Những nội dung mới của Luật Khoáng sản (sửa đổi)
14:36' 28/1/2011
Luật Khoáng sản (sửa đổi) đã bổ sung 48 điều mới hoàn toàn về nội dung và sửa đổi, bổ sung 38 điều của Luật Khoáng sản năm 1996. Những nội dung mới của Luật Khoáng sản thể hiện trên một số nhóm vấn đề chính sau đây:

1. Về chiến lược, quy hoạch khoáng sản

Điểm mới trong Luật là đã bổ sung quy định về Chiến lược khoáng sản (Điều 9) nhằm định hướng phát triển ngành công nghiệp khai khoáng cũng như công tác lập quy hoạch khoáng sản nhằm khắc phục tình trạng chồng chéo trong công tác lập quy hoạch như hiện nay.

2. Về quy định khu vực khoáng sản

Đã bổ sung quy định cụ thể về tiêu chí xác định khu vực cấm hoạt động khoáng sản, khu vực tạm thời cấm hoạt động khoáng sản (Điều 28), khu vực dự trữ khoáng sản quốc gia (Điều 29); bổ sung quy định về khu vực có khoáng sản phân tán, nhỏ lẻ (Điều 27) làm cơ sở xác định thẩm quyền cấp giấy phép hoạt động khoáng sản của UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Luật cũng đã quy định rõ điều kiện khu vực hoạt động khoáng sản phải là khu vực có khoáng sản đã được điều tra cơ bản địa chất về khoáng sản và được cơ quan nhà nước có thẩm quyền khoanh định trong quy hoạch.

3. Các quy định về hoạt động khoáng sản

Thực hiện chủ trương cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực khoáng sản, Luật Khoáng sản (sửa đổi) đã bỏ quy định về khảo sát khoáng sản, chế biến khoáng sản, đồng thời lồng ghép nội dung hoạt động phân loại, làm giàu khoáng sản vào hoạt động khai thác khoáng sản. Để lựa chọn khu vực thăm dò khoáng sản, tổ chức, cá nhân chỉ cần có văn bản đồng ý của UBND tỉnh (Điều 37).

- Bổ sung quy định cụ thể về diện tích khu vực thăm dò (Điều 38); đề án thăm dò (Điều 39); điều kiện tổ chức hành nghề thăm dò khoáng sản (Điều 35); bỏ quyền được thừa kế quyền thăm dò khoáng sản (đối với cá nhân thăm dò); bổ sung mới các quy định chặt chẽ về điều kiện chuyển nhượng quyền thăm dò khoáng sản (Điều 43).

4. Các quy định về giấy phép hoạt động khoáng sản

Bổ sung quy định về lựa chọn nhà đầu tư thăm dò, khai thác khoáng sản; bổ sung quy định về việc cấp giấy phép khai thác khoáng sản chủ yếu thông qua hình thức đấu giá quyền khai thác khoáng sản (ở khu vực đã thăm dò cũng như ở khu vực chưa thăm dò khoáng sản). Trường hợp cấp phép không thông qua đấu giá thì phải xác định rõ khu vực hoạt động khoáng sản và phải được cấp có thẩm quyền cho phép.

- Bổ sung các quy định mới về nguyên tắc và điều kiện cấp giấy phép thăm dò khoáng sản (Điều 40), nguyên tắc và điều kiện cấp giấy phép khai thác khoáng sản (Điều 53) nhằm tránh tình trạng tùy tiện trong thẩm định hồ sơ cấp giáy phép thăm dò, khai thác khoáng sản, đồng thời lựa chọn được tổ chức, cá nhân có đủ năng lực, kinh nghiệm khi cấp phép. Việc cấp giấy phép thăm dò, khai thác khoáng sản cho hộ kinh doanh cũng phải bảo đảm theo các điều kiện do Chính phủ quy định.

- Đã bổ sung quy định về điều kiện chuyển nhượng quyền thăm dò khoáng sản, quyền khai thác khoáng sản (Điều 66) nhằm ngăn chặn tình trạng đầu cơ trong hoạt động khoáng sản. Thời hạn tối đa cho một giấy phép thăm dò khoáng sản cũng đã điều chỉnh từ 4 năm lên 8 năm để phù hợp với thực tiễn, nhất là đối với thăm dò khoáng sản kim loại. Thực hiện CCHC, đồng thời tránh tình trạng tùy tiện khi thực hiện thủ tục hành chính, đã quy định ngay trong Luật nội dung hồ sơ cấp, gia hạn, cho phép trả lại, chuyển nhượng quyền thăm dò khoáng sản, khai thác khoáng sản (các điều 47, 48,59 và Điều 60) và khai thác tận thu khoáng sản (Điều 70, Điều 71) cũng như hồ sơ thẩm định, phê duyệt trữ lượng khoáng sản (Điều 49, Điều 50). Nội dung chi tiết về thủ tục cấp, gia hạn, trả lại…đối với giấy phép thăm dò, khai thác khoáng sản, giấy phép khai thác tận thu khoáng sản giao cho Chính phủ quy định.

5. Về phân cấp thẩm quyền cấp phép

Để khắc phục những bất cập, hạn chế trong cấp giấy phép thăm dò, giấy phép khai thác trong thời gian qua tại nhiều địa phương, Luật đã quy định việc phân cấp theo hướng giảm bớt thủ tục hành chính, tăng cường trách nhiệm của chính quyền địa phương. Theo đó, giữ nguyên thẩm quyền cấp giấy phép thăm dò, khai thác khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường, than bùn và giấy phép khai thác tận thu khoáng sản của UBND cấp tỉnh; bỏ quy định giao cho UBND cấp tỉnh cấp giấy phép khai thác khoáng sản ở những khu vực quy hoạch ngoài khai thác khoáng sản của các nước và ngoài khu vực dự trữ tài nguyên khoáng sản quốc gia. Đồng thời, điều chỉnh quy định theo hướng tăng cường sự quản lý của Trung ương trong việc cấp phép: đối với các diện tích khu vực có khoáng sản phân tán, nhỏ lẻ chỉ phân cấp cho UBND cấp tỉnh cấp phép (thăm dò, khai thác khoáng sản) ở các khu vực đã được Bộ Tài nguyên và Môi trường khẳng định và công bố. Sự điều chỉnh này nhằm khắc phục những tồn tại trong quản lý hoạt động khoáng sản như ở nhiều nơi trong những năm vừa qua. Việc khẳng định các khu vực khoáng sản cần tiến hành sớm và chặt chẽ, một mặt tăng tính chủ động của các địa phương, mặt khác để quản lý có hiệu quả tài nguyên khoáng sản, nhất là những khoáng sản quý hiếm.

6. Tài chính về khoáng sản và đấu giá quyền khai thác khoáng sản

Điểm mới mang tính “đột phá” của Luật là sự thay đổi cơ bản cơ chế quản lý khoáng sản thông qua các quy định về tài chính, phù hợp với nền kinh tế thị trường. Xuất phát từ chế độ sở hữu toàn dân đối với khoáng sản và quyền đại diện chủ sở hữu toàn dân của Nhà nước, Luật quy định khoản thu khi Nhà nước cấp quyền khai thác khoáng sản cho các tổ chức, cá nhân được gọi là “Tiền cấp quyền khai thác khoáng sản” (Điều 77). Đây chính là một phần lợi ích mà chủ sở hữu được hưởng khi giao quyền khai thác khoáng sản cho tổ chức, cá nhân.

Việc xác định mức thu được căn cứ vào trữ lượng, chất lượng, điều kiện khai thác khoáng sản và do Chính phủ quy định và hướng dẫn cụ thể. Ngoài việc phải nộp tiền cấp quyền khai thác khoáng sản cho Nhà nước, tổ chức, cá nhân được phép khai thác khoáng sản còn phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ tài chính về thuế, phí, lệ phí theo quy định của pháp luật.

Một điểm mới cơ bản của Luật là về nguyên tắc, việc cấp quyền khai thác khoáng sản phải thực hiện trên cơ sở đấu giá quyền khai thác khoáng sản nhằm bảo đảm tính công khai, minh bạch, tăng thu cho ngân sách nhà nước (Điều 78). Tuy nhiên, có một số khu vực khoáng sản, loại khoáng sản khi cấp quyền khai thác không thể thông qua đấu giá, như khoáng sản có tính chiến lược, khoáng sản ở khu vực nhạy cảm về môi trường, về bảo đảm quốc phòng, an ninh, khu vực đã thăm dò trước ngày Luật có hiệu lực… Để giải quyết vấn đề này, Luật đã quy định việc cấp quyền khai thác khoáng sản không thông qua đấu giá được tiến hành ở khu vực khoáng sản do Thủ tướng Chính phủ quyết định trên cơ sở các tiêu chí do Chính phủ quy định để xem xét cụ thể.

Khi đấu giá quyền khai thác khoáng sản sẽ thực hiện ở cả khu vực chưa thăm dò khoáng sản và khu vực đã thăm dò khoáng sản. Trường hợp trúng đấu giá quyền khai thác khoáng sản ở khu vực chưa thăm dò khoáng sản thì tổ chức, cá nhân trúng đấu giá khai thác khoáng sản phải thực hiện việc thăm dò khoáng sản. Kết quả thăm dò khoáng sản do Hội đồng đánh giá trữ lượng khoáng sản quốc gia thẩm định, phê duyệt để bảo đảm lợi ích quốc gia.

7. Quản lý nhà nước về khoáng sản

Đây là nội dung quan trọng liên quan đến quản lý tài sản “khoáng sản” của Nhà nước và cũng là điểm mới của Luật, theo đó đã quy định cụ thể trách nhiệm quản lý nhà nước về khoáng sản của Bộ Tài nguyên và Môi trường (Điều 80), UBND các cấp (Điều 81)nhằm tăng cường hiệu quả công tác quản lý về khoáng sản tại cấp cơ sở.

Để bảo đảm sự thống nhất trong quản lý nhà nước về khoáng sản, tạo điều kiện chủ động cho Chính phủ trong công tác điều hành, về thẩm quyền lập, trình phê duyệt quy hoạch khoáng sản quy định Điều 10 đã không quy định cụ thể trách nhiệm của Bộ nào mà giao cho Chính phủ quy định, phân công cụ thể các bộ, ngành trong việc lập quy hoạch khoáng sản và hướng dẫn việc lập quy hoạch thăm dò, khai thác, sử dụng khoáng sản của địa phương.

8. Bảo vệ quyền lợi của địa phương và người dân nơi có khoáng sản được khai thác

Nhằm thực thi chính sách bảo đảm hài hòa lợi ích giữa “Nhà nước - Người dân - Doanh nghiệp”, Điều 5 của Luật đã quy định rõ hơn trách nhiệm của tổ chức, cá nhân khai thác khoáng sản đối với địa phương nơi có khoáng sản được khai thác như: hỗ trợ chi phí đầu tư nâng cấp, duy tu, xây dựng hạ tầng kỹ thuật sử dụng tronmg khai thác khoáng sản và xây dựng công trình phúc lợi; kết hợp khai thác với xây dựng hạ tầng kỹ thuật, bảo vệ, phục hồi môi trường…Mặt khác, Luật cũng quy định, nếu tổ chức, cá nhân khai thác khoáng sản gây thiệt hại đến hạ tầng kỹ thuật… thì tùy theo mức độ thiệt hại phải có trách nhiệm sửa chữa, duy tu, xây mới hoặc bồi thường; phải ưu tiên sử dụng lao động là người địa phương vào hoạt động có liên quan…

Tài liệu Văn phòng Chủ tịch nước
Các tin tiếp
Các tin trước