảo, ...).

- Còn thiếu các quy định bảo đảm việc soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật phải dựa trên những nghiên cứu, đánh giá khoa học, đánh giá ảnh hưởng dự kiến của những chính sách pháp luật hoặc những quy định của pháp luật sẽ được ban hành; các kết quả nghiên cứu, đánh giá đã có cũng chưa được công bố rộng rãi hoặc cung cấp đầy đủ cho các cơ quan có thẩm quyền như Chính phủ, Quốc hội khi xem xét, thảo luận, thông qua văn bản.

- Quy trình soạn thảo văn bản chưa thực sự phát huy được sự tham gia của các tổ chức, cá nhân liên quan. Việc lấy ý kiến của nhân dân, của đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản có nơi còn hình thức; chưa đề cao trách nhiệm của cơ quan soạn thảo trong việc nghiên cứu, tiếp thu để chỉnh lý dự thảo.

- Chưa có cơ chế giải quyết tốt mối quan hệ giữa luật, pháp lệnh với việc soạn thảo các văn bản quy định chi tiết thi hành theo hướng bảo đảm cho luật, pháp lệnh đi vào cuộc sống đúng vào thời điểm có hiệu lực.

Thứ ba, về quy trình thảo luận, xem xét, thông qua dự thảo văn bản của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội

Vai trò của cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự thảo luật, pháp lệnh chưa được quy định đúng mức, đầy đủ trong việc bảo vệ, giải trình trước Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội về dự thảo, nhất là trong trường hợp dự thảo luật, pháp lệnh được xem xét, thông qua tại hai kỳ họp, hai phiên họp, dẫn đến việc hướng dẫn thi hành và triển khai thi hành một số văn bản gặp khó khăn nhất định và trong một số trường hợp dẫn đến sự không rõ ràng về trách nhiệm trong việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

Thứ tư, về vấn đề áp dụng văn bản quy phạm pháp luật

Quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành còn nhiều điểm chồng chéo, trùng lắp, mâu thuẫn do hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đang rất phức tạp, nhiều tầng nấc, nhiều chủ thể có thẩm quyền ban hành với nhiều hình thức văn bản quy phạm pháp luật khác nhau; thiếu quy định ràng buộc trách nhiệm của các cơ quan trong việc hợp nhất, pháp điển hoá văn bản quy phạm pháp luật, càng làm cho việc tra cứu, áp dụng pháp luật gặp khó khăn hơn. Mặt khác, việc áp dụng văn bản quy phạm pháp luật trên thực tế cũng chưa thống nhất, bởi thiếu một số quy định có tính nguyên tắc về áp dụng pháp luật, dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau về áp dụng văn bản.

Do những tồn tại, hạn chế lớn nêu trên, năm 2002, đồng thời với việc phải khẩn trương sửa đổi, bổ sung Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996, tập trung vào đổi mới quy trình thông qua luật, pháp lệnh và việc minh bạch hoá quy trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế, Quốc hội đã giao Chính phủ tiếp tục nghiên cứu để trình Quốc hội xem xét sửa đổi Luật này một cách toàn diện hơn. Do vậy, việc tiếp tục sửa đổi Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật lần này là cần thiết, nhằm khắc phục những tồn tại, hạn chế và vướng mắc phát sinh trong thực tiễn thi hành Luật, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật theo Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị và các cam kết của nước ta khi gia nhập WTO.

Xuất phát từ yêu cầu trên, Quốc hội đã chính thức đưa dự án Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật vào Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2007 của Quốc hội khoá XII. Luật đã được Quốc hội thông qua ngày 02 tháng 06 năm 2008, thay thế Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2002.

2. Bố cục và nội dung của Luật

Với mục đích nâng cao hiệu quả của công tác xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, tăng cường hội nhập kinh tế quốc tế và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, Luật đã sửa đổi một cách toàn diện quy trình soạn thảo, thẩm định, thẩm tra và thông qua văn bản theo hướng tăng cường trách nhiệm của các cơ quan tham mưu trong việc soạn thảo, thẩm định, thẩm tra, chỉnh lý dự thảo, cơ quan ban hành chỉ tập trung vào việc thảo luận và quyết định chính sách. Bên cạnh đó, Luật cũng bổ sung các quy định nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật, bảo đảm hệ thống pháp luật có chất lượng, công khai, minh bạch, dễ tiếp cận và có tính khả thi cao.

Luật được bố cục thành 12 chương, 95 điều, gồm các nội dung cơ bản sau đây:

Chương I - Những quy định chung (từ Điều 1 đến Điều 10)

Chương này quy định về khái niệm văn bản quy phạm pháp luật; hệ thống văn bản quy phạm pháp luật; các nguyên tắc xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật; ngôn ngữ, kỹ thuật văn bản quy phạm pháp luật; nguyên tắc ban hành văn bản chi tiết, nguyên tắc sửa đổi, bổ sung thay thế, huỷ bỏ, bãi bỏ hoặc đình chỉ việc thi hành văn bản quy phạm pháp luật và một số quy định chung khác.

Chương II - Nội dung văn bản quy phạm pháp luật (từ Điều 11 đến Điều 21)

Chương này quy định về nội dung điều chỉnh của mỗi hình thức văn bản quy phạm pháp luật, gồm nội dung của Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội; nội dung của pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội; nội dung của lệnh, quyết định của Chủ tịch nước; nội dung của nghị định của Chính phủ; nội dung của quyết định của Thủ tướng Chính phủ; nội dung của thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ; nội dung của nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Chương III- Quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội (từ Điều 22 đến Điều 57)

Về cơ bản, các quy định của Luật về trình tự, thủ tục xây dựng, ban hành luật, pháp lệnh, nghị quyết vẫn bao gồm các công đoạn như lập chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật; soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật; thẩm định, thẩm tra dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật; lấy ý kiến trong quá trình xây dựng văn bản; lấy ý kiến đại biểu Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội về dự án luật, pháp lệnh; thảo luận, thông qua dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật; công bố văn bản quy phạm pháp luật. Theo đó, Chương này gồm 6 mục:

Mục 1- Lập chương trình xây dựng luật, pháp lệnh (từ Điều 22 đến Điều 29). Mục này quy định về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh; phân định rõ đề nghị, kiến nghị về luật, pháp lệnh; quy trình Chính phủ lập đề nghị của Chính phủ về luật, pháp lệnh; thời hạn gửi đề nghị, kiến nghị về luật, pháp lệnh đến các cơ quan có thẩm quyền để lập dự kiến chương trình xây dựng luật, pháp lệnh; thẩm tra đề nghị, kiến nghị về luật, pháp lệnh; trình tự, thủ tục lập dự kiến chương trình xem xét, thông qua, triển khai thực hiện và điều chỉnh chương trình xây dựng luật, pháp lệnh (từ Điều 26 đến Điều 29).

Mục 2 - Soạn thảo luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội (từ Điều 30 đến Điều 40): mục này quy định cụ thể về trình tự, thủ tục soạn thảo luật, pháp lệnh, nghị quyết do Chính phủ và các cơ quan khác, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án, dự thảo với các nội dung như thành lập Ban soạn thảo và phân công cơ quan chủ trì soạn thảo; phân định rõ nhiệm vụ của Ban soạn thảo, cơ quan chủ trì soạn thảo và cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án, dự thảo; về việc lấy ý kiến vào dự án, dự thảo và trách nhiệm góp ý kiến vào dự án, dự thảo của các cơ quan, tổ chức, cá nhân; về thẩm định đối với các dự án, dự thảo do Chính phủ trình và trách nhiệm của Chính phủ trong việc tham gia ý kiến vào các dự án, dự thảo không do Chính phủ trình; về việc chỉnh lý, hoàn thiện dự án, dự thảo trước khi trình Chính phủ xem xét và trình tự, thủ tục Chính phủ thảo luận, xem xét quyết định việc trình dự án, dự thảo.

Mục 3 - Thẩm tra dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết (từ Điều 41 đến Điều 47): nhằm tiếp tục đổi mới hoạt động thẩm tra, nâng cao chất lượng thẩm tra của Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban của Quốc hội đối với dự án luật, pháp lệnh, nghị quyết, Luật sửa đổi quy định rõ nội dung, phương thức để các cơ quan của Quốc hội thực hiện có hiệu quả hoạt động thẩm tra đối với các dự án, dự thảo trước khi trình Quốc hội. Theo đó, mục này quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan thẩm tra, cơ quan chủ trì thẩm tra, nội dung thẩm tra, phương thức thẩm tra, nội dung báo cáo thẩm tra; quy định rõ trách nhiệm của Uỷ ban pháp luật trong việc tham gia thẩm tra nhằm bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của các dự thảo luật, pháp lệnh, nghị quyết đối với hệ thống pháp luật; trách nhiệm của Ủy ban về các vấn đề xã hội trong việc tham gia thẩm tra tra nhằm bảo đảm lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong các dự thảo luật, pháp lệnh, nghị quyết khi các văn bản này có nội dung liên quan đến bình đẳng giới.

Mục 4 - Uỷ ban thường vụ Quốc hội xem xét, cho ý kiến về dự án luật, dự thảo nghị quyết của Quốc hội (từ Điều 48 đến Điều 50): Mục này tập trung làm rõ trình tự, thủ tục Uỷ ban thường vụ Quốc hội xem xét, cho ý kiến vào dự án, dự thảo trước khi trình Quốc hội xem xét, thảo luận; trách nhiệm nghiên cứu, tiếp thu và chỉnh lý dự án, dự thảo theo ý kiến của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

Mục 5 - Thảo luận, tiếp thu, chỉnh lý và thông qua dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết (từ Điều 51 đến Điều 56): Mục này quy định cụ thể về trình tự, thủ tục xem xét, thông qua dự án luật, dự thảo nghị quyết tại một kỳ họp, hai kỳ họp của Quốc hội; về trình tự, thủ tục xem xét, thông qua dự án pháp lệnh, thảo nghị quyết tại một phiên họp, hai phiên họp của Uỷ ban thường vụ Quốc hội; bổ sung quy định về ngày thông qua luật, pháp lệnh, nghị quyết của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

Mục 6 – Công bố văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội: mục này quy định Chủ tịch nước ban hành lệnh để công bố luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội trong thời hạn chậm nhất là mười lăm ngày, kể từ ngày luật, pháp lệnh, nghị quyết được thông qua.

Chương IV, V, VI và VII- Quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Chủ tịch nước, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng Kiểm toán nhà nước và văn bản quy phạm pháp luật liên tịch (từ Điều 58 đến Điều 74)

Về cơ bản, các quy định về soạn thảo, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Chủ tịch nước, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, văn bản quy phạm pháp luật liên tịch tại Luật được giữ nguyên như Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật hiện hành. Luật chỉ bổ sung quy trình soạn thảo, ban hành văn bản quy phạm pháp luật do Tổng Kiểm toán nhà nước; bổ sung trách nhiệm của cơ quan chủ trì soạn thảo trong việc xây dựng bản thuyết minh chi tiết về dự thảo, xây dựng báo cáo đánh giá tác động của dự thảo văn bản, trách nhiệm chỉnh lý, hoàn thiện dự thảo nghị định trước khi trình Chính phủ trong trường hợp còn có ý kiến khác nhau giữa các bộ, cơ quan ngang bộ về những vấn đề lớn thuộc nội dung của dự thảo (đối với dự thảo nghị định); bổ sung trách nhiệm nghiên cứu, tiếp thu ý kiến thẩm định và ý kiến của cơ quan, tổ chức, cá nhân để chỉnh lý dự thảo và báo cáo Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ (đối với dự thảo thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ); bổ sung quy định về việc đăng tải dự thảo trên Trang thông tin điện tử để cơ quan, tổ chức, cá nhân đóng góp ý kiến; rút ngắn thời gian thẩm định dự thảo nghị định của Chính phủ từ 30 ngày xuống còn 15 ngày, thời gian thẩm định quyết định của Thủ tướng Chính phủ từ 20 ngày xuống còn 10 ngày để việc ban hành văn bản được nhanh hơn, kịp thời hơn, đáp ứng yêu cầu quản lý, điều hành của Chính phủ.

Chương VIII– Xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật theo trình tự, thủ tục rút gọn ( từ Điều 75 đến Điều 77)

Luật bổ sung một chương quy định về xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật theo trình tự, thủ tục rút gọn, trong đó quy định rõ về các trường hợp được áp dụng trình tự, thủ tục rút gọn (Điều 74); trình tự, thủ tục xem xét, thông qua dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật theo trình tự, thủ tục rút gọn.

Chương IX - Hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật và nguyên tắc áp dụng, công khai văn bản quy phạm pháp luật (từ Điều 78 đến Điều 84)

Chương này quy định cụ thể về các nguyên tắc xác định thời điểm có hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật; nguyên tắc đăng Công báo văn bản quy phạm pháp luật trước khi văn bản có hiệu lực để bảo đảm tính công khai, minh bạch của hệ thống pháp luật; các vấn đề về hiệu lực của văn bản như hiệu lực về trở về trước của văn bản, ngưng hiệu lực của văn bản, văn bản hết hiệu lực, hiệu lực về thời gian và không gian của văn bản; các nguyên tắc áp dụng văn bản quy phạm pháp luật.

Chương X - Giải thích luật, pháp lệnh (Điều 85 và Điều 86)

Về cơ bản, các quy định của Chương này được giữ nguyên như các quy định của Luật hiện hành về thẩm quyền của Uỷ ban thường vụ Quốc hội trong việc giải thích luật, pháp lệnh; việc xây dựng, ban hành nghị quyết giải thích luật, pháp lệnh.

Chương XI – Giám sát, kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật, hợp nhất văn bản và hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật ( từ Điều 87 đến Điều 93)

Chương này quy định về giám sát, kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật gồm các nội dung: giám sát, kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật; thẩm quyền của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội và các cơ quan của Quốc hội trong việc giám sát, xử lý văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái pháp luật; trách nhiệm của Chính phủ, Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ trong việc kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái pháp luật.

Để tạo điều kiện cho việc áp dụng, tra cứu văn bản được thuận lợi, tăng thêm tính minh bạch của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, tính rõ ràng của pháp luật, Luật bổ sung quy định về hợp nhất văn bản.

Để tạo điều kiện thuận lợi cho người dân dễ tra cứu, thực hiện pháp luật và áp dụng được chính xác các quy định của pháp luật; đồng thời, qua đó cũng phát hiện ra được các quy định của pháp luật còn chồng chéo để tiến hành sửa đổi, bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật, bên cạnh trách nhiệm rà soát, hệ thống hoá văn bản quy phạm pháp luật, Luật còn bổ sung quy định về việc pháp điển quy phạm pháp luật.

Chương XII - Điều khoản thi hành (Điều 94 và Điều 95)

Nội dung của Chương này quy định về kinh phí bảo đảm xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật; hiệu lực thi hành của Luật và quy định đối với những văn bản quy phạm pháp luật bao gồm nghị quyết của Chính phủ; chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ; quyết định, chỉ thị của Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ; văn bản liên tịch giữa Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ với cơ quan trung ương của tổ chức chính trị - xã hội được ban hành trước khi Luật này có hiệu lực thì vẫn tiếp tục có hiệu lực cho đến khi bị bãi bỏ, hủy bỏ hoặc được thay thế bằng văn bản quy phạm pháp luật khác.

II. NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA LUẬT BAN HÀNH VĂN VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT NĂM 2008 SO VỚI LUẬT BAN HÀNH VĂN VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT NĂM 1996 VÀ LUẬT SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT BAN HÀNH VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT NĂM 2002

Với mục đích nâng cao hiệu quả của công tác xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, tăng cường hội nhập kinh tế quốc tế và nâng cao hiệu quả, hiệu lực quản lý nhà nước, Luật đã sửa đổi một cách toàn diện quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật từ khâu lập dự kiến chương trình, soạn thảo, thẩm định, thẩm tra và thông qua văn bản theo hướng tăng cường trách nhiệm của các cơ quan tham mưu trong việc soạn thảo, thẩm định, thẩm tra, chỉnh lý dự thảo, cơ quan ban hành chỉ tập trung vào việc thảo luận và quyết định chính sách. Bên cạnh đó, Luật cũng bổ sung các quy định nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật, bảo đảm hệ thống pháp luật có chất lượng, công khai, minh bạch, dễ tiếp cận và có tính khả thi cao.

Sau đây là một số điểm mới quan trọng của Luật:

1. Về khái niệm văn bản quy phạm pháp luật và việc xử lý đối với văn bản không đúng thẩm quyền, hình thức

Điều 1 của Luật quy định: Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản do cơ quan nhà nước ban hành hoặc phối hợp ban hành theo thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục được quy định trong Luật này hoặc trong Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, trong đó có quy tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt buộc chung, được Nhà nước bảo đảm thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội.

Văn bản do cơ quan nhà nước ban hành hoặc phối hợp ban hành không đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục được quy định trong Luật này hoặc trong Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân thì không phải là văn bản quy phạm pháp luật.

Nhằm hạn chế tình trạng nhiều trường hợp mặc dù không phải là văn bản quy phạm pháp luật và cũng không được ban hành theo quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật nhưng lại chứa đựng những quy tắc xử sự chung, bắt buộc mọi người phải thực hiện (như công văn, công điện... do một số cơ quan ban hành) và trường hợp mặc dù luật, pháp lệnh quy định giao cho một cơ quan cụ thể ban hành văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành, nhưng cơ quan đó lại ủy quyền cho cơ quan cấp dưới ban hành văn bản, Luật bổ sung quy định văn bản ban hành không theo thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục do Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật hoặc Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân quy định thì không được coi là văn bản quy phạm pháp luật (khoản 2 Điều 1); cơ quan được giao ban hành văn bản quy định chi tiết không được uỷ quyền tiếp (khoản 2 Điều 8).

2. Về các loại văn bản quy phạm pháp luật

Theo quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của nước ta bao gồm hơn 20 loại văn bản, do nhiều cơ quan có thẩm quyền khác nhau ban hành; mỗi cơ quan ban hành từ 2 đến 3 loại văn bản. Điều này làm cho hệ thống văn bản quy phạm pháp luật rất phức tạp, việc theo dõi, áp dụng và xác định thứ bậc hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật gặp không ít khó khăn, đặc biệt là khó xác định được khi nào, về vấn đề gì thì cần ban hành văn bản quy phạm pháp luật dưới hình thức nào.

Nhằm khắc phục tình trạng nêu trên, đơn giản hóa hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, Điều 2 của Luật quy định một số cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản chỉ ban hành văn bản quy phạm pháp luật dưới một hình thức văn bản. Theo đó, Chính phủ chỉ ban hành văn bản quy phạm pháp luật dưới một hình thức - nghị định, thay vì nghị quyết và nghị định; Thủ tướng Chính phủ chỉ ban hành văn bản quy phạm pháp luật dưới một hình thức - quyết định, thay vì chỉ thị và quyết định; Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Toà án nhân dân tối cao chỉ ban hành văn bản quy phạm pháp luật dưới một hình thức - thông tư, thay vì quyết định, chỉ thị, thông tư như trước đây.

Để phù hợp với quy định của Luật Kiểm toán, Luật bổ sung thẩm quyền của Tổng Kiểm toán Nhà nước trong việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật dưới hình thức quyết định.

Bên cạnh đó, Luật cũng quy định hướng giải quyết đối với nghị quyết của Chính phủ, chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ, quyết định, chỉ thị của Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ; văn bản liên tịch giữa Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ với cơ quan trung ương của tổ chức chính trị- xã hội được ban hành trước khi Luật có hiệu lực. Theo đó, các văn bản này vẫn tiếp tục có hiệu lực cho đến khi bị bãi bỏ, huỷ bỏ hoặc được thay thế bằng văn bản quy phạm pháp luật khác.

Như vậy, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật bao gồm các loại văn bản sau đây:

- Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội.

- Pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

- Lệnh, quyết định của Chủ tịch nước.

- Nghị định của Chính phủ.

- Quyết định của Thủ tướng Chính phủ.

- Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, Thông tư của Chánh án Toà án nhân dân tối cao.

- Thông tư của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

- Thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ.

- Quyết định của Tổng Kiểm toán Nhà nước.

- Nghị quyết liên tịch giữa Uỷ ban thường vụ Quốc hội hoặc giữa Chính phủ với cơ quan trung ương của tổ chức chính trị - xã hội.

- Thông tư liên tịch giữa Chánh án Toà án nhân dân tối cao với Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; giữa Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; giữa các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ.

3. Các nguyên tắc bảo đảm khi xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật

Để việc soạn thảo, ban hành văn bản quy phạm pháp luật được hiệu quả, chất lượng, Luật đặt ra các nguyên tắc cần phải bảo đảm khi xây dựng, ban hành văn bản, gồm:

- Thứ nhất, bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của văn bản quy phạm pháp luật trong hệ thống pháp luật. Một trong những yêu cầu quan trọng hàng đầu của việc xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật là tạo ra được một hệ thống văn bản quy phạm pháp luật thống nhất, đồng bộ, bảo đảm tuân thủ tính tối cao của Hiến pháp và được ban hành theo đúng các quy định của pháp luật. Bởi vậy, nguyên tắc quan trọng nhất mà các cơ quan tham gia vào hoạt động soạn thảo, ban hành văn bản quy phạm pháp luật cần phải tuân thủ là bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của văn bản quy phạm pháp luật trong hệ thống pháp luật.

- Thứ hai, tuân thủ thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Nguyên tắc này đặt ra yêu cầu văn bản quy phạm pháp luật phải được ban hành đúng thẩm quyền, tức là chỉ có các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật theo quy định và trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình mới được ban hành văn bản dưới các hình thức tương ứng với thẩm quyền ban hành. Quá trình soạn thảo, ban hành văn bản quy phạm pháp luật phải bảo đảm tuân thủ đúng trình tự, thủ tục như thành lập ban soạn thảo, lấy ý kiến nhân dân, thẩm định, thẩm tra...

- Thứ ba, bảo đảm tính công khai trong quá trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật trừ trường hợp văn bản quy phạm pháp luật có nội dung thuộc bí mật nhà nước; bảo đảm tính minh bạch trong các quy định của văn bản quy phạm pháp luật.

- Thứ tư, bảo đảm tính khả thi của văn bản quy phạm pháp luật. Để văn bản quy phạm pháp luật thực sự đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước, là công cụ hiệu quả trong hoạt động quản lý, điều hành thì một trong những yêu cầu quan trọng là văn bản đó phải bảo đảm tính khả thi cao.

- Thứ năm, không làm cản trở việc thực hiện điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên. Đây là một nguyên tắc rất quan trọng trong việc bảo đảm tính phù hợp, thống nhất, đồng bộ của văn bản quy phạm pháp luật với các điều ước quốc tế có liên quan mà nước ta đã ký kết hoặc gia nhập.

4. Về bố cục, thể thức văn bản quy phạm pháp luật

Việc bố cục các văn bản quy phạm pháp luật hiện nay còn cứng nhắc, phần quy định chung thì quá dài, nhiều điều, khoản tương đối giống nhau giữa các văn bản, nhiều nội dung đã quy định ở văn bản khác vẫn quy định lại như các vấn đề về quản lý nhà nước, thanh tra, khiếu nại, tố cáo, khen thưởng, xử lý vi phạm v.v…

Để khắc phục tình trạng trên và bảo đảm sự thống nhất trong kỹ thuật xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, Luật quy định: các văn bản quy phạm pháp luật cần phải quy định trực tiếp vào nội dung cần điều chỉnh, không quy định chung chung, không quy định lại các nội dung đã được quy định trong văn bản quy phạm pháp luật khác; không quy định chương riêng về thanh tra, khiếu nại, tố cáo, khen thưởng, xử lý vi phạm với những quy định chung chung, viện dẫn mà không có nội dung mới; đối với văn bản có phạm vi điều chỉnh rộng thì tùy theo nội dung cần điều chỉnh có thể được bố cục theo phần, chương, mục, điều, khoản, điểm; đối với văn bản có phạm vi điều chỉnh hẹp thì bố cục theo các điều, khoản, điểm và các phần, chương, mục, điều trong văn bản phải có tiêu đề (các khoản 2 và 3 Điều 5).

Bên cạnh đó, Luật cũng quy định một số nội dung về thể thức văn bản quy phạm pháp luật, cụ thể là quy định về số, ký hiệu của văn bản quy phạm pháp luật. Theo đó, việc đánh số thứ tự của văn bản quy phạm pháp luật phải theo từng loại văn bản và năm ban hành. Đối với luật, pháp lệnh, nghị quyết của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội thì đánh số thứ tự theo từng loại văn bản và nhiệm kỳ của Quốc hội. Việc sắp xếp số, ký hiệu của văn bản quy phạm pháp luật như sau:

- Số, ký hiệu của luật, nghị quyết của Quốc hội được sắp xếp theo thứ tự như sau: "loại văn bản: số thứ tự của văn bản/năm ban hành/tên viết tắt của cơ quan ban hành văn bản và số khóa Quốc hội";

- Số, ký hiệu của pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội được sắp xếp theo thứ tự như sau: "loại văn bản: số thứ tự của văn bản/năm ban hành/tên viết tắt của cơ quan ban hành văn bản và số khóa Quốc hội";

- Số, ký hiệu của các văn bản quy phạm pháp luật không thuộc trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản này được sắp xếp theo thứ tự như sau: "số thứ tự của văn bản/năm ban hành/tên viết tắt của loại văn bản-tên viết tắt của cơ quan ban hành văn bản".

5. Nội dung văn bản quy phạm pháp luật

5.1. Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội

- Quốc hội làm Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp.

Việc soạn thảo, thông qua, công bố Hiến pháp, sửa đổi Hiến pháp và thủ tục, trình tự giải thích Hiến pháp do Quốc hội quy định.

- Luật của Quốc hội quy định các vấn đề cơ bản thuộc lĩnh vực kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh, tài chính, tiền tệ, ngân sách, thuế, dân tộc, tôn giáo, văn hoá, giáo dục, y tế, khoa học, công nghệ, môi trường, đối ngoại, tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, chế độ công vụ, cán bộ, công chức, quyền và nghĩa vụ của công dân.

- Nghị quyết của Quốc hội được ban hành để quyết định nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội; dự toán ngân sách nhà nước và phân bổ ngân sách trung ương; điều chỉnh ngân sách nhà nước; phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước; quy định chế độ làm việc của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, đại biểu Quốc hội; phê chuẩn điều ước quốc tế và quyết định các vấn đề khác thuộc thẩm quyền của Quốc hội.

5.2. Pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội

- Pháp lệnh của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định những vấn đề được Quốc hội giao, sau một thời gian thực hiện trình Quốc hội xem xét, quyết định ban hành luật.

- Nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội được ban hành để giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh; hướng dẫn hoạt động của Hội đồng nhân dân; quyết định tuyên bố tình trạng chiến tranh, tổng động viên hoặc động viên cục bộ; ban bố tình trạng khẩn cấp trong cả nước hoặc ở từng địa phương và quyết định những vấn đề khác thuộc thẩm quyền của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

5.3. Lệnh, quyết định của Chủ tịch nước

Lệnh, quyết định của Chủ tịch nước được ban hành để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch nước do Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định.

5.4. Nghị định của Chính phủ

Nghị định của Chính phủ được ban hành để quy định các vấn đề sau đây:

- Quy định chi tiết thi hành luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước;

- Quy định các biện pháp cụ thể để thực hiện chính sách kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh, tài chính, tiền tệ, ngân sách, thuế, dân tộc, tôn giáo, văn hoá, giáo dục, y tế, khoa học, công nghệ, môi trường, đối ngoại, chế độ công vụ, cán bộ, công chức, quyền, nghĩa vụ của công dân và các vấn đề khác thuộc thẩm quyền quản lý, điều hành của Chính phủ;

- Quy định nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các cơ quan khác thuộc thẩm quyền của Chính phủ;

- Quy định những vấn đề cần thiết nhưng chưa đủ điều kiện xây dựng thành luật hoặc pháp lệnh để đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước, quản lý kinh tế, quản lý xã hội. Việc ban hành nghị định này phải được sự đồng ý của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

5.5. Quyết định của Thủ tướng Chính phủ

Quyết định của Thủ tướng Chính phủ được ban hành để quy định các vấn đề sau đây:

- Biện pháp lãnh đạo, điều hành hoạt động của Chính phủ và hệ thống hành chính nhà nước từ trung ương đến cơ sở; chế độ làm việc với các thành viên Chính phủ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và các vấn đề khác thuộc thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ;

- Biện pháp chỉ đạo, phối hợp hoạt động của các thành viên Chính phủ; kiểm tra hoạt động của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Uỷ ban nhân dân các cấp trong việc thực hiện chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

5.6. Thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ

Thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ được ban hành để quy định các vấn đề sau đây:

- Quy định chi tiết thi hành luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước, nghị định của Chính phủ, quyết định của Thủ tướng Chính phủ;

- Quy định về quy trình, quy chuẩn kỹ thuật, định mức kinh tế - kỹ thuật của ngành, lĩnh vực do mình phụ trách;

- Quy định biện pháp để thực hiện chức năng quản lý ngành, lĩnh vực do mình phụ trách và những vấn đề khác do Chính phủ giao.

5.7. Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao

Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao được ban hành để hướng dẫn các Tòa án áp dụng thống nhất pháp luật.

5.8. Thông tư của Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao

- Thông tư của Chánh án Toà án nhân dân tối cao được ban hành để thực hiện việc quản lý các Toà án nhân dân địa phương và Toà án quân sự về tổ chức; quy định những vấn đề khác thuộc thẩm quyền của Chánh án Toà án nhân dân tối cao.

- Thông tư của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao được ban hành để quy định các biện pháp bảo đảm việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân địa phương, Viện kiểm sát quân sự; quy định những vấn đề khác thuộc thẩm quyền của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

5.9. Quyết định của Tổng Kiểm toán Nhà nước

Quyết định của Tổng Kiểm toán Nhà nước được ban hành để quy định, hướng dẫn các chuẩn mực kiểm toán nhà nước; quy định cụ thể quy trình kiểm toán, hồ sơ kiểm toán.

5.10. Văn bản quy phạm pháp luật liên tịch

- Nghị quyết liên tịch giữa Uỷ ban thường vụ Quốc hội hoặc giữa Chính phủ với cơ quan trung ương của tổ chức chính trị - xã hội được ban hành để hướng dẫn thi hành những vấn đề khi pháp luật quy định về việc tổ chức chính trị - xã hội đó tham gia quản lý nhà nước.

- Thông tư liên tịch giữa Chánh án Tòa án nhân dân tối cao với Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; giữa Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ với Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao được ban hành để hướng dẫn việc áp dụng thống nhất pháp luật trong hoạt động tố tụng và những vấn đề khác liên quan đến nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan đó.

- Thông tư liên tịch giữa các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ được ban hành để hướng dẫn thi hành luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước, nghị định của Chính phủ, quyết định của Thủ tướng Chính phủ có liên quan đến chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của bộ, cơ quan ngang bộ đó.

6. Văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành phải được ban hành để có hiệu lực cùng thời điểm có hiệu lực của văn bản, điều, khoản, điểm được quy định chi tiết

Để khắc phục tình trạng luật, pháp lệnh chờ nghị định, nghị định chờ thông tư…, cũng như tình trạng hướng dẫn thi hành luật, pháp lệnh một cách tràn lan, thậm chí sao chép lại các quy định của luật, pháp lệnh, các quy định của Luật đặt ra các yêu cầu sau đây:

- Văn bản quy phạm pháp luật phải quy định trực tiếp nội dung cần điều chỉnh, không quy định chung chung (khoản 2 Điều 5 của Luật).

- Văn bản quy phạm pháp luật phải được quy định cụ thể để khi văn bản đó có hiệu lực thì thi hành được ngay, chỉ trường hợp văn bản có nội dung liên quan đến quy trình, quy chuẩn kỹ thuật, những vấn đề chưa có tính ổn định cao thì có thể giao cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định chi tiết. Cơ quan được giao ban hành văn bản quy định chi tiết không được uỷ quyền tiếp (khoản 1 Điều 8 của Luật).

- Xác định trách nhiệm của cơ quan ban hành khi ban hành văn bản quy phạm pháp luật mới phải đồng thời sửa đổi, bổ sung, huỷ bỏ, bãi bỏ văn bản, điều, khoản, điểm của văn bản quy phạm pháp luật do mình đã ban hành trái với quy định của văn bản mới (dù là văn bản luật, pháp lệnh hay là văn bản quy định chi tiết); có trách nhiệm sửa đổi, bổ sung, huỷ bỏ, bãi bỏ văn bản, điều, khoản, điểm của văn bản đã ban hành trái với quy định của văn bản quy phạm pháp luật mới trước khi văn bản, điều, khoản, điểm mới đó có hiệu lực (khoản 2 Điều 9 của Luật).

- Văn bản quy định chi tiết phải quy định cụ thể, không lặp lại nội dung của văn bản được quy định chi tiết và phải được ban hành để có hiệu lực cùng thời điểm có hiệu lực của văn bản hoặc điều, khoản, điểm được quy định chi tiết (khoản 2 Điều 8 của Luật).

- Quy định cơ quan chủ trì soạn thảo dự án luật, pháp lệnh có trách nhiệm kiến nghị việc phân công cơ quan soạn thảo văn bản quy định chi tiết thi hành các điều, khoản, điểm của dự thảo (khoản 8 Điều 33 của Luật).

Như vậy, Luật đặt ra yêu cầu văn bản quy phạm pháp luật phải được quy định chi tiết, cụ thể, rõ ràng để khi có hiệu lực thì thi hành được ngay, hạn chế tình trạng giao Chính phủ ban hành quá nhiều văn bản hướng dẫn chi tiết và bỏ quy định giao Chính phủ ban hành nghị định để hướng dẫn toàn bộ nội dung của luật, pháp lệnh một cách chung chung. Các nội dung cần được quy định chi tiết phải được giới hạn cụ thể hơn và việc uỷ quyền ban hành văn bản quy định chi tiết phải tuân theo nguyên tắc cơ quan đã được giao ban hành văn bản quy định chi tiết phải ban hành văn bản, không được phép uỷ quyền tiếp cho cơ quan khác ban hành văn bản quy định chi tiết. Đồng thời, với yêu cầu việc ban hành văn bản quy định chi tiết phải được thực hiện trước khi văn bản, điều, khoản, điểm được quy định chi tiết có hiệu lực để có hiệu lực cùng thời điểm có hiệu lực của văn bản hoặc điều, khoản, điểm được quy định chi tiết, sẽ hạn chế được tình trạng văn bản quy định chi tiết được ban hành chậm, việc soạn thảo kéo dài làm ảnh hưởng đến hiệu lực của văn bản được hướng dẫn.

Ngoài ra, nhằm hạn chế tình trạng một cơ quan được giao nhiệm vụ quy định chi tiết nhiều nội dung của một văn bản quy phạm pháp luật phải ban hành nhiều văn bản để quy định chi tiết các nội dung đó, Luật quy định theo hướng trừ trường hợp cần phải quy định trong nhiều văn bản khác nhau, cơ quan được giao quy định chi tiết soạn thảo, ban hành một văn bản để quy định chi tiết các nội dung cần hướng dẫn thi hành. Trong trường hợp một cơ quan được giao quy định chi tiết các nội dung ở nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau thì có thể ban hành một văn bản khác để quy định chi tiết (khoản 3 Điều 8).

7. Nguyên tắc sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ, bãi bỏ hoặc đình chỉ việc thi hành văn bản quy phạm pháp luật

Văn bản quy phạm pháp luật chỉ được sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ hoặc bãi bỏ bằng văn bản quy phạm pháp luật của chính cơ quan nhà nước đã ban hành văn bản đó hoặc bị đình chỉ việc thi hành, huỷ bỏ hoặc bãi bỏ bằng văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Văn bản sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ, bãi bỏ hoặc đình chỉ việc thi hành văn bản khác phải xác định rõ tên văn bản, điều, khoản, điểm của văn bản bị sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ, bãi bỏ hoặc đình chỉ việc thi hành.

Khi ban hành văn bản quy phạm pháp luật, cơ quan ban hành văn bản phải sửa đổi, bổ sung, huỷ bỏ, bãi bỏ văn bản, điều, khoản, điểm của văn bản quy phạm pháp luật do mình đã ban hành trái với quy định của văn bản mới ngay trong văn bản mới đó; trong trường hợp chưa thể sửa đổi, bổ sung ngay thì phải xác định rõ trong văn bản đó danh mục văn bản, điều, khoản, điểm của văn bản quy phạm pháp luật do mình đã ban hành trái với quy định của văn bản quy phạm pháp luật mới và có trách nhiệm sửa đổi, bổ sung trước khi văn bản quy phạm pháp luật mới có hiệu lực.

Quy trình lập pháp, lập quy chặt chẽ, nhiều công đoạn là nhằm mục đích bảo đảm có sự tham gia của nhiều cơ quan, tổ chức, công dân, bảo đảm trách nhiệm của các cơ quan đối với chất lượng của dự án, dự thảo. Do vậy, việc lược bỏ một khâu nào trong quy trình này khi xây dựng một văn bản sửa đổi, bổ sung một văn bản đều khó thuyết phục mặc dù giữa việc soạn thảo một văn bản hoàn toàn mới với việc sửa đổi một vài điều hoặc chỉ rất ít điều, thậm chí 1 hoặc 2 điều là có sự khác nhau. Với trình tự soạn thảo, ban hành văn bản được quy định chặt chẽ, khi soạn thảo văn bản, mỗi Ban soạn thảo hoặc cơ quan chủ trì soạn thảo chỉ quan tâm đến việc soạn thảo hoặc sửa đổi, bổ sung một dự án, dự thảo. Việc sửa đổi, bổ sung văn bản quy phạm pháp luật thường áp dụng theo trình tự xây dựng, ban hành văn bản mới.

Việc nghiên cứu, sửa đổi đồng thời một lúc nhiều văn bản cho phép tuân thủ các bước tối thiểu của quy trình xây dựng, ban hành văn bản mà vẫn bảo đảm đúng chức năng, thẩm quyền của các cơ quan, đồng thời khắc phục được sự mâu thuẫn của hệ thống pháp luật, khắc phục được sự lãng phí về thời gian nghiên cứu, thời gian tổ chức soạn thảo, thông qua văn bản cũng như tiết kiệm kinh phí nghiên cứu, soạn thảo, ban hành văn bản.

Chính vì lý do trên, khoản 3 Điều 9 của Luật quy định “Một văn bản quy phạm pháp luật có thể được ban hành để đồng thời sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ, bãi bỏ nội dung trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật do cùng một cơ quan ban hành”. Như vậy, trong trường hợp có nhiều văn bản cần phải sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ, bãi bỏ do cùng một cơ quan ban hành, cơ quan đó chỉ cần ban hành một văn bản để sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ, bãi bỏ tất cả các nội dung đó mà không cần phải ban hành nhiều văn bản để sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ, bãi bỏ từng văn bản.

8. Về lập dự kiến chương trình xây dựng luật, pháp lệnh

- Về cơ bản, các quy định về lập chương trình xây dựng luật, pháp lệnh tại Luật sửa đổi được giữ nguyên như các quy định của Luật hiện hành. Luật chỉ tập trung vào việc làm rõ hơn nội dung của đề nghị, kiến nghị luật, pháp lệnh; thời hạn gửi đề nghi, kiến nghị; thời hạn thông qua chương trình xây dựng luật, pháp lệnh; quy trình lập dự kiến chương trình xây dựng luật, pháp lệnh và trách nhiệm của các cơ quan trong việc lập dự kiến chương trình, tổ chức thực hiện và theo dõi việc thực hiện chương trình xây dựng luật, pháp lệnh sau khi được thông qua.

- Về nội dung của đề nghị, kiến nghị xây dựng luật, pháp lệnh: Luật hiện hành mặc dù đã có những yêu cầu tương đối cụ thể, chặt chẽ đối với các đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh của các chủ thể có quyền đề xuất như phải nêu rõ sự cần thiết ban hành văn bản; đối tượng, phạm vi điều chỉnh của văn bản; những quan điểm, nội dung chính của văn bản; dự báo tác động kinh tế - xã hội; dự kiến nguồn lực bảo đảm thi hành và điều kiện bảo đảm cho việc soạn thảo văn bản. Tuy nhiên, đối với các kiến nghị về luật, pháp lệnh của đại biểu Quốc hội thì Luật không quy định phải bao gồm những nội dung nào. Bên cạnh đó, Luật hiện hành vẫn chưa quy định rõ mỗi đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh phải kèm theo đề xuất về chính sách pháp luật cơ bản của từng đề xuất. Điều này dẫn đến việc khó khăn cho cơ quan xét duyệt, quyết định có đưa vào chương trình hay không, việc xét duyệt các đề nghị để đưa vào chương trình chưa thực hiện được một cách đồng bộ, thống nhất, chính sách pháp luật đối với từng luật, pháp lệnh chưa được xác định ngay từ đầu.

Để khắc phục tình trạng này, Luật sửa đổi quy định theo hướng phân định rõ nội dung của đề nghị và kiến nghị luật, pháp lệnh: đối với đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh của cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội có quyền trình dự án luật quy định tại Điều 87 của Hiến pháp thì đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh phải nêu rõ sự cần thiết ban hành văn bản; đối tượng, phạm vi điều chỉnh của văn bản; những quan điểm, chính sách cơ bản, nội dung chính của văn bản; dự kiến nguồn lực, điều kiện bảo đảm cho việc soạn thảo văn bản; báo cáo đánh giá tác động sơ bộ của văn bản; thời gian dự kiến đề nghị Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội xem xét, thông qua. Đối với kiến nghị về luật, pháp lệnh của đại biểu Quốc hội thì kiến nghị phải nêu rõ sự cần thiết ban hành văn bản, đối tượng và phạm vi điều chỉnh của văn bản (khoản 1 Điều 23).

- Về thời hạn gửi đề nghị, kiến nghị luật, pháp lệnh: để việc lập dự kiến chương trình xây dựng luật, pháp lệnh được khoa học, chất lượng và nhằm tạo điều kiện cho cơ quan soạn thảo có nhiều thời gian cho việc chuẩn bị, góp phần nâng cao chất lượng của dự án luật, pháp lệnh, Luật sửa đổi quy định thời hạn gửi đề nghị, kiến nghị về luật, pháp lệnh sớm hơn quy định của Luật hiện hành. Theo đó, đề nghị, kiến nghị về luật, pháp lệnh hằng năm phải được gửi đến Uỷ ban thường vụ Quốc hội chậm nhất vào ngày 01 tháng 3 của năm trước; đề nghị, kiến nghị về luật, pháp lệnh nhiệm kỳ Quốc hội phải được gửi đến Uỷ ban thường vụ Quốc hội chậm nhất vào ngày 01 tháng 8 của năm đầu tiên của nhiệm kỳ Quốc hội. Các đề nghị, kiến nghị về luật, pháp lệnh cũng đồng thời được gửi đến Uỷ ban pháp luật để thẩm tra.

- Thời điểm thông qua chương trình xây dựng luật, pháp lệnh: Luật quy định Quốc hội quyết định chương trình xây dựng luật, pháp lệnh nhiệm kỳ Quốc hội tại kỳ họp thứ hai của mỗi khoá Quốc hội; quyết định chương trình xây dựng luật, pháp lệnh hằng năm tại kỳ họp thứ nhất của năm trước (khoản 3 Điều 22) thay vì thông qua tại kỳ họp thứ hai của năm trước như hiện nay nhằm tạo điều kiện cho cơ quan soạn thảo có nhiều thời gian cho việc chuẩn bị, góp phần nâng cao chất lượng của dự án luật, pháp lệnh.

- Quy trình lập dự kiến chương trình được quy định rõ ràng, cụ thể và khoa học nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả của chương trình, cụ thể:

+ Quy định cụ thể các bước Chính phủ lập đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh về những vấn đề thuộc phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình; giao Bộ Tư pháp có trách nhiệm giúp Chính phủ lập đề nghị về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh trên cơ sở đề xuất của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ (khoản 2, khoản 3 Điều 22).

+ Quy định cụ thể và chặt chẽ về quy trình, nội dung thẩm tra đề nghị, kiến nghị luật, pháp lệnh do Uỷ ban pháp luật thực hiện, trong đó yêu cầu nội dung thẩm tra tập trung vào sự cần thiết ban hành, phạm vi, đối tượng điều chỉnh, chính sách cơ bản của văn bản, tính đồng bộ, tính khả thi, thứ tự ưu tiên, điều kiện bảo đảm để xây dựng và thi hành văn bản; quy định trách nhiệm phối hợp của Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban của Quốc hội trong việc thẩm tra đề nghị, kiến nghị về luật, pháp lệnh và phát biểu ý kiến về sự cần thiết ban hành, thứ tự ưu tiên ban hành văn bản thuộc lĩnh vực do mình phụ trách (Điều 25).

+ Quy định cụ thể và chặt chẽ về quy trình Uỷ ban thường vụ Quốc hội lập dự kiến chương trình xây dựng luật, pháp lệnh (Điều 26), quy trình Quốc hội xem xét, thông qua dự kiến chương trình xây dựng luật, pháp lệnh; nội dung của chương trình xây dựng luật, pháp lệnh nhiệm kỳ và hằng năm của Quốc hội (Điều 27). Bên cạnh đó, Luật bổ sung quy định về trách nhiệm của Uỷ ban thường vụ Quốc vụ chỉ đạo và triển khai thực hiện chương trình xây dựng luật, pháp lệnh; trách nhiệm của Uỷ ban pháp luật có trách nhiệm giúp Uỷ ban thường vụ Quốc hội trong việc tổ chức triển khai thực hiện chương trình xây dựng luật, pháp lệnh; trách nhiệm của Bộ Tư pháp trong việc dự kiến cơ quan chủ trì soạn thảo, cơ quan phối hợp soạn thảo để trình Chính phủ quyết định và giúp Chính phủ đôn đốc việc soạn thảo các dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết do Chính phủ trình (Điều 28).

9. Về trình tự, thủ tục soạn thảo dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết

Ngoài các quy định mang tính nguyên tắc chung về ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Luật quy định chi tiết, cụ thể về thủ tục, trình tự xây dựng, ban hành luật, pháp lệnh, nghị quyết của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội. Về cơ bản, các quy định của Luật về trình tự, thủ tục xây dựng, ban hành luật, pháp lệnh, nghị quyết vẫn bao gồm các công đoạn như lập chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật; soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật; thẩm định, thẩm tra dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật; lấy ý kiến trong quá trình xây dựng văn bản; lấy ý kiến đại biểu Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội về dự án luật, pháp lệnh; thảo luận, thông qua dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật; công bố văn bản quy phạm pháp luật. Đồng thời, Luật sửa đổi tập trung sửa đổi các vấn đề cụ thể sau:

- Quán triệt tinh thần cải cách hành chính, Luật quy định thẩm quyền thành lập Ban soạn thảo và phân công cơ quan chủ trì soạn thảo theo hướng: Uỷ ban thường vụ Quốc hội thành lập Ban soạn thảo và phân công cơ chủ trì soạn thảo đối với các dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết có nội dung liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực, những dự án, dự thảo do Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, đại biểu Quốc hội trình; đối với dự án, dự thảo do Chính phủ trình thì Chính phủ giao cho một bộ hoặc cơ quan ngang bộ chủ trì soạn thảo và thành lập Ban soạn thảo; đối với các dự án, dự thảo do cơ quan khác, tổ chức trình thì cơ quan, tổ chức đó có trách nhiệm chủ trì soạn thảo và thành lập Ban soạn thảo (Điều 30);

- Về nhiệm vụ của Ban soạn thảo, cơ quan chủ trì soạn thảo, cơ quan trình dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết: Luật quy định theo hướng có sự phân định rõ ràng, cụ thể nhiệm vụ của Ban soạn thảo, cơ quan chủ trì soạn thảo, cơ quan trình dự án, dự thảo. Theo đó, Ban soạn thảo có trách nhiệm tổ chức việc soạn thảo và chịu trách nhiệm về chất lượng, tiến độ soạn thảo dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết trước cơ quan, tổ chức chủ trì soạn thảo (khoản 1 Điều 32); có nhiệm vụ xem xét, thông qua đề cương dự thảo luật, pháp lệnh, nghị quyết; thảo luận về chính sách cơ bản và những vấn đề thuộc nội dung của dự án, dự thảo; thảo luận về dự thảo văn bản, tờ trình, bản thuyết minh chi tiết về dự án, dự thảo; về nội dung giải trình, tiếp thu ý kiến của cơ quan, tổ chức, cá nhân... (khoản 2 Điều 32).

Cơ quan chủ trì soạn thảo có nhiệm vụ tổng kết việc thi hành pháp luật, đánh giá các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành có liên quan đến dự án, dự thảo; tổ chức lấy ý kiến các cơ quan, tổ chức có liên quan về dự án, dự thảo; tổng hợp và nghiên cứu, tiếp thu các ý kiến góp ý; nghiên cứu, tiếp thu ý kiến thẩm định... Bên cạnh đó, Luật bổ sung nhiệm vụ của cơ quan chủ trì soạn thảo trong việc tổ chức đánh giá tác động và xây dựng báo cáo đánh giá tác động của dự thảo văn bản, trong đó nội dung của báo cáo đánh giá tác động phải nêu rõ các vấn đề cần giải quyết và các giải pháp đối với từng vấn đề đó; chi phí, lợi ích của các giải pháp; so sánh chi phí, lợi ích của các giải pháp; chuẩn bị dự thảo, tờ trình, bản thuyết minh chi tiết về dự án, dự thảo; báo cáo giải trình, tiếp thu ý kiến của cơ quan, tổ chức, cá nhân; báo cáo đánh giá tác động của dự thảo văn bản và đăng tải các tài liệu này trên Trang thông tin điện tử của Chính phủ hoặc của cơ quan, tổ chức chủ trì soạn thảo, chuẩn bị những nội dung cơ bản và những vấn đề còn có ý kiến khác nhau của dự án, dự thảo do Chính phủ trình để báo cáo Chính phủ xem xét, quyết định; kiến nghị phân công cơ quan soạn thảo văn bản quy định chi tiết các điều, khoản, điểm của dự thảo; bảo đảm điều kiện hoạt động của Ban soạn thảo, Tổ biên tập (Điều 33).

Cơ quan trình dự án, dự thảo có nhiệm vụ chỉ đạo Ban soạn thảo trong quá trình soạn thảo; đối với dự án, dự thảo do Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ trình thì chỉ đạo cơ quan chủ trì soạn thảo; xem xét, quyết định việc trình Quốc hội dự án luật, dự thảo nghị quyết, trình Uỷ ban thường vụ Quốc hội dự án pháp lệnh, dự thảo nghị quyết. Trong trường hợp chưa thể trình dự án, dự thảo theo đúng tiến độ của chương trình xây dựng luật, pháp lệnh thì phải kịp thời báo cáo Uỷ ban thường vụ Quốc hội xem xét quyết định và nêu rõ lý do (Điều 34).

10. Về thẩm tra của Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban của Quốc hội

Để nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu quả hoạt động thẩm tra của Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban của Quốc hội đối với dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết trong việc bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất của dự thảo với hệ thống pháp luật, bảo đảm lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong các dự án, dự thảo, Luật quy định rõ nội dung, phương thức thẩm tra dự án, dự thảo trước khi trình Quốc hội. Theo đó, bên cạnh việc quy định về các vấn đề như cơ quan chủ trì thẩm tra, nội dung, phương thức thẩm tra, báo cáo thẩm tra, hồ sơ dự án, dự thảo gửi thẩm tra..., Luật còn quy định rõ trách nhiệm của Uỷ ban pháp luật trong việc tham gia thẩm tra nhằm bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của các dự thảo luật, pháp lệnh, nghị quyết đối với hệ thống pháp luật (Điều 46); trách nhiệm của Ủy ban về các vấn đề xã hội trong việc tham gia thẩm tra nhằm bảo đảm lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong các dự thảo luật, pháp lệnh, nghị quyết khi các văn bản này có nội dung liên quan đến bình đẳng giới (Điều 47). Đồng thời, để nâng cao hơn nữa trách nhiệm của Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội đối với các dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết do các cơ quan khác của Quốc hội chủ trì thẩm tra, Luật bổ sung quy định Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban của Quốc hội có trách nhiệm tổ chức thảo luận, góp ý kiến bằng văn bản vào các dự án, dự thảo do các cơ quan khác của Quốc hội chủ trì thẩm tra (đoạn 2 khoản 1 Điều 41). Quy định này đã đáp ứng được chủ trương tăng cường trách nhiệm của Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội trong hoạt động lập pháp, góp phần nâng cao chất lượng, đẩy nhanh tiến độ xem xét, thông qua các dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết.

11. Về thảo luận, tiếp thu, chỉnh lý và thông qua dự thảo luật, pháp lệnh, nghị quyết

Quy trình xem xét, thông qua luật, pháp lệnh, nghị quyết đã được sửa đổi tại Luật năm 2002, đến nay vẫn đang phát huy tác dụng tích cực, giúp Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội đẩy nhanh tiến độ xem xét thông qua luật, pháp lệnh, nghị quyết. Tuy nhiên, để tiếp tục cải tiến quy trình thảo luận, tiếp thu, chỉnh lý và thông qua dự án luật, pháp lệnh, nghị quyết, trong đó cần quy định cụ thể hơn về giai đoạn chỉnh lý, hoàn thiện dự thảo luật, pháp lệnh, nghị quyết sau khi đã được Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội cho ý kiến, Luật đã bổ sung một số quy định nhằm làm rõ hơn trách nhiệm của cơ quan chủ trì thẩm tra trong việc chuẩn bị dự kiến những vấn đề quan trọng, những vấn đề còn có ý kiến khác nhau thuộc nội dung của dự án luật để trình Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Quốc hội biểu quyết làm cơ sở cho việc chỉnh lý (khoản 5 Điều 52, điểm d khoản 1 Điều 53); làm rõ hơn trách nhiệm của Thường trực cơ quan chủ trì thẩm tra trong việc chủ trì phối hợp với cơ quan, tổ chức trình dự án, dự thảo và các cơ quan hữu quan trong việc tổ chức nghiên cứu tiếp thu, chỉnh lý dự thảo (điểm a khoản 6 Điều 52, điểm a khoản 2 Điều 53, điểm đ khoản 2 và điểm b khoản 3 Điều 54); việc tổ chức rà soát, hoàn thiện về kỹ thuật văn bản để bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của các dự thảo văn bản với hệ thống pháp luật trước khi trình Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội biểu quyết thông qua (điểm b khoản 6 Điều 52, điểm d khoản 4 Điều 53, điểm e khoản 2 và điểm c khoản 3 Điều 54).

Đối với dự án luật, nghị quyết của Quốc hội được xem xét, thông qua theo trình tự tại hai kỳ họp Quốc hội, để tranh thủ tối đa ý kiến của các đại biểu Quốc hội, góp phần nâng cao chất lượng của dự án luật, giảm bớt thời gian Quốc hội xem xét, thông qua tại kỳ họp thứ hai, Luật đã bổ sung quy định chậm nhất là bốn mươi lăm ngày trước ngày khai mạc kỳ họp thứ hai, Uỷ ban thường vụ Quốc hội gửi dự thảo đã được chỉnh lý để lấy ý kiến của các Đoàn đại biểu Quốc hội; các Đoàn đại biểu Quốc hội có trách nhiệm tổ chức để các đại biểu Quốc hội thảo luận, góp ý kiến và gửi báo cáo góp ý kiến về Văn phòng Quốc hội chậm nhất là hai mươi ngày trước ngày khai mạc kỳ họp Quốc hội; cơ quan chủ trì thẩm tra phối hợp với cơ quan, tổ chức trình dự án và các cơ quan hữu quan có trách nhiệm nghiên cứu, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo và hoàn thiện báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo văn bản trình Ủy ban thường vụ Quốc hội (khoản 1 Điều 51).

Để tăng cường trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự thảo luật, pháp lệnh đối với dự án, dự thảo do mình trình, Luật sửa đổi đã quy định rõ tại phiên họp thảo luận, cho ý kiến vào dự án luật, dự thảo nghị quyết, trong quá trình thảo luận, đại diện cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án, dự thảo có trách nhiệm giải trình, làm rõ các vấn đề mà đại biểu Quốc hội nêu (khoản 4 Điều 52, điểm c khoản 1 Điều 53). Tại giai đoạn chỉnh lý dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết theo ý kiến của đại biểu Quốc hội, ý kiến của thành viên Uỷ ban thường vụ Quốc hội giữa hai kỳ họp, hai phiên họp, dưới sự chỉ đạo của Ủy ban thường vụ Quốc hội, cơ quan chủ trì thẩm tra, cơ quan, tổ chức trình dự án, dự thảo và các cơ quan hữu quan phối hợp để nghiên cứu, tiếp thu chỉnh lý dự thảo và chuẩn bị báo cáo giải trình tiếp thu, chỉnh lý. Trong trường hợp cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án, dự thảo có ý kiến khác với nội dung đã được chỉnh lý trong dự thảo thì ý kiến đó phải được nêu rõ trong báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo (điểm a khoản 3 Điều 53, điểm d khoản 2 Điều 54). Quốc hội sẽ tiếp tục thảo luận về những nội dung còn có ý kiến khác nhau của dự án, dự thảo (điểm b khoản 3 Điều 53); Uỷ ban thường vụ Quốc hội sẽ tiếp tục thảo luận về những vấn đề có ý kiến khác nhau thì Uỷ ban thường vụ Quốc hội biểu quyết về những vấn đề đó theo đề nghị của chủ tọa phiên họp trước khi biểu quyết thông qua dự thảo.

12. Trách nhiệm xây dựng báo cáo đánh giá tác động

Nhằm tiết kiệm thời gian, công sức, kinh phí và tăng cường hiệu quả của việc xây dựng và thực hiện chương trình xây dựng luật, pháp lệnh và chương trình xây dựng nghị định, tránh tình trạng đưa vào chương trình cả những văn bản mà tính thực tế, tính khả thi và tính hợp lý còn thấp, Luật quy định đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, nghị định phải được gửi kèm báo cáo đánh giá tác động sơ bộ của văn bản (khoản 1 Điều 23, khoản 1 Điều 59 của Luật).

Để cung cấp thêm thông tin cho cơ quan có thẩm quyền cũng như các đối tượng liên quan trong việc xem xét, thảo luận, thông qua văn bản, đồng thời, nhằm nâng cao trách nhiệm của cơ quan, tổ chức chủ trì soạn thảo phải bảo đảm chất lượng của dự thảo, Luật quy định cơ quan, tổ chức chủ trì soạn thảo văn bản có trách nhiệm xây dựng báo cáo đánh giá tác động của văn bản. Nội dung báo cáo phải nêu rõ được các vấn đề cần giải quyết và các giải pháp đối với từng vấn đề đó, chi phí, lợi ích của các giải pháp, so sánh chi phí- lợi ích của các giải pháp (khoản 2 Điều 33 và khoản 2 Điều 61 của Luật).

Đánh giá tác động pháp luật (Regulatory Impact Assesment- viết tắt là RIA) là một tập hợp các bước lôgíc hỗ trợ cho việc chuẩn bị các đề xuất chính sách. Nó bao gồm việc nghiên cứu sâu các hoạt động đi kèm với quá trình xây dựng chính sách và chính thức hóa các kết quả nghiên cứu bằng một bản báo cáo độc lập. Tiến hành RIA bao gồm việc trả lời một số câu hỏi chủ yếu sau: Đâu là bản chất, mức độ và sự phát triển của vấn đề? Đâu là các mục tiêu mà quốc gia theo đuổi? Đâu là các tác động về môi trường, xã hội và kinh tế của các lựa chọn chính sách? Đâu là ưu và nhược điểm của các lựa chọn chính sách chính? Việc giám sát và đánh giá về sau được tổ chức như thế nào?

Thực hiện RIA là bảo đảm, thu hút sự tham gia của công chúng vào quá trình hoạch định chính sách. Quá trình thực hiện RIA giúp cơ quan soạn thảo có cái nhìn tổng thể, toàn diện về vấn đề sẽ được giải quyết trong văn bản, trong đó bao gồm những đánh giá mặt được mặt hạn chế của các phương án đưa ra; từ đó tham mưu cho cơ quan có thẩm quyền hướng giải quyết đúng và sát thực hơn. Về phía cơ quan ban hành, RIA chính là nguồn cung cấp thông tin đầy đủ, toàn diện về các phương án lựa chọn, không lựa chọn – làm cơ sở để các thành viên Chính phủ, đại biểu Quốc hội, thảo luận, quyết định phương án giải quyết vấn đề một cách phù hợp, hiệu quả và kinh tế.

Đứng về mặt ban hành chính sách mang tính vĩ mô, RIA mang lại những kết quả sau đây:

Thứ nhất: giảm bớt rủi ro các lỗi về chính sách, vì các cơ quan có thẩm quyền đã:

- Xác định được mục tiêu của việc ban hành văn bản;

- Đánh giá tác động đầy đủ sự thay đổi dự kiến;

- Xác định và đánh giá các phương án lựa chọn để đạt được mục tiêu;

- Đảm bảo tính hài hoà, thống nhất với các phương án đang sử dụng;

- Biết trước là liệu lợi ích có lớn hơn chi phí hay không;

- Đảm bảo quá trình xây dựng chính sách có sự tham gia của người dân và đảm bảo tính minh bạch của việc xây dựng chính sách;

- Tính đến bảo đảm tuân thủ các thoả thuận quốc tế.

Thứ hai: cải thiện tình hình lạm phát về văn bản quy phạm pháp luật, vì văn bản chỉ được ban hành sau khi đã cân nhắc tương đối đầy đủ các tác động kinh tế – xã hội và thấy lợi ích của việc thi hành lớn hơn chi phí.

Về nguyên tắc, cơ quan nào đề xuất các biện pháp thực hiện thì cơ quan đó chịu trách nhiệm thực hiện RIA. Điều này không hạn chế quyền thuê các chủ thể khác đánh giá ở một số công đoạn nhất định, nhưng cơ quan đề xuất phải là người chịu trách nhiệm về nội dung đánh giá.

RIA là một quá trình gồm nhiều giai đoạn, từ lúc đề xuất xây dựng chương trình cho đến khi ban hành văn bản. Tuy nhiên, ở giai đoạn đề xuất đưa vào chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (tức là giai đoạn đánh giá để giúp xác định liệu có đưa vào chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật không), thì việc đánh giá chỉ dừng ở mức độ sơ bộ.

Trong quá trình soạn thảo văn bản, cơ quan được giao soạn thảo chịu trách nhiệm thực hiện RIA tổng thể (đánh giá tổng thể). Nội dung của bản đánh giá phải luôn luôn được bổ sung cùng với quá trình chỉnh lý dự thảo. Đặc biệt là sau giai đoạn thẩm định, giai đoạn trình, giai đoạn thẩm tra.

13. Công khai, minh bạch trong xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật và công bố, công khai văn bản quy phạm pháp luật

Công khai, minh bạch của hệ thống pháp luật nói chung cũng như trong xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật là vấn đề được đặc biệt quan tâm trong việc sửa đổi Luật lần này. Việc công khai, minh bạch từ khâu soạn thảo cho đến khâu ban hành không những giúp cho người dân sớm biết được định hướng chính sách, pháp luật trong tương lai để chuẩn bị các điều kiện cho việc thực hiện mà còn là một trong những kênh để người dân có thể tham gia vào hoạt động xây dựng thể chế, làm cho pháp luật phản ánh được sát hơn ý chí, nguyện vọng của nhân dân... Đây cũng là một nội dung quan trọng nhằm thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” đã được đề ra trong nhiều văn kiện của Đảng. Đồng thời, cũng là để thực hiện các cam kết của Việt Nam khi gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO). Do vậy, một nguyên tắc quan trọng mà Luật yêu cầu là phải công khai trong quá trình soạn thảo thông qua việc đăng tải toàn văn dự thảo văn bản quy phạm pháp luật trên Trang thông tin điện tử của Chính phủ hoặc của cơ quan, tổ chức chủ trì soạn thảo, trên các phương tiện thông tin đại chúng trong một thời gian nhất định để công chúng biết và tham gia ý kiến. Bên cạnh đó, Luật cũng đặt ra nguyên tắc khi soạn thảo, ban hành văn bản quy phạm pháp luật, các quy định của văn bản phải bảo đảm tính minh bạch, tức là ngay từng quy định của văn bản phải rõ ràng, cụ thể, đơn giản, dễ hiểu để tạo thuận lợi cho việc áp dụng, tránh tình trạng ban hành văn bản như hiện nay còn mập mờ, chung chung, gây ra nhiều cách hiểu khác nhau, dẫn đến khó áp dụng.

Luật quy định trong quá trình soạn thảo, toàn văn dự thảo văn bản quy phạm pháp luật phải được đăng tải trên Trang thông tin điện tử của Chính phủ hoặc của cơ quan, tổ chức chủ trì soạn thảo trong thời gian ít nhất là 60 ngày để cơ quan, tổ chức, cá nhân có thời gian tiếp cận, chủ động nghiên cứu, tham gia ý kiến (khoản 1 Điều 35, khoản 2 Điều 61, khoản 1 Điều 62, khoản 2 Điều 67, khoản 2 Điều 68, khoản 2 Điều 69, khoản 2 Điều 70, khoản 2 Điều 71, khoản 2 Điều 72, khoản 3 Điều 73 và khoản 3 Điều 74 của Luật); cơ quan tổ chức lấy ý kiến có trách nhiệm nghiên cứu các ý kiến góp ý để tiếp thu, chỉnh lý dự thảo văn bản.

Ngoài ra, Luật cũng quy định rõ nguyên tắc xác định thời điểm có hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật. Theo đó, thời điểm có hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật phải được quy định ngay trong văn bản nhưng không sớm hơn 45 ngày, kể từ ngày công bố hoặc ngày ban hành để các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thời gian chuẩn bị các điều kiện cần thiết để thực hiện (đoạn 1 khoản 1 Điều 78 của Luật); văn bản quy phạm pháp luật không đăng Công báo thì không có hiệu lực, trừ trường hợp văn bản có nội dung thuộc bí mật nhà nước và văn bản ban hành trong tình trạng khẩn cấp, văn bản được ban hành để kịp thời đáp ứng yêu cầu phòng chống thiên tai, dịch bệnh; văn bản quy phạm pháp luật đăng trên Công báo là văn bản chính thức và có giá trị như văn bản gốc (khoản 2 Điều 78 của Luật).

Bên cạnh đó, Luật quy định trách nhiệm của cơ quan ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong thời hạn chậm nhất là hai ngày làm việc, kể từ ngày công bố hoặc ký ban hành, phải gửi văn bản đến cơ quan Công báo để đăng Công báo; trách nhiệm của cơ quan Công báo phải đăng toàn văn văn bản quy phạm pháp luật trên Công báo chậm nhất là mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được văn bản (khoản 2 Điều 78 của Luật).

14. Trách nhiệm của các Bộ, cơ quan, tổ chức hữu quan trong việc phát biểu ý kiến về những vấn đề của dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết liên quan đến ngành, lĩnh vực do mình phụ trách

Nhằm nâng cao chất lượng dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết và tạo điều kiện cho các cơ quan có thẩm quyền có thêm cơ sở thuyết phục khi xem xét, đánh giá các quy định của dự án, dự thảo, Luật quy định các cơ quan, tổ chức hữu quan có trách nhiệm góp ý kiến bằng văn bản về dự án, dự thảo, trong đó, Bộ Tài chính có trách nhiệm góp ý kiến về nguồn tài chính, Bộ Nội vụ có trách nhiệm góp ý về nguồn nhân lực, Bộ Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm góp ý kiến về tác động đối với môi truờng, Bộ Ngoại giao có trách nhiệm góp ý kiến về sự tương thích với điều ước quốc tế có liên quan mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên (khoản 3 Điều 35 của Luật).

Cũng với mục đích nâng cao chất lượng của dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật, Luật bổ sung quy định về chỉnh lý, hoàn thiện dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội và dự thảo nghị định của Chính phủ trước khi trình Chính phủ. Theo đó, trong trường hợp còn có ý kiến khác nhau giữa các bộ, cơ quan ngang bộ về những vấn đề lớn thuộc nội dung của dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết, nghị định thì Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ triệu tập cuộc họp gồm đại diện lãnh đạo cơ quan chủ trì soạn thảo, Bộ Tư pháp, các bộ, cơ quan ngang bộ có liên quan để giải quyết trước khi trình Chính phủ xem xét, quyết định. Căn cứ vào ý kiến tại cuộc họp này, cơ quan chủ trì soạn thảo phối hợp với các cơ quan có liên quan tiếp tục chỉnh lý, hoàn thiện dự án, dự thảo để trình Chính phủ (Điều 38 và Điều 65 của Luật).

15. Xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật theo trình tự, thủ tục rút gọn

Quy trình soạn thảo, ban hành văn bản quy phạm pháp luật theo quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2002) là rất chặt chẽ, phải qua nhiều bước để bảo đảm chất lượng của văn bản. Tuy nhiên, quy trình này, nếu áp dụng cho tất cả các văn bản, thì sẽ cứng nhắc và thiếu hiệu quả, vì trên thực tế có những văn bản có nội dung sửa đổi, bổ sung đơn giản, là do hệ quả, tác động của các văn bản quy phạm pháp luật khác nhằm bảo đảm thống nhất với nội dung của các văn bản đã được ban hành trước đó; hoặc có những văn bản cần được ban hành trong trường hợp khẩn cấp, nhằm đáp ứng kịp thời yêu cầu quản lý nhà nước, bảo đảm lợi ích chung.

Vì vậy, Luật đã bổ sung một chương (Chương VIII, từ Điều 75 đến Điều 77 của Luật) quy định về xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật theo trình tự, thủ tục rút gọn. Luật quy định rõ việc áp dụng trình tự, thủ tục rút gọn chỉ được thực hiện trong trường hợp khẩn cấp hoặc cần sửa đổi ngay cho phù hợp với văn bản quy phạm pháp luật mới được ban hành. Đồng thời, thủ tục rút gọn cũng chỉ áp dụng đối với việc xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ. Thẩm quyền quyết định áp dụng thủ tục rút gọn được quy định như sau: Uỷ ban thường vụ Quốc hội quyết định việc áp dụng trình tự, thủ tục rút gọn trong xây dựng, ban hành pháp lệnh, nghị quyết của mình và trình Quốc hội xem xét quyết định việc áp dụng trình tự, thủ tục rút gọn trong xây dựng, ban hành luật, nghị quyết của Quốc hội; Chủ tịch nước quyết định việc áp dụng trình tự, thủ tục rút gọn trong xây dựng, ban hành lệnh, quyết định của Chủ tịch nước; Thủ tướng Chính phủ quyết định việc áp dụng trình tự, thủ tục rút gọn trong xây dựng, ban hành nghị định của Chính phủ và quyết định của mình. Bên cạnh đó, quy định rõ các bước, các khâu có thể được rút gọn khi áp dụng trình tự, thủ tục này (Điều 76 và Điều 77 của Luật). Tuy nhiên, để bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất, khả thi của văn bản, dù là soạn thảo theo quy trình rút gọn thì vẫn phải tiến hành thẩm định, thẩm tra dự thảo trước khi trình cơ quan có thẩm quyền.

16. Hiệu lực, nguyên tắc áp dụng văn bản quy phạm pháp luật

16.1. Thời điểm có hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật

Thời điểm có hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật được quy định trong văn bản nhưng không sớm hơn bốn mươi lăm ngày, kể từ ngày công bố hoặc ký ban hành.

Trường hợp văn bản quy phạm pháp luật quy định các biện pháp thi hành trong tình trạng khẩn cấp, văn bản được ban hành để kịp thời đáp ứng yêu cầu phòng, chống thiên tai, dịch bệnh thì có thể có hiệu lực kể từ ngày công bố hoặc ký ban hành nhưng phải được đăng ngay trên Trang thông tin điện tử của cơ quan ban hành và phải được đưa tin trên phương tiện thông tin đại chúng; đăng Công báo nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam chậm nhất sau hai ngày làm việc, kể từ ngày công bố hoặc ký ban hành.

16.2. Hiệu lực trở về trước của văn bản quy phạm pháp luật

- Chỉ trong những trường hợp thật cần thiết, văn bản quy phạm pháp luật mới được quy định hiệu lực trở về trước.

- Không được quy định hiệu lực trở về trước đối với các trường hợp sau đây:

+ Quy định trách nhiệm pháp lý mới đối với hành vi mà vào thời điểm thực hiện hành vi đó pháp luật không quy định trách nhiệm pháp lý;

+ Quy định trách nhiệm pháp lý nặng hơn.

16.3. Ngưng hiệu lực văn bản quy phạm pháp luật

- Văn bản quy phạm pháp luật bị đình chỉ việc thi hành thì ngưng hiệu lực cho đến khi có quyết định xử lý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền ra quyết định huỷ bỏ thì văn bản hết hiệu lực, nếu không huỷ bỏ thì văn bản tiếp tục có hiệu lực.

- Thời điểm ngưng hiệu lực, tiếp tục có hiệu lực của văn bản hoặc hết hiệu lực của văn bản phải được quy định rõ tại quyết định đình chỉ việc thi hành, quyết định xử lý văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

- Quyết định đình chỉ việc thi hành, quyết định xử lý văn bản quy phạm pháp luật phải được đăng Công báo, đưa tin trên các phương tiện thông tin đại chúng.

16.4. Những trường hợp văn bản quy phạm pháp luật hết hiệu lực

Văn bản quy phạm pháp luật hết hiệu lực toàn bộ hoặc một phần trong các trường hợp sau đây:

- Hết thời hạn có hiệu lực đã được quy định trong văn bản;

- Được sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế bằng văn bản mới của chính cơ quan nhà nước đã ban hành văn bản đó;

- Bị hủy bỏ hoặc bãi bỏ bằng một văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

16.5. Hiệu lực về không gian và đối tượng áp dụng

Văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan nhà nước trung ương có hiệu lực trong phạm vi cả nước và được áp dụng đối với mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân, trừ trường hợp văn bản có quy định khác hoặc điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác.

17. Rà soát, hệ thống hóa hệ thống quy phạm pháp luật

Theo quy định của Luật, cơ quan nhà nước trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm thường xuyên rà soát, định kỳ hệ thống hóa các văn bản quy phạm pháp luật; nếu phát hiện có quy định trái pháp luật, mâu thuẫn, chồng chéo hoặc không còn phù hợp với tình hình phát triển của đất nước thì tự mình hoặc kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền kịp thời sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ hoặc đình chỉ việc thi hành.

Cơ quan, tổ chức và công dân có quyền đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét việc sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ hoặc đình chỉ việc thi hành văn bản quy phạm pháp luật.

Theo đó, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có trách nhiệm rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật do Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ ban hành có liên quan đến chức năng quản lý ngành, lĩnh vực của Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ.

Tổ chức pháp chế Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ chủ trì, phối hợp với các đơn vị thuộc Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ rà soát, hệ thống hoá văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến quản lý ngành, lĩnh vực.

Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ có trách nhiệm:

- Ba năm một lần, tổ chức hệ thống hoá văn bản quy phạm pháp luật thuộc ngành, lĩnh vực mình quản lý để lập danh mục các văn bản còn hiệu lực, hết hiệu lực thi hành, bị bãi bỏ, huỷ bỏ hoặc thay thế bởi văn bản khác; danh mục văn bản ban hành còn hiệu lực, nhưng trong đó có những quy định cần được sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ, huỷ bỏ; gửi đăng Công báo danh mục các văn bản còn hiệu lực thi hành, danh mục văn bản hết hiệu lực thi hành, bị bãi bỏ, huỷ bỏ hoặc thay thế bởi văn bản khác thuộc ngành, lĩnh vực mình quản lý;

- Kịp thời đình chỉ việc thi hành, sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ, huỷ bỏ theo thẩm quyền hoặc kiến nghị các cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền đình chỉ việc thi hành, sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ, huỷ bỏ văn bản quy phạm pháp luật khi phát hiện trái pháp luật, không phù hợp với tình hình thực tiễn.

18. Hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật

Trong thực tế, có nhiều văn bản được sửa đổi, bổ sung nhiều lần hoặc có những văn bản được sửa đổi, bổ sung khá nhiều nội dung so với văn bản gốc. Điều này gây khó khăn cho quá trình thực hiện khi cùng một lúc phải có sự so sánh, đối chiếu trên nhiều văn bản để áp dụng cho một vấn đề.

Do vậy, để tạo điều kiện cho việc áp dụng, tra cứu văn bản được thuận lợi, tăng thêm tính minh bạch của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, tính rõ ràng của pháp luật, Luật bổ sung quy định về hợp nhất văn bản (Điều 92 của Luật). Hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật là việc đưa các nội dung của văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi, bổ sung vào văn bản quy phạm pháp luật được sửa đổi, bổ sung nhằm bảo đảm sự toàn vẹn về hình thức và nội dung của văn bản sau khi được sửa đổi, bổ sung. Việc hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật sau khi sửa đổi, bổ sung không được làm ảnh hưởng đến nội dung và hiệu lực của các văn bản quy phạm pháp luật được hợp nhất. Như vậy, việc hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật sau khi sửa đổi, bổ sung là một hoạt động thuần tuý có tính kỹ thuật, không tạo ra quy phạm pháp luật mới và cũng không tạo ra văn bản quy phạm pháp luật mới.

Theo quy định tại Điều 92 của Luật, văn bản sửa đổi, bổ sung một số điều của văn bản quy phạm pháp luật phải được hợp nhất về mặt kỹ thuật với văn bản được sửa đổi, bổ sung. Những vấn đề cụ thể của việc hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật, Luật giao cho Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định.

19. Pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật

Ở nước ta, có nhiều cơ quan được ban hành văn bản quy phạm pháp luật, và trên thực tế, các văn bản hướng dẫn thường được quan tâm hơn là văn bản được hướng dẫn vì các văn bản hướng dẫn thường gắn với thẩm quyền quản lý của một cơ quan hoặc hệ thống cơ quan cụ thể cũng như quy định những nội dung cụ thể mà các đối tượng thi hành văn bản phải tuân thủ. Trong khi đó, hệ thống quy phạm pháp luật hiện nay chưa được tập hợp theo từng chủ đề nên gây rất nhiều khó khăn cho công tác tra cứu và áp dụng, nhất là khó có thể biết được quy phạm pháp luật có còn hiệu lực hay không. Việc pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật không những tạo điều kiện thuận lợi cho người dân dễ tra cứu, thực hiện pháp luật mà còn giúp cho cán bộ, công chức trong thực thi nhiệm vụ, áp dụng được chính xác các quy định của pháp luật; đồng thời, qua đó cũng phát hiện ra được các quy định của pháp luật còn chồng chéo để đề xuất tiến hành sửa đổi, bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật. Kinh nghiệm thế giới cho thấy, với mục đích là tạo thuận lợi cho mọi đối tượng trong việc tra cứu, trích dẫn và áp dụng pháp luật việc pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật theo chủ đề thành những bộ pháp điển đã và đang được nhiều nước áp dụng.

Tuy nhiên, do đây là vấn đề mới, Việt Nam lại chưa có nhiều kinh nghiệm nên trong Luật chỉ quy định một số nguyên tắc tạo cơ sở pháp lý cho công tác pháp điển hoá và giao Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định cụ thể việc pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật (khoản 2 Điều 93 của Luật).

Luật Việt

Các tin tiếp
Luật thuế GTGT 2008    (29/12/2008)
Các tin trước
Luật Đấu thầu    (16/2/2008)
Luật Doanh nghiệp    (16/2/2008)
Luật Công an nhân dân    (16/2/2008)