Luật sửa đổi bổ xung một số điều Luật xuất bản
2:55' 29/12/2008


I. SỰ CẦN THIẾT PHẢI SỬA ĐỔI LUẬT XUẤT BẢN

1. Tình hình hoạt động xuất bản từ năm 2005 đến năm 2007

Luật xuất bản đ­­ược Quốc hội nư­­ớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 03 tháng 12 năm 2004 và đư­­ợc Chủ tịch nư­­ớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký lệnh công bố ngày 14 tháng 12 năm 2004.

Sau gần ba năm thực hiện, Luật xuất bản đã thể hiện rõ tinh thần đổi mới và cải cách hành chính của Đảng và Nhà nư­ớc, phân cấp mạnh cho cơ sở, giao quyền cho Giám đốc các nhà xuất bản chủ động thực hiện nhiệm vụ xuất bản và chịu trách nhiệm tr­ước pháp luật. Các quy định của Luật xuất bản cởi mở, được công luận và những người làm công tác xuất bản, in và phát hành sách đánh giá là thông thoáng, đáp ứng đư­ợc yêu cầu phát triển hoạt động xuất bản trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nư­ớc. Có thể khẳng định rằng Luật xuất bản đã thực sự đi vào đời sống xã hội, tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho hoạt động xuất bản phát triển và đạt đ­ược những thành tựu đáng ghi nhận trong những năm vừa qua.

1.1. Về lĩnh vực xuất bản

Trong ba năm (2005 – 2007), tốc độ phát triển của lĩnh vực xuất bản không ngừng tăng lên. Từ 47 Nhà xuất bản (năm 2004) đến nay cả nước đã có 55 Nhà xuất bản. Hàng năm, số lượng đầu sách, số bản in, bình quân số bản sách/1 người dân đều tăng, năm sau cao hơn năm trước, góp phần nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân.

Cùng với sự tăng trưởng về số lượng, chất lượng sách cũng có bước phát triển. Một số bộ sách lớn có giá trị đã ra mắt bạn đọc như V.I. Lênin Toàn tập (55 tập), Văn kiện Đảng Toàn tập (54 tập), Từ điển Bách khoa Việt Nam (4 tập), Tổng tập Văn học Việt Nam, Sử thi Tây Nguyên (54 tập). Nhân dịp kỷ niệm 30 năm ngày giải phóng niềm Nam, thống nhất đất nước, hai tác phẩm “Nhật ký Đặng Thuỳ Trâm” và “Mãi mãi tuổi hai mươi” được xuất bản với số lượng lớn đã khơi dậy và khích lệ lòng yêu nước, ý chí tự hào dân tộc, tinh thần sẵn sàng hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc của nhân dân ta, đặc biệt là thế hệ trẻ. Hình thức các sách ngày càng đa dạng, phong phú và đẹp hơn. Qua các cuộc triển lãm sách trong nước và quốc tế, hình thức trình bày và kỹ thuật in sách của Việt Nam tương đương với các nước trong khu vực Đông Nam Á.

Với những kết quả đạt được, công tác xuất bản đã đóng góp tích cực vào thành tựu chung của công cuộc đổi mới đất nước, giữ vững định hướng chính trị và ổn định xã hội; thúc đẩy công cuộc đổi mới ngày càng đạt hiệu quả cao, đáp ứng thiết thực nhu cầu văn hoá đọc và nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước. Nội dung xuất bản phẩm luôn bám sát và phục vụ có hiệu quả hai nhiệm vụ chiến lược của đất nước là xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đặc biệt, đã phục vụ kịp thời và có hiệu quả những sự kiện chính trị trọng đại của đất nước như Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X, bầu cử Quốc hội khoá XII và những ngày lễ lớn hàng năm của dân tộc.

1.2. Về lĩnh vực in

Lĩnh vực in có những tiến bộ đáng kể cả về số lượng và chất lượng ở tất cả các giai đoạn công nghệ trước in, in và sau in. Hiện nay cả nước có hơn 1.200 cơ sở in các loại. Sản lượng sản phẩm in tăng bình quân hơn 10%/năm, riêng năm 2007 đạt hơn 650 tỷ trang in 13 x 19 cm. Chất lượng các sản phẩm in có bước tiến khá nhanh, đặc biệt là các sản phẩm in cao cấp. Với thiết bị, công nghệ ngày càng hiện đại và trình độ tay nghề của công nhân được nâng cao, ngành in nước ta có thể đáp ứng được toàn bộ nhu cầu in với chất lượng cao của khách hàng ở trong nước và đang vươn ra in gia công cho nước ngoài.

1.3. Về lĩnh vực phát hành sách

Thực hiện chủ trương xã hội hoá, cả nước hiện có 129 doanh nghiệp phát hành sách thuộc ngành văn hoá – thông tin và giáo dục và đào tạo, khoảng hơn 12.000 cơ sở phát hành sách của tập thể và tư nhân. Vượt qua những khó khăn, thử thách ban đầu của cơ chế thị trưởng, các cơ sở phát hành sách đã từng bước thích nghi với cơ chế mới, đi dần vào ổn định và kinh doanh có hiệu quả. Nhiều cơ sở phát hành sách đã chủ động, sáng tạo trong tổ chức hoạt động kinh doanh để đạt hiệu quả kinh tế cao, số bản sách phát hành ngày một tăng, đặc biệt là sách in bằng một số tiếng dân tộc thiểu số, sách phục vụ vùng sâu, vùng xa được chú trọng hơn trước, nội dung và hình thức thiết thực hơn, phục vụ tốt công tác tuyên truyền thực hiện nhiệm vụ chính trị của Đảng và Nhà nước.

1.4. Một số mặt hạn chế

Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác xuất bản trong thời gian qua cũng gặp phải những thách thức không nhỏ khi Việt Nam đã gia nhập Công ước Berne và trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thưong mại thế giới (WTO), vì hầu hết các nhà xuất bản, các cơ sở in và phát hành của nước ta có quy mô nhỏ, tiềm lực kinh tế có hạn và thiếu kinh nghiệm làm ăn với nước ngoài. Do đó, đã xuất hiện những khó khăn và những quan hệ mới cần kịp thời tháo gỡ cho hoạt động xuất bản phát triển, trong đó tập trung vào một số vấn đề sau:

- Về quan hệ giữa phục vụ nhiệm vụ chính trị và nhiệm vụ sản xuất kinh doanh. Đây là mối quan hệ chủ yếu chi phối toàn bộ hoạt động của các nhà xuất bản. Hai nhiệm vụ trên có quan hệ hữu cơ với nhau, trong đó phục vụ nhiệm vụ chính trị là nhiệm vụ hàng đầu, còn nhiệm vụ sản xuất kinh doanh có vai trò hết sức quan trọng. Tuy nhiên, trong thời gian qua, một số nhà xuất bản giải quyết chưa tốt mối quan hệ này. Do quá coi trọng hiệu quả kinh tế, nên một số nhà xuất bản xa rời tôn chỉ, mục đích ( xuất bản sách tử vi, bói toán, mê tín dị đoan...), thậm chí sách có nội dung sai phạm về quan điểm chính trị, buộc cơ quan quản lý nhà nước phải xử lý ở những mức độ khác nhau, từ tạm đình chỉ phát hành để sửa chữa đến đình chỉ phát hành hoặc thu hồi.

- Do Luật xuất bản giao quyền cho Giám đốc nhà xuất bản chủ động trong việc thực hiện nhiệm vụ xuất bản, nên có hiện tượng nhận thức chưa đầy đủ của một số Giám đốc nhà xuất bản về thẩm quyền quyết định việc xuất bản sách, mà đã không dựa vào chức năng, nhiệm vụ chính trị của nhà xuất bản và của cơ quan chủ quản, tự động ra quyết định xuất bản không căn cứ vào kế hoạch xuất bản đã đăng ký và xác nhận của cơ quan quản lý nhà nước; giao cho tư nhân thực hiện toàn bộ quy trình biên tập - xuất bản sách, nhà xuất bản chỉ bán quyết định xuất bản và thu quản lý phí; sách in xong chưa nộp lưu chiểu đã phát hành...Một số nhà sách tư nhân cũng ngộ nhận rằng họ làm từ đầu đến cuối bản thảo để xuất bản sách, nên tên (và lô gô) của họ phải được xếp ngang với nhà xuất bản tại bìa 1 những sách liên kết. Thậm chí có ý kiến yêu cầu phải cho tư nhân thành lập nhà xuất bản, việc này hoàn toàn trái với quy định tại Điều 11 Luật xuất bản.

- Tình trạng vi phạm bản quyền trong nước và ngoài nước, sách sao chép nội dung lẫn nhau xảy ra khá nhiều và tình trạng in lậu đang diễn biến phức tạp, gây tác động xấu đến hoạt động xuất bản và làm thiệt hại về kinh tế đối với những nhà xuất bản làm ăn chính đáng.

- Sách đưa đến vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, hải đảo và sách phục vụ nhiệm vụ thông tin đối ngoại của Đảng và Nhà nước còn ít, cần có cơ chế và chính sách khuyến khích công tác phát hành sách cho các đối tượng này.

- Việc ban hành những văn bản hướng dẫn thi hành pháp luật về xuất bản, cơ chế chính sách hỗ trợ hoạt động xuất bản còn chậm và thiếu đồng bộ. Sự phối hợp giữa cơ quan chỉ đạo, cơ quan quản lý xuất bản với cơ quan chủ quản của nhà xuất bản còn thiếu chặt chẽ và kém hiệu quả; việc xử lý sai phạm trong hoạt động xuất bản chưa nghiêm, ở nhiều cấp có hiện tượng nể nang, né tránh, dẫn đến tình trạng vi phạm kéo dài, ảnh hưởng xấu đến hoạt động xuất bản.

Có thể nói do thiếu chế tài đủ sức răn đe, việc xử lý không nghiêm bất chấp những quy định của pháp luật là nguyên nhân chủ yếu làm nảy sinh những sai lầm, khuyết điểm trong hoạt động xuất bản hiện nay.

2. Yêu cầu sửa đổi, bổ sung Luật xuất bản hiện hành

Sau khi Luật xuất bản ra đời, Việt Nam đã gia nhập Công ước Berne và trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), tạo điều kiện thuận lợi cho ngành xuất bản Việt Nam hội nhập với khu vực và thế giới. Tuy nhiên, một số quy định của Luật xuất bản hiện hành sau 3 năm thực hiện không còn phù hợp với sự phát triển nhanh chóng của hoạt động xuất bản và những cam kết của Việt Nam khi gia nhập WTO, nên đòi hỏi cần phải sửa đổi cho phù hợp.

Mặt khác, vừa qua mô hình tổ chức mới của Chính phủ theo nhiệm kỳ Quốc hội khóa XII có sự thay đổi cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản, vì vậy cần phải sửa lại tên gọi các cơ quan đó.

II. QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO KHI SỬA ĐỔI, BỔ SUNG LUẬT XUẤT BẢN

Việc sửa đổi, bổ sung Luật xuất bản phải quán triệt các quan điểm chỉ đạo sau đây:

- Tiếp tục thể chế hoá các quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nư­ớc đối với hoạt động xuất bản thể hiện trong Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lấn thứ X, Chỉ thị số 42-CT/TW của Ban Bí thư­ Trung ­ương ngày 25 tháng 8 năm 2004 “Về nâng cao chất lư­ợng toàn diện của hoạt động xuất bản”.

- Bảo đảm sự phù hợp giữa những quy định của Luật xuất bản với những nội dung cam kết của Việt Nam khi gia nhập WTO. Đồng thời, rà soát lại toàn bộ những vấn đề bức xúc do thực tiễn hoạt động xuất bản đặt ra như­ng đủ điều kiện chín muồi để sửa đổi, bổ sung Luật xuất bản hoặc sửa đổi các văn bản hư­ớng dẫn thi hành Luật.

- Thể hiện tinh thần đổi mới và cải cách hành chính theo hư­ớng đơn giản hoá thủ tục hành chính, hình thành cơ chế quản lý mới, phân định rõ và đề cao trách nhiệm, quyền hạn, phát huy tính chủ động, sáng tạo của các chủ thể tham gia hoạt động xuất bản, in, phát hành sách, đồng thời nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà n­ước

III. NHỮNG NỘI DUNG CHÍNH CỦA LUẬT SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT XUẤT BẢN

1. Về nội dung

Sửa đổi, bổ sung 08 Điều của Luật xuất bản, cụ thể là:

1.1. Điều 18. Đăng ký kế hoạch xuất bản

Việc sửa đổi, bổ sung điều luật này cho phù hợp với thực tiễn trong việc đăng ký kế hoạch xuất bản của Nhà xuất bản với cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản và bổ sung quy định về thời hạn xác nhận việc đăng ký của Bộ Thông tin và Truyền thông. Cụ thể là, Điều 18 quy định việc đăng ký kế hoạch xuất bản của nhà xuất bản trước khi xuất bản; trách nhiệm, thời hạn xác nhận đăng ký kế hoạch xuất bản và việc ban hành mẫu đăng ký kế hoạch xuất bản của Bộ Thông tin và Truyền thông.

1.2. Điều 26: Thông tin ghi trên xuất bản phẩm

Điều luật này quy định về nguyên tắc các thông tin phải ghi trên xuất bản phẩm, còn vị trí cụ thể thì giao cho Chính phủ quy định đối với xuất bản phẩm dưới dạng sách và Giám đốc nhà xuất quyết định đối với xuất bản phẩm không phải là sách.

1.3. Điều 30, Điều 36, Điều 44: xử lý vi phạm trong lĩnh vực xuất bản, in, phát hành xuất bản phẩm:

Để tăng cường chế tài xử phạt đối với các hành vi vi phạm trong hoạt động xuất bản và phù hợp với thực tiễn, Luật sửa đổi, bổ sung lần này đã sửa đổi, bổ sung các Điều 30, 36 và 44 theo hướng quy định cụ thể các hành vi vi phạm và chế tài xử lý tương ứng để dễ áp dụng trong thực tiễn; dẫn chiếu những chế tài xử phạt theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ và pháp luật về hình sự đối với những hành vi cố tình vi phạm pháp luật, gây thiệt hại lớn cho các chủ thể tham gia hoạt động xuất bản. Đồng thời quy định trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản đối với quyết định xử lý của mình.

1.4. Điều 38. Cấp giấy phép hoạt động kinh doanh nhập khẩu xuất bản phẩm

Điều 38 Luật hiện hành quy định về việc cấp giấy phép hoạt động kinh doanh nhập khẩu xuất bản phẩm. Một trong những điều kiện để cơ sở phát hành xuất bản phẩm đ­ược cấp giấy phép hoạt động kinh doanh nhập khẩu xuất bản phẩm theo quy định tại điểm a, khoản 1 Điều luật này là “doanh nghiệp nhà nước”. Quy định trên không phù hợp với cam kết của Việt Nam khi gia nhập WTO. Vì vậy, Điều 38 được sửa đổi, bổ sung theo hướng tổ chức, cá nhân trong nước, tổ chức, cá nhân nước ngoài được nhập khẩu xuất bản phẩm vào Việt Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam và phù hợp với điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên. Điều kiện cấp giấy phép hoạt động kinh doanh nhập khẩu xuất bản phẩm gồm: Có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc giấy chứng nhận đầu tư; Người đứng đầu cơ sở kinh doanh phải thường trú tại Việt Nam, có văn bằng và có chứng chỉ hành nghề về phát hành xuất bản phẩm do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp; Trường hợp kinh doanh nhập khẩu sách, ngoài điều kiện quy định tại điểm a và điểm b khoản 2 Điều này, phải có đội ngũ nhân viên và cộng tác viên đủ năng lực thẩm định nội dung sách.

1.5. Điều 39. Nhập khẩu xuất bản phẩm để kinh doanh

Điều 39, Luật hiện hành quy định về “Kinh doanh nhập khẩu xuất bản phẩm” đã quy định tại khoản 1: Việc nhập khẩu xuất bản phẩm được thực hiện thông qua các cơ sở nhập khẩu xuất bản phẩm. Qua rà soát các cam kết của Việt Nam khi gia nhập WTO trong lĩnh vực xuất bản cho thấy quy định này là không phù hợp. Để sửa đổi quy định trên đồng thời vẫn đảm bảo công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động nhập khẩu xuất bản phẩm để kinh doanh, Điều 39 đã sửa đổi tên của điều luật, đồng thời quy định cụ thể: Việc nhập khẩu xuất bản phẩm để kinh doanh được thực hiện thông qua cơ sở có giấy phép hoạt động kinh doanh nhập khẩu xuất bản phẩm. Bên cạnh đó, điều luật này còn bổ sung, cụ thể hoá quy định về việc đăng ký danh mục xuất bản phẩm nhập khẩu của cơ sở nhập khẩu trước khi nhập khẩu xuất bản phẩm để kinh doanh; trách nhiệm, thời hạn xác nhận đăng ký danh mục xuất bản phẩm nhập khẩu và việc ban hành mẫu đăng ký danh mục xuất bản phẩm nhập khẩu của Bộ Thông tin và Truyền thông; quyền hạn của Bộ Thông tin và Truyền thông trong trường hợp phát hiện xuất bản phẩm có dấu hiệu vi phạm pháp luật Việt Nam, thì yêu cầu cơ quan xin phép nhập khẩu thẩm định nội dung xuất bản phẩm đó trước khi xác nhận đăng ký nhập khẩu hoặc khước từ xác nhận đăng ký nhập khẩu đối với xuất bản phẩm đó.

1.6. Điều 43. Hợp tác với nước ngoài về phát hành xuất bản phẩm

Điều 43 Luật hiện hành tại khoản 1 quy định: “Cơ sở phát hành xuất bản phẩm có tư­ cách pháp nhân đ­ược hợp tác với tổ chức, cá nhân nư­ớc ngoài dư­ới hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh hoặc liên doanh để kinh doanh xuất bản phẩm theo quy định của pháp luật”. Để phù hợp với cam kết của Việt Nam khi gia nhập WTO, Điều 43 Luật sửa đổi, bổ sung đã quy định cụ thể hơn về quyền được kinh doanh hoặc liên doanh để phát hành xuất bản phẩm tại Việt Nam như sau: “Cơ sở phát hành xuất bản phẩm có tư cách pháp nhân của Việt Nam, của nước ngoài được hợp tác kinh doanh hoặc liên doanh để phát hành xuất bản phẩm tại Việt Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam và phù hợp với điều ư­ớc quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên” (khoản 1).

Đối với việc đặt văn phòng đại diện của tổ chức nước ngoài trong lĩnh vực phát hành tại Việt Nam, nếu như Luật xuất bản hiện hành quy định một cách chung chung: “Việc đặt văn phòng đại diện của tổ chức nư­ớc ngoài tại Việt Nam trong lĩnh vực phát hành xuất bản phẩm thực hiện theo quy định của pháp luật Việt Nam và phải đư­ợc Bộ Văn hoá - Thông tin cấp giấy phép...” thì Luật xuất bản sửa đổi, bổ sung đã quy định rõ ràng hơn, cụ thể là: “Tổ chức nước ngoài được thành lập văn phòng đại diện tại Việt Nam để giới thiệu về tổ chức và sản phẩm của mình, xúc tiến các giao dịch về phát hành xuất bản phẩm theo quy định của pháp luật Việt Nam và phải đư­ợc Bộ Thông tin và Truyền thông cấp giấy phép”. Bên cạnh đó, thời hạn cấp giấy phép cũng tăng từ mười ngày (Luật hiện hành) lên thành ba mươi ngày (Luật sửa đổi, bổ sung) để Bộ Thông tin và Truyền thông cấp phép, sau khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ. Đây là thời hạn cần thiết để Bộ có thêm thời gian xác minh, củng cố thông tin, nghiên cứu kỹ lưỡng hơn trước khi ra quyết định cấp phép.

1.7. Dự báo một số tác động khi thực hiện cam kết với WTO

Trong cam kết của Việt Nam khi gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) về lĩnh vực xuất bản, in và phát hành xuất bản phẩm, Việt Nam không cam kết mở cửa cho nước ngoài tham gia vào lĩnh vực xuất bản và in xuất bản phẩm, mà chỉ cho phép tham gia vào lĩnh vực phát hành xuất bản phẩm tại Việt Nam. Cụ thể hơn, trong lĩnh vực phát hành xuất bản phẩm, Việt Nam cho phép tổ chức, cá nhân nước ngoài được nhập khẩu tất cả các loại xuất bản phẩm và chỉ được tham gia phát hành xuất bản phẩm (trừ sách) tại Việt Nam.

Việc cho phép tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam tham gia nhập khẩu xuất bản phẩm sẽ tạo ra những tác động tích cực, song cũng sẽ có những ảnh hưởng không tốt tới thị trường xuất bản phẩm, trong đó có thể có những xuất bản phẩm chứa đựng nội dung không phù hợp với lợi ích và pháp luật Việt Nam sẽ được đưa vào Việt Nam, đòi hỏi chúng ta phải tăng cường quản lý để hạn chế những mặt tiêu cực có thể xảy ra.

2. Sửa về hình thức, kỹ thuật văn bản

Thay toàn bộ cụm từ “Bộ Văn hóa - Thông tin” bằng cụm từ “Bộ Thông tin và Truyền thông” được đề cập trong Luật xuất bản năm 2004.

3. Về hiệu lực thi hành của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật xuất bản

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật xuất bản được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XII, kỳ họp thứ ba thông qua ngày 03 tháng 6 năm 2008 và sẽ có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2009.

IV. TỔ CHỨC THỰC HIỆN

- Bộ Thông tin và Truyền thông thành lập Ban Soạn thảo và Tổ Biên tập để xây dựng dự thảo “Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật xuất bản” trình Thủ tướng Chính phủ ký ban hành.

- Chuẩn bị mẫu “ Giấy đăng ký kế hoạch xuất bản” và “Giấy đăng ký danh mục xuất bản phẩm nhập khẩu” trình Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông ký ban hành.

- Về công tác tuyên truyền, phổ biến Luật.

+ Công bố toàn văn Luật trên các phương tiện thông tin đại chúng để giới thiệu rộng rãi với bạn đọc.

+ Xuất bản sách dưới dạng in toàn văn Luật, sách nghiên cứu, hỏi - đáp về Luật cho các đối tượng.

+ Thông qua các cuộc hội nghị sơ kết, tổng kết, các cuộc tập huấn, hội nghị ngành để bồi dưỡng về Luật và các văn bản hướng dẫn thi hành cho cán bộ, viên chức làm công tác xuất bản, in, phát hành sách và cán bộ quản lý của Sở Thông tin và Truyền thông các tỉnh, thành phố trong cả nước.

Luật Việt

Các tin tiếp
Các tin trước
Luật thuế GTGT 2008    (29/12/2008)
Luật Đấu thầu    (16/2/2008)
Luật Doanh nghiệp    (16/2/2008)