Tác động hội nhập đối với nền kinh tế sau hơn một năm Việt Nam gia nhập WTO
9:55' 11/6/2008

Gần một năm rưỡi. Quãng thời gian này chưa đủ dài để có thể đánh giá và nhìn nhận đầy đủ các tác động của việc gia nhập WTO đối với nền kinh tế Việt Nam. Tuy nhiên, hãy nhìn nhận một cách khách quan trên các khía cạnh: thương mại, đầu tư, ổn định kinh tế (trong đó có các vấn đề về lạm phát, cán cân thanh toán quốc tế, thu chi ngân sách, sự ổn định hệ thống ngân hàng và thị trường tài chính) và các vấn đề xã hội khác... có thể thấy “dấu ấn” của việc gia nhập WTO đối với nền kinh tế Việt Nam không phải là chưa thể “chỉ mặt đặt tên” được trong quãng thời gian qua.



WTO - tác nhân thúc đẩy

Một điều phải thừa nhận rằng, WTO không phải là điểm bắt đầu và kết thúc của quá trình hội nhập của Việt Nam. Sự nghiệp Đổi mới, phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập kinh tế quốc tế đã trải qua hơn 21 năm. Đồng thời với việc gia nhập WTO, nước ta cũng đã và đang tham gia nhiều hiệp định tự do thương mại khu vực với mức độ mở cửa cao hơn cam kết trong WTO, như: Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA); các khu vực mậu dịch tự do ASEAN + 1. Những khác biệt trong cam kết giữa các hiệp định thương mại có thể tạo ra hiệu ứng thương mại và đầu tư rất khác nhau. Biến động phức tạp của nền kinh tế toàn cầu cũng làm cho việc đánh giá tác động của việc gia nhập WTO đối với nền kinh tế trở nên khó khăn hơn. Tình hình phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam từ đầu năm 2007 đến nay còn là do tác động tương tác giữa quá trình gia nhập và thực hiện cam kết WTO với nhiều yếu tố chủ quan và khách quan khác. Như vậy, việc tham gia WTO chỉ là một sự nối tiếp trong một quá trình dài, có tác dụng thúc đẩy chứ không phải là yếu tố quyết định đối với nền kinh tế Việt Nam.

Tuy nhiên nói gì thì nói, sự biến động rất rõ rệt (với tất cả những mặt tích cực lẫn... hạn chế) của nền kinh tế Việt Nam trong hơn một năm qua dẫu thế nào cũng có sự tác động từ việc chúng ta gia nhập WTO. “Thực tế diễn biến của các chỉ số kinh tế - xã hội năm 2006 - 2007 và những tháng đầu năm 2008 có thể bước đầu giúp đánh giá tác động trực tiếp hay gián tiếp của việc gia nhập WTO”, đó là nhận định của đại diện lãnh đạo Bộ Kế hoạch và Đầu tư tại phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 5/2008 vừa qua.

Điều rõ ràng nhất là thời gian gần một năm rưỡi qua đã để lại những dấu ấn đáng ghi nhớ, không chỉ đối với “nhiều chỉ số thống kê khác biệt đáng kể so với những năm trước, mà còn là cả những vấn đề thực tiễn mới nảy sinh hay chưa lường hết” (nhận định của Bộ Kế hoạch và Đầu tư). Phân tích đúng tình hình, có thể giúp các nhà quản lý kinh tế đánh giá đúng hơn về nền kinh tế nước nhà và rút ra được nhiều bài học có ý nghĩa cho công tác hoạch định và thực thi chính sách.

Những tác động chưa được như kỳ vọng đối với nền kinh tế

Năm 2007 là năm đầu tiên nền kinh tế Việt Nam chính thức là thành viên của WTO. Tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu khá cao: 21,9%; chỉ có điều, sự bứt phá so với các năm trước như chúng ta mong đợi về thời kỳ “hậu WTO” đã không diễn ra, trong khi nhập khẩu gia tăng mạnh, dẫn đến nhập siêu lớn. Tuy nhiên, cũng có điểm đáng chú ý trong thời điểm này là tỷ trọng hàng tiêu dùng trong tổng kim ngạch nhập khẩu tuy còn nhỏ song đã tăng lên đáng kể so với năm 2006. Xu hướng này còn tiếp tục trong những tháng đầu năm 2008 cho đến nay như chúng ta đang thấy.

Các thống kê khác của Bộ Kế hoạch và Đầu tư cũng cho chúng ta thấy tổng đầu tư xã hội năm 2007 đạt tới 44% GDP. FDI bùng phát và đầu tư của khu vực doanh nghiệp nhà nước tăng rất mạnh (năm 2007 gần gấp hai lần so với năm 2006 theo giá thực tế). Vốn đầu tư nhà nước năm 2007 vẫn chiếm tỷ trọng tới 47,2% tổng vốn đầu tư xã hội. Tốc độ tăng trưởng GDP năm 2007 tiếp tục đà tăng trưởng của những năm trước đó và đạt 8,5%. Tuy nhiên, hiệu quả kinh tế thì lại chậm cải thiện. Nền kinh tế có xu hướng tiêu dùng nhiều hơn, tiết kiệm ít hơn và dựa nhiều hơn vào vốn nước ngoài. Tăng trưởng những tháng đầu năm 2008 có dấu hiệu chững lại một phần cũng xuất phát từ những nguyên nhân này.

Từ cuối năm 2007 đến giờ, chúng ta nói nhiều về vấn đề lạm phát với những lo ngại thực sự. Thực tế, nền kinh tế nước ta đã đối diện với lạm phát ngay từ nửa đầu năm 2007 để rồi tổng kết cuối năm cho thấy tỷ lệ lạm phát lên cao kỷ lục trong vòng 12 năm qua. Có nhiều nguyên nhân, song chính sự lúng túng, bất cập trong điều hành chính sách kinh tế vĩ mô (điều này đã được Chính phủ thừa nhận) trong bối cảnh hội nhập sâu rộng hơn và chu chuyển các luồng vốn gia tăng đã làm xấu thêm tình hình (thể hiện rõ nhất qua biến động kinh tế vĩ mô trong quý I/2008). Thống kê của Bộ Kế hoạch và Đầu tư cũng cho thấy cán cân tài khoản vãng lai năm 2007, khác hẳn năm 2006, thâm hụt lớn, tới 6,99 tỷ USD (hay 9,85% GDP). Thâm hụt cán cân vãng lai chủ yếu là do thâm hụt thương mại hàng hoá và thâm hụt từ đầu tư đều gia tăng đáng kể. Cán cân thanh toán quốc tế tổng thể thặng dư hơn 10 tỷ USD. Cán cân thương mại và vãng lai những tháng đầu năm 2008 tiếp tục xấu, trong khi khả năng tài trợ cho các khoản thâm hụt đó trở nên thiếu bền vững hơn.

Năm 2006 - 2007 cũng đã chứng kiến sự bùng nổ các hoạt động tài chính, ngân hàng. Các chỉ số đo độ sâu tài chính (như tín dụng/GDP và M2/GDP) và quy mô thị trường chứng khoán (như mức độ vốn hoá, số doanh nghiệp niêm yết, số công ty chứng khoán...) đều tăng cao. Hệ thống ngân hàng và thị trường tài chính Việt Nam đã có bước phát triển nhất định. Tuy nhiên, rủi ro tài chính và rủi ro bất ổn hệ thống Tài chính cũng tăng lên. Sự bất định còn hiện diện ngay trong việc thu ngân sách Nhà nước: năm 2007 thu ngân sách Nhà nước tăng (trong đó thu từ hoạt động xuất khẩu tăng do nhập khẩu tăng), nhưng theo đánh giá của các cơ quan chức năng và dự báo của các chuyên gia, tính bất định của thu ngân sách Nhà nước trong thời gian tới còn cao.

Tác động về mặt xã hội - chưa có nhiều điểm tích cực

Việc gia nhập WTO năm 2007 thực sự chưa để lại dấu ấn đáng kể đối với tạo việc làm. Số lao động có việc làm năm 2007 tăng 2,3% so với năm 2006, trong khi con số này của năm 2006 (so với năm 2005) là 2,7%. Tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị giảm, song tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên lại tăng. Bên cạnh đó, lạm phát cao đã làm giảm thu nhập thực tế của nhiều nhóm xã hội. Chúng ta thống kê: tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 15,5% năm 2006 xuống còn 14,8% năm 2007. Tuy nhiên, chuẩn nghèo đã tính toán vào năm 2005 đã không còn thích hợp với thực tế nền kinh tế - xã hội hiện tại, nhất là từ những tháng đầu năm 2008 này, khi lạm phát vẫn tiếp tục tăng cao. Tình trạng thiếu đói vẫn xảy ra ở một số vùng, nhất là những vùng bị thiên tai.

Rõ rệt nhất là sự phân hoá xã hội về thu nhập tăng. Một ví dụ là thu nhập của lao động trong các khu vực dịch vụ đòi hỏi nhiều kỹ năng (tài chính, ngân hàng...) tăng cao trong khi thu nhập của lao động ít kỹ năng trong ngành sử dụng nhiều lao động (vốn đã không cao) lại rất khó tăng do áp lực cạnh tranh hàng hoá trên thị trường rất quyết liệt.

Khách quan mà nói, khó có thể đánh giá chỉ bằng những con số thống kê và tác động của hội nhập kinh tế quốc tế đối với nền kinh tế Việt Nam trong gần một năm rưỡi qua, song ai cũng cảm nhận được thời cơ và những hiệu ứng mà hội nhập và WTO trực tiếp và gián tiếp mang lại về lâu về dài. Chúng ta phân tích, nhìn nhận và đánh giá đúng tình hình để rút ra những bài học kinh nghiệm, mới mong tận dụng được thời cơ và những hiệu ứng tích cực như chúng ta đã mong đợi, từ khi hội nhập sâu vào nền kinh tế quốc tế.

Nguồn: Báo Giáo dục và Thời đại

Các tin tiếp
Các tin trước