Nhìn lại chặng đường sau 2 năm gia nhập WTO: Biển lớn chứa nhiều... bão tố!
23:6' 10/1/2009
So với quãng đường 11 năm kể từ ngày Việt Nam nộp đơn xin gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) đến khi là thành viên chính thức thì 2 năm còn là quá ngắn ngủi. Tuy nhiên, việc đánh giá tác động của 2 năm đầu tiên gia nhập lại có vai trò và ý nghĩa rất quan trọng trong việc chúng ta nhìn nhận một cách thực chất hơn về những vấn đề mang tính dự đoán trước đây để có đưa ra những chiến lược và đối sách phù hợp hơn. Trên thực tế, "con tầu Việt Nam" đã thực sự "bơi" ngoài biển lớn, nhưng khi ngoái lại nhiều chuyên gia và các nhà hoạch định chính sách vẫn không ngần ngại thốt lên: Biển lớn thật nhiều bão tố...

Vừa ra biển đã gặp ... bão!

Nhìn lại một chặng đường không dài nhưng cũng đủ nói lên nhiều điều, Bộ trưởng Bộ Công Thương Vũ Huy Hoàng cho biết: "2 năm qua, chúng ta đã thực sự cảm nhận được những cơ hội do mở cửa thị trường, hòa nhập với trào lưu chung của thị trường thế giới, nhiều sản phẩm Việt Nam đã khẳng định được chỗ đứng trên thị trường toàn cầu. Nhưng đó cũng là một thời kỳ mà chúng ta ý thức được rất rõ ràng sự cạnh tranh khốc liệt trên tầm quốc tế, chúng ta có cơ hội nhìn lại chính mình để thấy được những yếu kém của nền kinh tế nói chung, của ngành công nghiệp và thương mại nói riêng".

Cũng nên nhìn nhận, sau một chặng đường kể từ khi gia nhập WTO năng lực sản xuất và kinh doanh của các ngành hàng đã tăng lên rõ rệt. Theo số liệu ước tính, năm 2008 tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tăng 31% so với năm 2007; kim ngạch xuất khẩu đạt 62, 9 tỷ USD (tăng 29,5% so với năm 2007); Kim ngạch nhập khẩu đạt 79, 9 tỷ USD (tăng 27,5% so với năm 2007). Trong đó một số mặt hàng ghi được dấu ấn như: hàng điện tử và linh kiện máy tính đạt 2, 7 tỷ USD, hàng dệt may đạt 9, 1 tỷ USD, sản phẩm gỗ đạt 2, 78 tỷ USD và cà phê đạt 2, 02 tỷ USD... Đây có thể xem là những con số đẹp trong thời gian qua khi mà các biến động phức tạp của nền kinh tế toàn cầu như sự thay đổi chóng mặt của giá năng lượng, lượng thực và nhiều loại nguyên liệu khác, cùng với sự khủng hoảng của hệ thống tài chính toàn cầu đã và đang lan tỏa hầu hết các nền kinh tế và thương mại thế giới. Các tác động này cũng là rất lớn đối với nền kinh tế và thương mại của Việt Nam vốn có quy mô nhỏ bé, đang phát triển ở trình độ thấp nhưng độ mở cao và đang phải mở cửa thị trường để thực hiện cam kết gia nhập WTO.

Tại cuộc Hội thảo mang tên: "Hai năm Việt Nam gia nhập WTO - Đánh giá tác động hội nhập kinh tế quốc tế", vừa được tổ chức mới đây tại Hà Nội, đã được rất nhiều chuyên gia, các nhà hoạch định chính sách nhìn nhận một cách thực tế những gì mà chúng ta đã được và mất sau 2 năm gia nhập WTO. Phát biểu tại cuộc hội thảo, GS. TS Lê Hữu Nghĩa, Giám đốc Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia HCM nhấn mạnh: "Do xuất phát điểm của nền kinh tế thấp, cạnh tranh quốc tế ngày càng quyết liệt, kinh tế thế giới có những biến động khó lường cũng như những yếu kém chủ quan nên bên cạnh những kết quả tích cực, nền kinh tế Việt Nam đã phải đối mặt với nhiều thách thức lớn như chỉ số giá tiêu dùng cao, nhập siêu lớn, chất lượng tăng trường của một số ngành chưa bền vững, năng lực cạnh tranh ở các cấp độ còn hạn chế".

GS.TS Lê Hữu Nghĩa cho rằng, tác động lớn nhất, dễ thấy nhất của việc gia nhập WTO đối với Việt Nam là cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu. Điều này cũng giống như việc vừa ra "biển lớn" đã gặp "bão", càng đòi hỏi con thuyền kinh tế Việt Nam phải chắc tay lái, vững tay chèo. "Cần cải thiện hơn nữa môi trường kinh doanh, môi trường đầu tư, khắc phục nhanh chóng những nút thắt như yếu kém của hạ tầng, nguồn nhân lực... Chỉ có như vậy, nền kinh tế mới đủ "sức khoẻ" để vượt qua sóng gió", GS.TS Nghĩa nói.

Cần gì cho cuộc chơi mới?

Theo Thứ trưởng Bộ Công Thương Lê Danh Vĩnh, việc mở cửa thị trường đã làm sự cạnh tranh tăng lên. Cảm nhận về sự khốc liệt trong cạnh tranh ngày càng rõ, khi nhiều khoản trợ cấp của Chính phủ cho một số ngành như ưu đãi về vốn, tín dụng, thuế, hỗ trợ lãi suất... phải bãi bỏ. Điều này khiến không ít ngành kinh tế gặp khó trong quá trình phát triển kinh doanh sản xuất. Bên cạnh đó, quy mô của doanh nghiệp Việt Nam chủ yếu là vừa và nhỏ, năng lực tài chính yếu kém, kỹ năng quản lý có hạn, trong khi sự liên kết của các ngành hàng trong nước còn rất nhiều hạn chế.

ông Vĩnh khẳng định, gia nhập WTO cũng đồng nghĩa với việc các doanh nghiệp trong nước phải thực thi quyền sở hữu trí tuệ, quy định nhãn mác, xuất xứ hàng hoá, nhất là các hàng rào kỹ thuật mới ngày càng tinh vi của một số thị trường lớn... những điều mà doanh nghiệp trong nước vẫn đang rất lúng túng. Xét ở khía cạnh chủ quan, nhiều ngành sản xuất trong nước không tranh thủ cơ hội để phát triển sản xuất, cải tiến công nghệ, mà vẫn quen trông chờ vào chính sách bảo hộ. Từ đó, đã dẫn đến thực tế hàng hoá trong nước luôn có giá cao hơn so với đối thủ cạnh tranh, khó tiêu thụ ở cả thị trường trong và ngoài nước.

Nhận định về những thách thức trước mắt, PGS.TS Trần Đình Thiên, quyền Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam cho rằng, năm 2009 sẽ là năm rất khó khăn cho kinh tế Việt Nam. Sự suy thoái của kinh tế thế giới sẽ tác động mạnh đến kinh tế trong nước, nhất là trong lĩnh vực xuất khẩu và đầu tư. Theo ông Thiên, nên coi  khoảng thời gian 2 năm sau khi gia nhập WTO là cơ hội lớn để đẩy mạnh cải cách, tạo lập các thể chế bền vững cho quá trình tăng trưởng lâu dài. "Đó chính là tầm nhìn cho một cuộc chơi lớn" - ông Thiên khẳng định.

Đề cập đến các giải pháp tận dụng cơ hội, vượt qua thách thức trong bối cảnh gia nhập WTO, Bộ trưởng Vũ Huy Hoàng khẳng định, các doanh nghiệp phải chủ động đa dạng hoá thị trường, phòng ngừa các biến động thường xuyên, đồng thời phải thay đổi cách thức tổ chức sản xuất kinh doanh từ mô hình khép kín sang mô hình chuỗi giá trị. Nâng cao giá trị gia tăng thông qua phát triển thương hiệu, nhãn hiệu hàng hoá của các doanh nghiệp, nâng cao vai trò của các hiệp hội, xây dựng chuẩn mực văn hoá kinh doanh... đều là những giải pháp quan trọng để biến việc gia nhập WTO thực sự trở thành cơ hội vàng.

Trần Quyết

Nguồn: Báo Đời sống & Pháp luật  
 

Các tin trước